ĐẠI HỌC UEH KHOA TÀI CHÍNH TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG Đề tài: Hiệp Ước Vốn Basel - Thực Trạng Áp Dụng Ở Việt Nam Và Bài Học Từ Kinh Nghiệm Của Mỹ GVHD: Nguyễn Quốc Anh Người thực hiện: Nhóm 2 1 MỤC LỤC ĐÁNH GIÁ LÀM VIỆC NHÓM.................................................................................................. 4 MỞ ĐẦU......................................................................................................................................... 6 DANH MỤC VIẾT TẮT ............................................................................................................... 7 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ƯỚC BASEL ......................................................... 8 1.1 Giới thiệu về ủy ban Basel .............................................................................................. 8 1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ủy ban Basel ........................................... 8 1.1.2 Mục đích và vai trò của Ủy ban Basel ..................................................................... 9 1.1.3 Sứ mệnh của Ủy ban Basel ................................................................................... 10 1.2 Nội dung cơ bản của các phiên bản Hiệp ước Basel .................................................. 10 1.2.1 Basel I : Hiệp định vốn Basel ................................................................................ 10 1.2.2 Basel II : Khuôn khổ mới ....................................................................................... 12 1.2.3 Basel III: Ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009 ......................... 14 1.3 So sánh các phiên bản Hiệp ước Basel ........................................................................ 17 1.4 Sự cần thiết phải triển khai Basel trong quản trị điều hành hệ thống NH .............. 18 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI BASEL TRONG HỆ THỐNG NH VIỆT NAM.............................................................................................................................................. 20 2.1. Khái quát về hệ thống NH Việt Nam .......................................................................... 20 2.1.1 Ngân hàng nhà nước Việt Nam (NHNNVN) ........................................................ 20 2.1.2 Các Ngân hàng thương mại (NHTM) ................................................................... 20 2.2. Lộ trình triển khai và thực hiện hiệp ước Basel tại hệ thống NH Việt Nam ........... 21 2.2.1 Giới thiệu về khung pháp lý ................................................................................... 21 2.2.2 Cách thức thực hiện trong thời gian vừa qua ....................................................... 22 2.2.3 Thực trạng triển khai Hiệp ước Basel vào hệ thống NH Việt Nam trong thời gian vừa qua .......................................................................................................................... 25 2.3. Nhận xét chung về tình hình triển khai hiệp ước Basel tại hệ thống NH Việt Nam. 29 2.3.1 Về mặt cơ hội .......................................................................................................... 30 2.3.2 Về mặt khó khăn ..................................................................................................... 32 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI BASEL TẠI HỆ THỐNG NH MỸ ............... 36 3.1 Khái quát về hệ thống NH Mỹ ..................................................................................... 36 3.1.1 Ngân hàng Liên bang Mỹ (FED)........................................................................... 36 3.1.2 Các Ngân hàng Thương mại (NHTM) .................................................................. 37 3.2 Lộ trình triển khai và thực hiện hiệp ước Basel tại hệ thống Ngân hàng Mỹ ......... 38 3.2.1 Giới thiệu về khung pháp lý ................................................................................... 38 2 3.2.2 Cách thức thực hiện trong thời gian vừa qua ....................................................... 39 3.2.3 qua Thực trạng triển khai Hiệp ước Basel vào hệ thống NH Mỹ trong thời gian vừa 42 3.3 Nhận xét chung về tình hình triển khai ...................................................................... 44 3.3.1 Về mặt cơ hội .......................................................................................................... 44 3.3.2 Về mặt khó khăn ..................................................................................................... 45 CHƯƠNG 4: BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ MỸ .................................................. 46 4.1 So sánh giữa việc triển khai Basel giữa Mỹ và Việt Nam.......................................... 46 4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực trạng của Mỹ..................................................... 46 3 ĐÁNH GIÁ LÀM VIỆC NHÓM STT Họ và tên 1 Công việc Trịnh Dương Kim Chi – - Tổng hợp bài tiểu luận 33231020108 Đánh giá (%) 100% - Thuyết trình - Chuẩn bị thuyết trình - Nội dung viết bài: + 1.2 Nội dung cơ bản của các phiên bản Hiệp ước Basel; + 1.3 So sánh các phiên bản Hiệp ước Basel + 2.2.1 Giới thiệu khung pháp lý ở Việt Nam + 3.2.1 Giới thiệu khung pháp lý ở Mỹ + Chương 4: Bài học kinh nghiệm 2 Nguyễn Thị Thu Trang - - Chuẩn bị nội dung thuyết 100% 33221020308 trình - Nội dung viết bài: + 1.4 Sự cần thiết phải triển khai Basel trong quản trị điều hành hệ thống NH + 2.1 Khái quát về hệ thống NH Việt Nam + 2.2.3 Thực trạng triển khai Hiệp ước Basel vào hệ thống NH Việt Nam trong thời gian vừa qua + 3.1 Khái quát về hệ thống NH Mỹ 4 + 3.2.3 Thực trạng triển khai Hiệp ước Basel vào hệ thống NH Mỹ trong thời gian vừa qua + Chương 4: Bài học kinh nghiệm 3 Nguyễn Thị Ngọc Mai - - Thuyết trình 35231024154 - Chuẩn bị thuyết trình 100% - Nội dung viết bài: + 1.1 Giới thiệu về ủy ban Basel + 2.2.2 Cách thức thực hiện Basel ở Việt Nam + 2.3 Nhận xét chung về tình hình triển khai hiệp ước Basel tại hệ thống NH Việt Nam + 3.2.2 Cách thức thực hiện Basel ở Mỹ + 3.3 Nhận xét chung về tình hình triển khai + Chương 4: Bài học kinh nghiệm 5 MỞ ĐẦU 1. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của bài tiểu luận này là tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích về thực trạng triển khai và tiếp cận Basel I, II, III của Việt Nam hiện nay đang diễn ra như thế nào. Bên cạnh đó, chọn Mỹ (một thành viên tiên phong của Ủy Ban Basel) để phân tích và so sánh cách áp dụng Basel từ đó so sánh và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. 2. Đối tượng nghiên cứu Về đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận: bài tiểu luận tập trung nghiên cứu cách thức triển khai, thực trạng và cách tiếp cận Basel ở Việt Nam. 6 DANH MỤC VIẾT TẮT Từ viết tắt Thuật ngữ NHTW Ngân hàng Trung ương NHTM Ngân hàng thương mại TCTD Tổ chức tín dụng TT Thông tư NHNN Ngân hàng Nhà nước 7 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ƯỚC BASEL 1.1 Giới thiệu về ủy ban Basel 1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ủy ban Basel Ủy ban Basel được thành lập vào năm 1974 bởi thống đốc ngân hàng trung ương của các nước G10. Hiện nay, các thành viên của Ủy ban này gồm các nuớc: Anh, Bỉ, Canada, Ðức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxemembourg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Ðiển, Thụy Sỹ và Ý. Các quốc gia được đại diện bởi ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng. Ủy ban này được tổ chức họp 4 lần trong một năm. Trong Ủy ban còn có 25 nhóm kỹ thuật và một số bộ phận khác đuợc tổ chức họp thường xuyên để thực hiện các nội dung công việc của Ủy ban. Hội đồng thư ký của Ủy ban Basel được thành lập bởi Ngân hàng Thanh toán Quốc tế ở Basel. Hội dồng thư ký có 15 thành viên là những nhà giám sát hoạt dộng ngân hàng chuyên nghiệp được bầu chọn từ các tổ chức tài chính thành viên. Ủy ban Basel sẵn sàng đưa ra những lời tư vấn cho các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng ở tất cả các nước. Ủy ban Basel không có bất kỳ một cơ quan giám sát nào và những kết luận của ủy ban này không có tính pháp lý và yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động ngân hàng. Thay vào dó, Ủy ban này chỉ xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất với mong muốn các ngân hàng quốc gia sẽ áp dụng trong điều kiện phù hợp với quốc gia của họ. Ủy ban Basel khuyến khích tiếp cận và áp dụng các tiêu chuẩn chung mà không can thiệp vào các kỹ thuật giám sát của các nước thành viên. Ủy ban này báo cáo cho thống đốc ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của nhóm G10. Một mục tiêu quan trọng trong công việc của Ủy ban này là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc tế. Ðể đạt được mục tiêu đề ra, từ năm 1975 đến nay, Ủy ban Basel đã ban hành rất nhiều văn bản, tài liệu liên quan đến vấn đề này. Vào năm 1988, Ủy ban dã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn như là Hiệp uớc vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I. Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu là 8%. Từ năm 1988,Basel I được áp dụng phổ biến trong các quốc gia thành viên và ở hầu hết các quốc gia khác trong các ngân hàng hoạt động quốc tế. Ủy ban Basel hợp tác chặt chẽ với nhiều ủy ban giám sát hoạt động ngân hàng của các nước không phải là thành viên. Vào năm 1997, Ủy ban Basel đã phát triển một tập hợp “Các nguyên tắc nòng cốt cho việc giám sát hoạt động ngân hàng hiệu quả”. Qua đó nó cung cấp một khung khổ cho hệ thống giám sát hiệu quả. 8 Vào tháng 10 năm 1999, để thúc đẩy cho việc thực hiện và đánh giá, Ủy ban đã xây dựng “Phương pháp luận các nguyên lý nòng cốt”. Tổng kết các nguyên lý nòng cốt và phương pháp luận hiện đang được triển khai. Vào tháng 06/1999, Ủy ban Basel đã đề xuất khung do lường mới với 3 trụ cột chính: (1) yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I; (2) sự xem xét giám sát của quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các tổ chức tài chính; và (3) sử dụng hiệu quả việc công bố thông tin nhằm làm mạnh kỷ luật thị truờng như là một sự bổ sung cho các nỗ lực giám sát. Tiếp đến, ngày 26/06/2004, Basel II được ban hành. Đây là nguồn tài liệu có thể làm cơ sở cho các quá trình phê duyệt và xây dựng luật lệ quốc gia về giám sát hoạt động ngân hàng và cho các ngân hàng hoàn chỉnh sự chuẩn bị của họ cho việc thực hiện các tiêu chuẩn mới. Cuộc cải cách hệ thống ngân hàng vẫn tiếp tục, nhất là sau khi xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 - 2009. Đến năm 2010, khuôn khổ Basel III được hình thành nhằm khắc phục những hạn chế của Basel trước và cung cấp thêm nền tảng bền vững, ngăn ngừa những tổn thất có thể xảy ra trong tương lai. Ủy ban Basel luôn khuyến khích sự liên lạc và hợp tác giữa các thành viên của Ủy ban và các tổ chức giám sát hoạt động ngân hàng khác. Ủy ban này thường xuyên gửi đến các nhà giám sát hoạt động ngân hàng các văn bản, tài liệu ấn hành chính thức và không chính thức. Ở một số nước không thuộc nhóm G10, các cơ quan giám sát tiền tệ cũng đã xây dựng các quy định về giám sát hoạt dộng ngân hàng của nước họ gắn với các sáng kiến của Ủy ban Basel. Nhằm tăng cường sự trao đổi, thảo quốc tế của các nhà giám sát hoạt động ngân hàng được tổ chức hai năm một lần bởi Ủy ban Basel. 1.1.2 Mục đích và vai trò của Ủy ban Basel Mục đích chính của Ủy ban Basel là tăng cường sự ổn định tài chính,thu hẹp khoảng cách trong phạm vi giám sát quốc tế để không cơ sở ngân hàng nào thoát khỏi sự giám sát; và việc giám sát sẽ đầy đủ và nhất quán giữa các khu vực pháp lý của thành viên. Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ của Ủy ban là tăng cường quy định, giám sát và thực hành các ngân hàng trên toàn thế giới. Ủy ban thiết lập các khuyến nghị và tiêu chuẩn trên nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả những khuyến nghị được công nhận rộng rãi như tiêu chuẩn an toàn vốn quốc tế, Nguyên tắc cốt lõi để giám sát ngân hàng hiệu quả và Hiệp ước về giám sát ngân hàng xuyên biên giới. Cụ thể nhiệm vụ của Ủy ban Basel bao gồm: - Đảm bảo việc phân bổ nguồn vốn nhạy hơn đối với những rủi ro. Tách biệt giữa rủi ro vận hành với rủi ro tín dụng và lượng hoá cả hai. 9 - Gắn kết nguồn vốn kinh tế và nguồn vốn bắt buộc. Điều này nhằm mục đích giảm bớt hoạt động kinh doanh chứng khoán bắt buộc. Các hiệp định Basel (I, II & III) chủ yếu tập trung vào yêu cầu về vốn của các tổ chức tài chính trong bối cảnh căng thẳng tài chính. 1.1.3 Sứ mệnh của Ủy ban Basel - Ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng - Xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất trong kỳ vọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng rộng rãi thông qua những sắp xếp chi tiết phù hợp nhất cho hệ thống quốc gia của chính họ. Theo cách này, Ủy ban khuyến khích việc áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng can thiệp vào các kỹ thuật giám sát của các nước thành viên. - Sứ mệnh của Ủy ban là đảm bảo sự phù hợp liên tục của các Nguyên tắc cốt lõi trong việc cung cấp một chuẩn mực cho các hoạt động giám sát sẽ chịu được thử thách của thời gian và môi trường thay đổi. Vì lý do này, việc sửa đổi Nguyên tắc cốt lõi này được xây dựng dựa trên các phiên bản trước để đảm bảo tính liên tục và khả năng so sánh càng nhiều càng tốt. 1.2 Nội dung cơ bản của các phiên bản Hiệp ước Basel 1.2.1 Basel I : Hiệp định vốn Basel a. Hoàn cảnh ra đời Mục đích hoạt động của Ủy ban Basel là ngăn chặn cuộc khủng hoảng và sự gián đoạn trong hoạt động của thị trường tài chính quốc tế cụ thể là nhằm ngăn chặn các cuộc sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập niên 80. Đồng thời để thu hẹp khoảng cách giám sát quốc tế với hai nguyên lý cơ bản: (1) sự thành lập của các ngân hàng mà không thoát khỏi sự giám sát; (2) việc giám sát phải tương xứng. Để đáp ứng được mục tiêu thường xuyên trao đổi các thông tin về giám sát hoạt động ngân hàng, cần thiết phải xây dựng những tài liệu, văn bản hướng dẫn và các tiêu chuẩn. Do đó, vào năm 1988, Hiệp ước vốn Basel hay còn gọi là Basel I được giới thiệu bởi Ủy ban Basel cung cấp khung đo lường tín dụng. Basel I đã được áp dụng phổ biến trong các ngân hàng của các quốc gia thành viên của Ủy ban Basel và hầu hết các ngân hàng ở các quốc gia khác. b. Tóm tắt nội dung Mục tiêu của Basel I là củng cố sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế và thiết lập hệ thống ngân hàng ổn định, cạnh tranh. Basel 1 (Hiệp ước vốn Basel 1) là một bộ các quy định giao dịch ngân hàng quốc tế được đưa ra bởi Hội đồng giám sát hoạt động ngân hàng Basel. Hiệp ước này đặt ra mức vốn tối thiểu mà các định chế tài chính cần để giảm thiểu 10 rủi ro tín dụng và thúc đầy sự ổn định tài chính. Bên cạnh đó, Basel còn thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế công bằng và nhất quán để giảm thiểu sự bất bình đẳng trong cạnh tranh giữa các ngân hàng quốc tế. Hiệp ước vốn Basel gồm 3 tiêu chuẩn: (i) Tỷ lệ vốn dựa trên rủi ro; (ii) Vốn cấp 1,2,3; (iii) Tài sản có trọng số rủi ro1. Cụ thể: (i) Tỷ lệ vốn dựa trên rủi ro (CAR): tỷ lệ này được giới thiệu bởi Ủy Ban Basel nhằm củng cố hệ thống ngân hàng quốc tế mà đối tượng áp dụng ban đầu là những ngân hàng hoạt động quốc tế, sau này tiêu chuẩn này được áp dụng rộng rãi đối với các ngân hàng có hoạt động quốc tế. Tỷ lệ vốn dựa trên rủi ro được tính bằng tổng vốn/Tài sản có trọng số rủi ro. Theo tiêu chuẩn này, ngân hàng phải duy trì vốn bằng ít nhất 8% tài sản có rủi ro. Quy định này phân loại 5 mức độ vốn như sau: (a) Mức độ vốn tốt nếu CAR lớn hơn 10%; (b) Mức độ vốn thích hợp nếu CAR > 8%; (c ) Thiếu vốn nếu CAR < 8%; (d) Thiếu vốn rõ rệt nếu CAR <6% và (e) Thiếu vốn trầm trọng CAR < 2% (ii) Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3: Basel I đưa ra định nghĩa chung nhất về vốn và tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng và sau đó sửa đổi bổ sung thêm rủi ro thị trường, ngân hàng quy định tiêu chuẩn về vốn như sau: vốn cấp 1 lớn hơn hoặc bằng vốn cấp 2 + vốn cấp 3. Trong đó: ● Vốn cấp 1 (Vốn nòng cốt): Bao gồm cổ phần thường/ cổ phần ưu đãi và các khoản dự trữ được công bố. ● Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung): lợi nhuận giữ lại không công bố; dự phòng đánh giá lại tài sản; dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung; các công cụ nợ có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu; nợ thứ cấp có kỳ hạn. ● Vốn cấp 3 (dành cho rủi ro thị trường): vay ngắn hạn (iii) Tài sản có trọng số rủi ro: được tính bằng Tổng(Tài sản x hệ số rủi ro trong bảng cân đối kế toán) + Tổng(Nợ tương đương x hệ số rủi ro ngoài bảng cân đối kế toán). Theo quy định của Basel trọng số rủi ro của tài sản được chia thành 4 mức là 0%, 20%, 50% và 100% theo mức độ rủi ro của từng loại tài sản. Nhìn chung Ủy Ban Basel đã đưa ra được các tiêu chuẩn về vốn tự có trong Basel I, nhấn mạnh sự quan trọng của tỷ lệ vốn an toàn trong hoạt động của các ngân hàng. Ngoài ra, nó còn xác định của các hệ số rủi ro trong các loại rủi ro tín dụng từ đó tạo cơ sở để các ngân hàng của các quốc gia áp dụng nhằm đảm bảo sự an toàn cũng như quản lý được các hoạt động của ngân hàng. 1 sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/fm/ddnhnn/nctd/nctd_chitiet?leftWidth=20%25&showFooter=false&s howHeader=false&dDocName=CNTHWEBAP01162524865&rightWidth=0%25&centerWidth=80%25&_af rLoop=46935008616470023 11 c. Ưu điểm và nhược điểm Ưu điểm: Sau khi Basel I được Ủy Ban Basel giới thiệu, nó đã mang lại một số thành tựu cơ bản là xác định vốn ngân hàng và tỷ lệ vốn để từ đó thiết lập đủ tỷ lệ vốn rủi ro tối thiểu áp dụng cho tất cả các ngân hàng để hạn chế những rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Đồng thời đưa ra được định nghĩa chung về vốn và hạn chế được sự căng thẳng về cạnh tranh và sự xung đột về kiểm soát giữa những ngân hàng đa quốc gia có thể xảy ra. Nhược điểm: Bên cạnh một số thành tựu, Basel I cũng có những hạn chế nhất định như: Chưa tính đến lợi ích của sự đa dạng hóa hoạt động. Các lý thuyết đầu tư chỉ ra rằng đa dạng hóa danh mục đầu tư sẽ làm giảm rủi ro. Tuy nhiên, đối với Basel I quy định về vốn tối thiểu ở những ngân hàng có đa dạng danh mục hoạt động kinh doanh (ít rủi ro) tương tự so với những ngân hàng tập trung vào một hoặc số ít hoạt động kinh doanh (nhiều rủi ro). Điều này đặt ra vấn đề là trong khi cả hai ngân hàng nói trên đều có cùng mức vốn tối thiểu nhưng ngân hàng có ít hoạt động kinh doanh sẽ dễ rơi vào tình trạng khó khăn hơn ngân hàng có đa dạng hoạt động kinh doanh; (ii) Basel I chỉ mới đưa ra quy định cho rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất và rủi ro thị trường mà chưa có quy định cho rủi ro liên quan đến hoạt động tức không có quy định về vốn cho rủi ro hoạt động. 1.2.2 Basel II : Khuôn khổ mới a. Hoàn cảnh ra đời Mắc dù Basel I đã đưa ra một số các quy định để quản lý các rủi ro trong hoạt động ngân hàng, tuy nhiên sau một quãng thời gian dài áp dụng đi kèm với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống ngân hàng trên thế giới, Basel I đã bộc lộ một số nhược điểm. Bên cạnh đó, sau những cuộc khủng hoảng vào những năm 90, các quy định của Basel I đã không còn phù hợp với thị trường tiền tệ phức tạp, các công cụ phái sinh phát triển mạnh mẽ làm cho cơ cầu về vốn và tài sản của các Ngân hàng trở nên phức tạp. Kết hợp với các rủi ro trong đó có rủi ro về vận hành ngày càng lớn dẫn đến phải có quy định về vốn tối thiểu cho các rủi ro này. Do đó, để khắc phục các hạn chế của Basel I, Uỷ Ban Basel đã đề xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột. Đến tháng 06/2004 , Basel II đã chính thức được ban hành. b. Tóm tắt nội dung Basel II được ra đời với mục tiêu nhằm nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế, duy trì sự bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên phương diện quốc tế và đẩy mạnh việc chấp nhận các quy định trong việc quản lý rủi ro. Điểm mới trong mục tiêu của Basel II là thắt chặt việc áp dụng các thông lệ trong việc quản lý rủi ro hướng đến sự điều tiết mà chủ yếu dựa trên số liệu, thông lệ. So với Basel I, Basel II linh động hơn trong việc xử lý các tính hướng khác nhau trong việc quy định vốn tối thiểu của từng khoản mục tài sản có rủi ro. Ngoài ra Basel II hoàn thiện hơn trong việc xác định tỷ lệ an toàn vốn so với những điểm hạn chế của Basel I. 12 Basel II đưa ra một số các quy định việc quản lý rủi ro ngân hàng dựa trên ba trụ cột chính, cụ thể như sau2: (i) Trụ cột thứ nhất: liên quan đến việc duy trì vốn bắt buộc, tương tự Basel I, các ngân hàng hoạt động quốc tế vẫn buộc phải duy trì tỷ lệ vốn bắt buộc là 8% của tổng tài sản rủi ro. Tuy nhiên, rủi ro được tính dựa theo ba yếu tố chính là rủi ro hoạt động, rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường. Với rủi ro thị trường, đây là các tổn thất trong và ngoài bảng cân đối kế toán phát sinh bởi sự biến động giá cả của thị trường. Rủi ro hoạt động được quy định như là một loại rủi ro mới cho các ngân hàng phải giữ vốn. Các thiệt hại liên quan đến quy trình vận hành nội bộ, con người, hệ thống hoặc những sự kiện bên ngoài là những yếu tố nằm trong rủi ro hoạt động. Trong lĩnh vực rủi ro tín dụng, có hai phương phương pháp được tiếp cận, đó là tiếp cận tiêu chuẩn và tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ (IRB). Cách tiếp cận tiêu chuẩn liên kết trọng số rủi ro với xếp hạng được cung cấp bởi các cơ quan xếp hạng được công nhận. Cách tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ sử dụng các ước tính của chính ngân hàng về các yếu tố rủi ro nhất định, dựa trên các yếu tố rủi ro được phép tính toán. (ii) Trụ cột thứ hai: ở trụ cột này Basel II đã đưa ra các hướng dẫn liên quan đến quá trình giám sát mà ở Basel I chưa có. Basel II cung cấp cho ngân hàng khung giải pháp để đối mặt với các rủi ro và nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát: thứ nhất, yêu cầu các ngân hàng phải có quy trình đánh giá mức độ đầy đủ của vốn nội bộ đồng thời phải có chiến lược hợp lý để duy trì mức vốn này. Thứ hai, các giám sát viên nên rà soát và đánh giá việc xác định vốn nội bộ và chiến lược của ngân hàng. Ngoài ra cần giám sát việc đảm bảo khả năng tuân thủ tỷ lệ vốn tối thiểu. Thứ ba, các giám sát viên cần khuyến khích ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn vốn tối thiểu. Cuối cùng, giám sát viên cần can thiệp từ những giai đoạn đầu tiên để đảm bảo mức vốn của ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu và có thể sửa đổi ngay lập tức nào mức vốn không thể duy trì trên mức vốn tối thiểu. (iii) Trụ cột thứ ba: các ngân hàng phải công khai thông tin một cách thích đáng. Basel II đưa ra một list các danh sách yêu cầu bắt buộc các ngân hàng phải công khai thông tin từ những thông tin cơ bản về mức độ đầy đủ của vốn, cơ cấu vốn đến những thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này. c. Ưu điểm và nhược điểm ● Ưu điểm: 2 sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/rm/apph/tcthnh/tcthnh_chitiet?leftWidth=20%25&showFooter=false& showHeader=false&dDocName=CNTHWEBAP0116211757170&rightWidth=0%25&centerWidth=80%25 &_afrLoop=46981568901835023 13 So với Basel I, Basel II đã đạt được một số ưu điểm nhất định, cụ thể: (i) Về cấu trúc, nội dung: so với Basel I, Basel II tập trung nhiều vào các hoạt động nội bộ của ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát dựa trên nguyên tắc của thị trường. Quyền lực của các nhà quản lý cũng vì thế mà tăng lên bởi họ cần đánh giá sự đủ vốn của ngân hàng đi kèm những sự rủi ro cụ thể. (ii) Về tính linh động: Basel II linh hoạt hơn với loạt danh sách các phương pháp, biện pháp để các nhà quản lý, ngân hàng lựa chọn để hướng đến việc quản trị rủi ro tốt hơn. (iii) Về tính nhạy cảm với rủi ro: Basel II đo đạc sự nhạy cảm thông qua độ nhạy cảm của yêu cầu vốn đối với mức độ rủi ro tăng lên và sự công khai bắt buộc một cách chi tiết về độ nhạy cảm và chính sách rủi ro. ● Nhược điểm: Mặc dù đem lại lợi ích vì được coi là một cơ chế quan trọng trong việc thúc đẩy mạnh mẽ cải cách và củng cố toàn bộ công tác điều hành trong lĩnh vực tài chính, nhưng cuộc khủng hoảng tài chính đã cho thấy những bất cập của Basel II, cụ thể là: (i) Việc áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro chưa có các tiêu chuẩn có thể được chấp nhận rộng rãi. (ii) Các cơ quan giám sát, đánh giá rủi ro chưa lường trước và tính toán đến các hoạt động của chu kỳ kinh doanh. (iii) Các cơ quan quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển của những sản phẩm dịch vụ khoa học công nghệ. 1.2.3 Basel III: Ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009 a. Hoàn cảnh ra đời Trải qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007-2009, Hiệp ước Basel II đã bộc lộ một số điểm yếu, một số thiếu sót cơ bản là thiếu yêu cầu về phí vốn thanh khoản, quá tin vào cơ quan xếp hạng tín dụng. Để ngăn chặn sự tái diễn của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới phát sinh, tháng 9/2010, Basel III với những quy định nghiêm ngặt đã được ra đời. b. Tóm tắt nội dung Mục tiêu của Basel III là khắc phục những hạn chế về quy định vốn, tăng cường quản lý rủi ro thông qua tăng tiêu chuẩn về an toàn vốn và đưa ra tiêu chuẩn liên quan đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng thương mại. Từ đó tăng cường khả năng ứng phó, tự giải thoát trước những khủng hoảng tài chính mà không cần các gói cứu trợ của Chính phủ. Basel III với nhiều đề xuất mới về vốn, đòn bẩy và các tiêu chuẩn về tính thanh khoản để củng cố các quy định, giám sát và quản lý rủi ro của ngành ngân hàng. 14 Những cải cách của Basel III nhằm vào nâng cao chất lượng và mức vốn cơ bản từ đó nâng cao khả năng chống đỡ rủi ro nhờ vào vốn. Một số trọng tâm của Basel III là: (i) Thứ nhất, nâng cao chất lượng nguồn vốn cơ sở vì chất lượng vốn tốt hơn đồng nghĩa là khả năng bù đắp các khoản lỗ tốt hơn, điều này giúp các ngân hàng có khả năng chống đỡ tốt trong thời kỳ khó khăn. Trong đó chủ yếu nguồn vốn cấp 1 phải bao gồm vốn cổ phần thường và lợi nhuận giữ lại. Hệ số tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu vẫn được giữ ở mức 8% những yêu cầu vốn cấp 1 phải đạt 6% trong tổng mức 8% (cao hơn quy định của Basel II là 4%). Bên cạnh đó, trong 6% đó, vốn cấp 1 phải có 4.5% là vốn từ các cổ đông thông thường. Ngoài ra, các công cụ vốn cấp 2 sẽ được cân đối hài hòa và loại bỏ vốn cấp 3. (ii) Thứ hai, yêu cầu các ngân hàng bổ sung thêm vốn. Theo quan điểm của Basel, chất lượng vốn tốt hơn vẫn chưa đủ. Rút kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính, Ủy ban Basel cho rằng khu vực ngân hàng cần nhiều vốn hơn nữa. Do đó, những tiêu chuẩn về hạn mức tối thiểu về vốn của các ngân hàng sẽ tăng mạnh. Theo quy định này, các ngân hàng phải duy trì mức vốn phù hợp trên mức vốn tối thiểu tùy vào mức độ rủi ro, mô hình kinh doanh, điều kiện kinh tế. Khả năng đưa ra các quy định chặt chẽ về vốn của cơ quan giám sát quốc gia sẽ là yếu tố quan trọng trong các nguyên tắc của Basel III. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu không thay đổi vẫn là 8%, nhưng tỷ lệ của loại vốn có chất lượng cao được nâng lên, cụ thể: (a) Tỷ lệ Vốn cấp 1 tăng từ 4% trong Basel II lên 6% trong Basel III; (b) Tỷ lệ Vốn của cổ đông thường (common equity) cũng được tăng từ 2% lên 4,5%. Bên cạnh đó, những tài sản với chất lượng vốn có vấn đề cũng sẽ được loại trừ dần khỏi vốn cấp 1 và vốn cấp 2, như các khoản đầu tư vượt quá giới hạn 15% vào các tổ chức tài chính. Bổ sung phần vốn đệm dự phòng tài chính đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu 2,5%. Tùy theo bối cảnh của mỗi quốc gia, một tỷ lệ vốn đệm phòng ngừa sự suy giảm theo chu kỳ kinh tế có thể được thiết lập với tỷ lệ từ 0 - 2,5% và phải được đảm bảo bằng vốn chủ sở hữu phổ thông. Phần vốn dự phòng này chỉ đòi hỏi trong trường hợp có sự tăng trưởng tín dụng nóng, nguy cơ dẫn đến rủi ro cao trong hoạt động tín dụng một cách có hệ thống. (iii) Thứ ba, Basel III đã đưa ra tỷ lệ đòn bẩy không dựa trên rủi ro như một biện pháp hỗ trợ cho các yêu cầu về vốn dựa trên rủi ro. Các ngân hàng được yêu cầu phải giữ tỷ lệ đòn bẩy vượt quá 3% và tỷ lệ đòn bẩy không dựa trên rủi ro được tính bằng cách chia vốn cấp 1 cho tổng tài sản hợp nhất trung bình của ngân hàng. Việc áp dụng tỷ lệ này cho phép Ủy Ban Basel theo dõi biến động tỷ lệ đòn bẩy thực của các ngân hàng theo chu kỳ kinh tế và mối quan hệ giữa các yêu cầu về vốn với tỷ lệ đòn bẩy.3 (iv) Thứ tư, Basel III giới thiệu việc sử dụng hai tỷ lệ thanh khoản, bao gồm Tỷ lệ đảm bảo thanh khoản và Tỷ lệ tài trợ ròng ổn định. Tỷ lệ đảm bảo thanh khoản yêu cầu các ngân 3 Basel II - Overview, Three Pillars, Components (corporatefinanceinstitute.com) 15 hàng phải nắm giữ đủ tài sản có tính thanh khoản cao có thể chịu được kịch bản cấp vốn căng thẳng kéo dài 30 ngày do cơ quan giám sát chỉ định. Các tiêu chuẩn của Basel III không có hiệu lực ngay lập tức. Chúng bắt đầu có hiệu lực từ năm 2013, được thực hiện theo một lộ trình đến hết năm 2018 và sẽ thực hiện đầy đủ vào ngày 1/1/2019. Bảng sau sẽ cho thấy lộ trình cụ thể của việc thực thi hiệp ước Basel III: Nguồn: Basel iii Accord (basel-iii-accord.com) c. Ưu điểm và nhược điểm ● Ưu điểm Sau nhiều lần cải cách và trải qua các cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế cùng với mục đích của Basel III là tạo ra một hệ thống ngân hàng linh hoạt hơn, có khả năng chống chọi tốt hơn với những cú sốc tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn, Basel III đã có những ưu điểm cụ thể như: (i) Thứ nhất, thúc đẩy sự ổn định tài chính lớn hơn. Yêu cầu về vốn cao hơn của Basel III và các khoản đệm vốn bổ sung có thể giúp các ngân hàng chống chọi với các cú sốc tài chính và ngăn chặn chúng phá sản, từ đó tăng cường sự ổn định tài chính tổng thể. (ii) Thứ hai, cải thiện thực tiễn quản lý rủi ro. Các yêu cầu nâng cao về quản lý rủi ro và kiểm tra sức chịu đựng của Basel III có thể giúp các ngân hàng xác định và quản lý các rủi ro tiềm ẩn cũng như hạn chế rủi ro gặp phải. 16 (iii) Thứ ba, tăng cường tính minh bạch và công bố thông tin. Các yêu cầu công bố thông tin của Basel III có thể giúp cơ quan quản lý và nhà đầu tư hiểu rõ hơn về hồ sơ rủi ro, cơ cấu vốn và nguồn vốn của ngân hàng, tăng tính minh bạch và cải thiện kỷ luật thị trường. (iv) Thứ tư, tăng cường giám sát. Các yêu cầu của Basel III về giám sát thường xuyên và toàn diện hơn có thể giúp các cơ quan quản lý xác định sớm các vấn đề tiềm ẩn và thực hiện hành động khắc phục trước khi chúng trở thành mối đe dọa đối với hệ thống tài chính. (v) Thứ năm, khuyến khích chấp nhận rủi ro một cách thận trọng. Khuyến khích chấp nhận rủi ro thận trọng: Bằng cách hạn chế đòn bẩy quá mức và yêu cầu các ngân hàng duy trì đủ thanh khoản, Basel III khuyến khích các ngân hàng chấp nhận rủi ro thận trọng, giảm khả năng xảy ra khủng hoảng tài chính trong tương lai. ● Nhược điểm Mặc dù Basel III là đã có nhiều cải tiến hơn so với Basel I và Basel II tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số nhược điểm như: (i) Thứ nhất, yêu cầu về vốn tối thiểu tăng lên có thể khiến các ngân hàng chuyển từ tín dụng sang tài sản tài chính, có khả năng làm sai lệch quyết định đầu tư của họ4 (ii) Thứ hai, Basel 3 không giải quyết một cách hiệu quả vấn đề nắm bắt quy định và sự phát triển nội sinh của rủi ro trong các tổ chức tài chính.5 (iii) Thứ ba, điều kiện phát triển kinh tế của các quốc gia đang phát triển và phát triển là khác nhau, không thể đặt một bộ tiêu chuẩn cho cả hai. Đa số các tiêu chuẩn, quy định của Basel 3 nhắm đến các quốc gia phát triển, do đó việc nâng cao chất lượng và và tỷ lệ an toàn vốn gây khó khăn cho các ngân hàng ở các quốc gia đang phát triển6 1.3 So sánh các phiên bản Hiệp ước Basel Nội dung Basel I Basel II Basel III Mục đích Mục tiêu chính là liệt kê yêu cầu vốn tối thiểu cho các ngân hàng Mục tiêu chính là để giới thiệu trách nhiệm giám sát và tăng cường yêu cầu vốn tối thiểu Mục tiêu chính là để nhằm vào nâng cao chất lượng và mức vốn chủ sở hữu từ đó nâng cao khả năng chống đỡ rủi ro nhờ vào vốn 4 (Open Access) Regulatory reform and banking diversity: reassessing Basel 3 (2022) | Giuliana Birindelli (typeset.io) 5 (Open Access) Towards Basel 3: ten years of limits to credit growth? (2011) | Giuseppe Lusignani | 1 Citations (typeset.io) 6 Document Viewer (ueh.edu.vn) 17 Tập trung rủi Basel 1 có trọng Basel 2 giới thiệu Basel 3 đánh giá rủi ro ro cách tiếp cận 3 trụ cột thanh khoản bên cạnh trong quản lý rủi ro là các rủi ro được nêu tâm rủi ro tối thiểu trong số 3 hiệp định là yêu cầu vốn tối thiểu (i) liên quan đến việc trong Basel 2 được duy trì vốn bắt buộc giới thiệu bởi Basel 3: trên cơ sở Basel I; (ii) tập trung chủ yếu vào đưa ra các hướng dẫn tài sản rủi ro liên quan đến quá trình giám sát mà ở Basel I chưa có; (iii) phải công khai thông tin Tính linh một quy định cho tất Linh hoạt hơn, có kế thừa basel 2 do đó động của ứng cả nhiều cách tiếp cận, basel 3 cũng trở nên dụng khuyến khích quản lý linh hoạt hơn so với basel 1 và 2 Tỷ lệ vốn 1.4 Basel I đưa ra định nghĩa chung nhất về vốn và tỷ lệ vốn an toàn của ngân hàng. Vốn cấp 1 = vốn cấp 2+ vốn cấp 3 Tỷ lệ vốn tối thiểu Tỷ lệ vốn tối thiểu vẫn vẫn là 8% tuy nhiên là 8% tuy nhiên tỷ lệ tỷ lệ vốn cấp 1 chiếm vốn cấp 1 chiếm 6% 4% Sự cần thiết phải triển khai Basel trong quản trị điều hành hệ thống NH Bản chất của mọi hoạt động ngân hàng đều xoay quanh công tác quản trị rủi ro, do đó, những chuẩn mực, nguyên tắc chung về quản trị rủi ro là cực kỳ cấp thiết giúp các ngân hàng thương mại đảm bảo sự an toàn cũng như cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động kinh doanh của mình. Hệ thống ngân hàng trước thời điểm triển khai Basel Những năm 80, giới tài chính chứng kiến cuộc khủng hoảng cho vay và tiết kiệm ở Mỹ, được đánh giá là một trong những thảm họa tài chính tồi tệ nhất của thế kỷ 20 với sự thất bại của 747 trong số 3234 tổ chức tiết kiệm và cho vay. Mức tổng thiệt hại dự kiến để bù đắp cho cuộc khủng hoảng này khoảng 500 tỷ đô la Mỹ, bao gồm thiệt hại của người dân 18 khoảng 150 tỷ đô la Mỹ và những khoản chi phí bán trái phiếu mà Chính phủ Mỹ phải bỏ ra trong vòng 30 năm để cứu giúp cho ngành tài chính Mỹ. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới câu chuyện đổ vỡ của hệ thống các ngân hàng trong cuộc khủng hoảng này, một trong đó là nguyên nhân do việc quá tập trung vốn và nới lỏng các điều kiện cấp tín dụng của các tổ chức cho vay nhằm chớp cơ hội sinh lời. . Giải quyết khủng hoảng, uỷ ban Basel đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà nó được đề cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I. Hệ thống này cung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8% Basel I đưa ra trọng số rủi ro gồm 4 mức: quốc gia 0%; ngân hàng 20%; doanh nghiệp 100%... Trọng số rủi ro không phản ánh độ nhạy cảm rủi ro trong mỗi loại này. - Những thiếu sót của Basel I: Sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào năm 1988, Uỷ ban Basel đã chuyển sự chú ý của họ sang rủi ro thị trường để phản ứng lại các hoạt động kinh doanh chuyên hữu ngày càng tăng của các ngân hàng thương mại và đến năm 1996, Bsael I đã được sửa đổi với mục đích tính đến cả phí vốn đối với rủi ro thị trường. Mặc dù vậy, Basel I vẫn có khá nhiều điểm hạn chế. Một trong những điểm hạn chế cơ bản của Basel I là không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro vận hành (không có yêu cầu vốn dự phòng rủi ro vận hành). Ngoài ra, còn một số điểm hạn chế khác, như: không phân biệt theo loại rủi ro, không có lợi ích từ việc đa dạng hóa… Chính vì những thiếu sót của Basel I, Uỷ ban Basel năm 1996 đã đề xuất khung đo lường mới với 3 trụ cột chính: (i) yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I; (ii) sự xem xét giám sát của quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các tổ chức tài chính; (iii) sử dụng hiệu quả của việc công bố thông tin nhằm làm lành mạnh kỷ luật thị trường như là một sự bổ sung cho các nỗ lực giám sát. Chính những điều này đã dẫn đến việc ra đời của Basel II. Mặc dù được coi như một cơ chế quan trọng để đẩy mạnh cải cách và củng cố toàn bộ công tác điều hành trong lĩnh vực tài chính, nhưng cuộc khủng hoảng tài chính những năm 2007 – 2009 đã cho thấy những thiếu sót, bất cập của Basel II. Một số thiếu sót cơ bản của Basel II là thiếu yêu cầu về phí vốn thanh khoản, quá tin cậy vào cơ quan xếp hạng tín dụng và bản chất có tính chu kỳ của nó. Tháng 11/2010, lañ h đa ̣o hàng đầ u của các nề n kinh tế thuô ̣c G20 đã hố i thúc Ủy ban Basel đưa ra biê ̣n pháp cải thiê ̣n chấ t lươ ̣ng và số lươ ̣ng vố n của các ngân hàng và thắ t chă ̣t yêu cầ u thanh khoản (Basel III) để các ngân hàng ứng phó tố t hơn với khủng hoảng và ngăn khủng hoảng tài chính lă ̣p la ̣i mà không cầ n đế n hỗ trơ ̣ từ chin ́ h phủ. Basel III được xem như giúp cho các ngân hàng đáp ứng tất cả các yêu cầu về quản trị rủi ro. 19 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI BASEL TRONG HỆ THỐNG NH VIỆT NAM 2.1. Khái quát về hệ thống NH Việt Nam 2.1.1 Ngân hàng nhà nước Việt Nam (NHNNVN) Được thành lập theo sắc lệnh 15/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 6/5/1951, NHNNVN là cơ quan ngang bộ của Chính Phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. NHNNVN là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội. NHNNVN được lãnh đạo và đứng đầu bởi Thống đốc NHNN, là thành viên của Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng. Thống đốc NHNNVN do thủ tướng chính phủ đề nghị quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm. NHNNVN có các nhiệm vụ: Phát hành tiền tệ, thực hiện chính sách tiền tệ, quản lý tiền tệ tham mưu các chính sách liên quan đến tiền tệ cho Chính Phủ Việt Nam: Phát hành tiền tệ: Với vai trò phát hành độc quyền tiền trên toàn quốc như phương tiện trao đổi, NHTW trực tiếp quản lý cung ứng tiền mặt. Việc quản lý mức độ cung ứng tiền mặt là công cụ thứ nhất giúp NHTW điều tiết mức cung ứng tiền tổng hợp.Với việc độc quyền phát hành tiền thì chính phủ có thể điều chỉnh được lượng tiền lưu thông để có thể kiểm soát lạm phát và từ đó có thể tăng giảm lãi suất để tăng lượng cầu hay giảm lượng cầu ứng với mỗi thời điểm của nền kinh tế. Quản lý tham mưu chính sách liên quan đến tiền tệ cho Chính Phủ Việt Nam: Ngân sách có tác động khá quan trọng đến nền kinh tế vĩ mô vì nếu hoạt động của ngân sách không hài hòa với chính sách tiền tệ nó sẽ làm cản trở hiệu quả của chính sách tiền tệ trong điều tiết vĩ mô. Với lý do trên NHTW phải tham gia cố vấn cho chính phủ trong chính sách tài chính và kinh tế. Với vai trò này NHTW gián tiếp ảnh hưởng đến việc cung ứng trái phiếu của chính phủ và các hoạt động chi tiêu khác cho hợp lý với ngân sách. Đây là một cách để điều tiết kinh tế vĩ mô. Thực hiện chính sách tiền tệ: Nghiệp vụ thị trường mở; Dự trữ bắt buộc; Lãi suất chiết khấu 2.1.2 Các Ngân hàng thương mại (NHTM) NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. 20 Các nghiệp vụ của NHTM Huy động vốn: nhận tiền gửi, các loại tiền bao gồm: Tiền gửi có kỳ hạn; Tiền gửi không kỳ hạn: là loại tiền gửi có thể rút ra theo yêu cầu của người gửi mà không phải tôn trọng một kỳ hạn ký thác nào khác. Có nhiều loại tiền gửi không kỳ hạn: o o Tiền gửi dùng séc: là loại tiền gửi dùng để chi trả các Séc và hối phiếu Tiền gửi tiết kiệm: là tiền gửi vào tài khoản tiết kiệm còn gọi là tài khoản dùng sổ. Đó là những khoản tiền gửi nhỏ, ổn định tương đối lâu ở tài khoản, được hưởng lãi, tương đối cao hơn lãi của tiền gửi thông dụng. Nghiệp vụ đầu tư vốn: Đầu tư chứng khoán: Cho vay: là hình thức thông dụng nhất của các định chế tài chính nói chung và của ngân hàng nói riêng trên khắp thế giới. 2.2. Lộ trình triển khai và thực hiện hiệp ước Basel tại hệ thống NH Việt Nam 2.2.1 Giới thiệu về khung pháp lý Việc tiếp cận các Hiệp ước vốn Basel là yêu cầu tất yếu đối với các ngân hàng Việt Nam nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh trước những biến động khó lường của thị trường tài chính quốc tế. Ngoài ra việc tiếp cận Hiệp ước vốn Basel, chọn lọc và ứng dụng để xây dựng quy định giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể tránh khỏi các xung đột trong quá trình hoạt động, hợp tác và liên kết với các ngân hàng khác trên thế giới nhất là với các ngân hàng thuộc các quốc gia là thành viên của Ủy ban Basel. Văn bản đầu tiên pháp luật đầu tiên có quy định tỷ lệ vốn tối thiểu là QĐ 297/1999/QĐNHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về các tỷ lệ đảm bảo của an toàn trong hoạt động của các ngân hàng thương mại. Quyết định này quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% nhưng phương pháp tính đơn giản chưa phản ánh được chính xác tinh thần của Basel I. Đến năm 2005, NHNN đã ban hành Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN với tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu vẫn là 8% nhưng phương pháp tính toán đã tiếp cận tương đối tinh thần của Basel I. Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng trong hoạt động của các TCTD. Tuy nhiên 5 năm sau NHNN đã ban hành Thông tư số 13/2010/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD. Trong đó, ngoài việc quy định lại về việc xác định Vốn tự có = vốn cấp I + vốn cấp II, NHNN đã hướng dẫn cách xác định tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất, nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của tổ chức tín dụng lên 9%. Bên cạnh đó, Thủ tướng đã ban hành Quyết định 254 năm 2012 đã có nhắc lại các chuẩn mực Basel như định hướng giải pháp cơ cấu lại tài chính, hoạt đồng và quyển trị của các TCTD. Quyết định đề cập đến cả ba trụ cột của Basel II: (i) ban hành chuẩn mực an toàn vốn (ii) phát triển hệ thống 21 quản trị rủi ro và (iii) quy định công bố thông tin7. Tuy nhiên, quá trình thực hiện lộ ra một số bất cập buộc NHNN ban hành Thông tư số 36/2014/TT-NHNN và các văn bản sửa đổi bổ sung. Thông tư này quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động mà các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thường xuyên duy trì, bao gồm: (i) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; (ii) Giới hạn cấp tín dụng; (iii) Tỷ lệ khả năng chi trả; (iv) Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn; (v) Giới hạn góp vốn, mua cổ phần; (vi) Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi. Để góp phần ngăn ngừa rủi ro trọng yếu với các ngân hàng hoạt động theo mô hình tập đoàn tài chính hay tập đoàn ngân hàng, nội dung của Thông tư 36/2014/TT-NHNN còn đề cập đến: (a) Tỷ lệ an toàn vốn trên cơ sở hợp nhất và riêng lẻ; (b) Áp dụng các tỷ lệ an toàn chặt chẽ hơn trong trường hợp cần thiết tùy tính chất, mức độ rủi ro của từng TCTD; (c) Quy định các tỷ lệ đảm bảo khả năng thanh khoản; (d) Quy định ngăn ngừa sở hữu chéo, cấp tín dụng, góp vốn mua cổ phần sai quy định đối với người có liên quan; (e) Ngăn ngừa rủi ro tập trung bằng các quy định về giới hạn, hạn chế cấp tín dụng đối với các lĩnh vực nhiều rủi ro như chứng khoán, bất động sản…Tuy nhiên, tại Thông tư 36/2014/TT-NHNN, đối với tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, chỉ quy định các TCTD phải có vốn yêu cầu đối với rủi ro tín dụng, trong khi đó, ở bản sửa đổi của Basel I đã quy định vốn yêu cầu đối với rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường. Còn theo trụ cột I của Basel II thì vốn yêu cầu đối với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Đến năm 2016, Thông tư 41/2016/TT-NHNN được Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhằm hướng dẫn thực hiện Trụ cột I và Trụ cột III của Basel II. Từ đó cho thấy hiện các quy định của Việt Nam liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được xây dựng dựa trên việc tiếp cận có chọn lọc từ các phiên bản Basel. Việc tiếp cận và áp dụng Basel đòi hỏi có kỹ thuật cao và còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với xu thế hội nhập và mở cửa càng có nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng mới cùng với nhiều thách thức và biến động của thị trường dịch vụ tài chính – ngân hàng, việc áp dụng các chuẩn mực Basel tại Việt Nam là yêu cầu cấp thiết nhằm tăng cường năng lực hoạt động, giảm thiểu rủi ro đối với các ngân hàng thương mại và nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường tài chính quốc tế. Trong những năm qua Ngân hàng nhà nước cũng như các Ngân hàng thương mại cũng đã nỗ lực áp dụng 2.2.2 Cách thức thực hiện trong thời gian vừa qua Hiện tại các Ngân hàng ở Việt Nam chưa thực hiện Hiệp ước Basel, Việt Nam chỉ chọn lọc sử dụng một số tiêu chuẩn mà phù hợp với nền kinh tế và phù hợp với hệ thống Ngân hàng tại Việt Nam thông qua thông tư 41. Vì Việt Nam chưa phải là thành viên của Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng, do đó không bị ràng buộc bởi thời hạn phải tuân thủ các Hiệp ước 7 Về đích Thông tư 41: “Tốt nghiệp” hay sự khởi đầu mới? - Tạp chí Kinh tế Sài Gòn (thesaigontimes.vn) 22 Basel, và hiệp ước Basel không mang tính bắt buộc. Tuy nhiên, trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành nhiều văn bản luật và quy định theo định hướng Basel. * Basel I: Trong bối cảnh tài chính thế giới liên tục thay đổi và phức tạp hơn, các chuẩn Basel II và III được đưa ra với mục đích cải thiện và nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tài chính của các ngân hàng. Các chuẩn Basel II và III đòi hỏi các ngân hàng phải đánh giá và quản lý rủi ro một cách chi tiết hơn, đảm bảo tính minh bạch và đáng tin cậy của các thông tin tài chính, giúp tăng cường ổn định và sự phát triển bền vững của hệ thống tài chính toàn cầu. Vì vậy, Việt Nam cũng đã quyết định không áp dụng chuẩn Basel I mà tập trung áp dụng các chuẩn mới hơn để đảm bảo tính hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu của thị trường tài chính toàn cầu. Dù không áp dụng, Việt Nam cũng đã ban các quy định và chuẩn mực liên quan đến vốn và quản lý rủi ro của ngân hàng dựa trên các nguyên tắc và chuẩn mực củaBasel 1 thông qua các quy định và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam(NHNN). Các quy định này bao gồm việc đánh giá rủi ro, phân loại tín dụng và báo cáo tài chính định kỳ, giúp các ngân hàng từng bước tiếp cận với chuẩn mực Basel. Liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), năm 1999, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 297/1999/QÐ-NHNN5, quy định CAR là 8%, nhưng phương pháp tính đơn giản và chưa phản ánh chính xác tinh thần Basel I. Năm 2005, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 457/2005/QÐ-NHNN, theo đó CAR vẫn là 8%, nhưng phương pháp tính toán đã tiếp cận tương đối toàn diện Basel I. * Basel II: Việc áp dụng các tiêu chuẩn của Hiệp ước Basel II hướng đến mục tiêu an toàn của khu vực ngân hàng đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với sự ổn định của hệ thống tài chính mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế, do nếu an toàn của ngân hàng không được đảm bảo sẽ tạo nên hiệu ứng lan truyền rủi ro của cả hệ thống, thậm chí có thể trở thành mầm mống của khủng hoảng kinh tế - tài chính. Việt Nam đã từng bước tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng (Basel I, Basel II). Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã ban hành và từng bước hoàn thiện các văn bản pháp lý nhằm xây dựng nền tảng cần thiết đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng (Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 quy định các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng; Thông tư số 19/2010/TT-NHNN ngày 27/9/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2010/TT-NHNN; Nghị định số 141/2006/NÐ-CP ngày 22/11/2006 yêu cầu vốn pháp định tối thiểu của ngân hàng thương mại (NHTM) phải đạt 3 nghìn tỷ đồng vào cuối 23 năm 2010 nhằm đảm bảo an toàn vốn và nâng cao tiềm lực tài chính của các NHTM; Thông tư số 07/2013/TT-NHNN ngày 14/3/2013 quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với TCTD; Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 tiếp tục quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) riêng lẻ và hợp nhất đều phải duy trì 9%, vốn cấp 1 phải loại trừ cổ phiếu quỹ và các khoản cấp tín dụng để góp vốn, mua cổ phần tại tổ chức tín dụng khác; Thông tư số 06/2016/TT-NHNN ngày 27/5/2016 sửa đổi Thông tư số 36/2014/TT-NHNN). Kể từ tháng 02/2016, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chỉ định thực hiện thí điểm phương pháp quản trị vốn và rủi ro theo tiêu chuẩn Basel II đối với 10 ngân hàng, gồm: Ngân hàng BIDV, VietinBank, Vietcombank, Techcombank, ACB, VPBank, MB, Maritime Bank, Sacombank và VIB. Việc áp dụng tiêu chuẩn Basel II là một xu thế tất yếu và bắt buộc khi Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với khu vực và trên thế giới. Việc áp dụng Basel II làm cho 10 ngân hàng trên phải cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng cho vay và đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn, từ đó giữ được an toàn trong hệ thống ngân hàng. Do đó, vấn đề cấp thiết hiện nay là cần đánh giá được mức độ an toàn của hệ thống NHTM Việt Nam và mối quan hệ giữa việc áp dụng các chuẩn mực của Hiệp ước Basel II đối với an toàn của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam; từ đó đưa ra các hàm ý chính sách cho việc áp dụng các tiêu chuẩn Hiệp ước Basel II. Trong hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay, có 3 ngân hàng đã cổ phần do Nhà nước nắm trên 50% vốn là BIDV, VietinBank và Vietcombank. Theo yêu cầu về tăng vốn điều lệ để đáp ứng chuẩn Basel II, những ngân hàng này thuộc trường hợp buộc phải tăng vốn. Trao đổi với Đầu tư Chứng khoán, lãnh đạo các ngân hàng trên đều cho biết, thời gian qua tuy đã nỗ lực song việc tăng vốn còn gặp khó. Cụ thể, Vietcombank chưa thể bán hơn 7% vốn cho đối tác nước ngoài do giá trên thị trường cao mà ngân hàng lại không được phép bán giá thấp hơn, trong khi nhà đầu tư mua lô lớn luôn muốn giá rẻ. BIDV cũng chưa tìm được đối tác để bán tối đa 30% cổ phần như mục tiêu đề ra từ năm 2014 và VietinBank chưa nhận sáp nhập xong PGBank do còn vướng mắc về một số vấn đề trong đó có tỷ lệ hoán đổi… Đối với ngân hàng do Nhà nước nắm 100% vốn như Agribank, ông Trịnh Ngọc Khánh, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank cho biết, trước đây, Agribank là ngân hàng dẫn đầu về vốn điều lệ trong toàn ngành, sau khi các ngân hàng khác cổ phần hóa, Ngân hàng đã tụt xuống đứng hàng cuối trong 4 ngân hàng thương mại nhà nước. Do Agribank là một doanh nghiệp 100% vốn nhà nước nên việc tăng vốn điều lệ phải do Nhà nước quyết định. “Đầu năm 2017, Ngân hàng đã tăng 1.400 tỷ đồng vốn, nhưng theo tiêu chuẩn Basel, vẫn còn thiếu 10.000 tỷ đồng”. * Basel III: 24 Đối với Basel III, hiện chưa có bất kì quy định nào bắt buộc phải áp dụng toàn bộ tiêu chuẩn này cho các ngân hàng Việt Nam. Tuy nhiên, một số ngân hàng đã tiên phong trong việc triển khai Basel III. Ý thức được tầm quan trọng của quản trị rủi ro, dù Basel II là yêu cầu cao nhất của cơ quan quản lý tại Việt Nam hiện nay, nhưng nhiều ngân hàng đã bắt tay vào việc triển khai Basel III với nhiều tiêu chí khắt khe hơn. Basel III nhằm bổ sung, khắc phục những hạn chế của Basel II, chủ yếu là về quản trị thanh khoản, giúp ngân hàng chống chịu trước các rủi ro và ngăn ngừa tổn thất hệ thống. Các ngân hàng từng tiên phong trong Basel II cũng tiếp tục dẫn đầu triển khai Basel III. Chẳng hạn như VIB đã triển khai áp dụng các chỉ số quản trị rủi ro theo chuẩn mực Basel III từ năm 2020. VIB cùng với Vietcombank là những ngân hàng tiên phong trong việc triển khai bộ tiêu chuẩn củng cố chất lượng về vốn và đặc biệt là năng lực thanh khoản. Ngoài ra, nhiều ngân hàng khác như: TPBank, MSB, SeABank, MSB… đã tích cực áp dụng Basel III thời gian qua và một số đã công bố hoàn thành được hết các yêu cầu. Tháng 9/2022, Tổ chức xếp hạng Moody’s Investors Service (Moody’s) đã nâng xếp hạng của 12 ngân hàng Việt Nam, trong đó đều là những cái tên tiên phong trong quản trị rủi ro tại thị trường Việt Nam. Điều này khẳng định, uy tín của nhiều ngân hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế ngày càng được củng cố và nâng cao thông qua việc thực hiện tốt Basel II. 2.2.3 Thực trạng triển khai Hiệp ước Basel vào hệ thống NH Việt Nam trong thời gian vừa qua Việt Nam không phải là quốc gia thành viên của Uỷ ban Basel, và việc áp dụng Basel ở các hệ thống Ngân hàng không phải là bắt buộc đối với tất cả các quốc gia. Tuỳ thuộc vào định chế tài chính, và một số tiêu chí nhất định, mỗi quốc gia có thể lựa chọn phương thức tiếp cận/áp dụng Hiệp ước Basel phù hợp, theo đó, có 02 cơ chế như sau: Cơ chế áp dụng: thực hiện tại các quốc gia là thành viên của Uỷ ban Basel, bắt buộc áp dụng toàn bộ tiêu chuẩn của Basel Cơ chế tiếp cận: quốc gia (không là thành viên của Uỷ ban Basel) lựa chọn áp dụng một hoặc một số tiêu chuẩn của Basel phù hợp với hệ thống ngân hàng, thể chế, tiêu chuẩn riêng cũng như thể trạng (tài chính) của quốc gia đó. Tại Việt Nam, thực hiện theo cơ chế tiếp cận, có thể nói, hiện nay chưa có ngân hàng nào của Việt Nam thực hiện Basel, khung pháp lý ngân hàng của Việt Nam ban hành các quy định trên cơ sở một số tiêu chí phù hợp với Việt Nam và chọn lọc áp dụng giữa Basel I, Basel II, Basel III không triệt tiêu nhau, một số tiêu chí nổi bật trong hệ thống ngân hàng 25 Việt Nam hiện nay áp dụng từ Base có thể nhắc đến gồm: (i) yêu cầu về vốn, (ii) thanh tra giám sát, (iii) công khai thông tin theo nguyên tắc thị trường. a. Yêu cầu về vốn Tháng 5/2005, các NHTM Việt Nam đã cụ thể hơn trong việc áp dụng một số tiêu chuẩn của Basel I, thông qua việc tuân thủ các quy định trong Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, thay thế cho các Quyết định 296/1999/QĐ-NHNN và Quyết định 297/1999/QĐ-NHNN. Theo đó, các NHTM Việt Nam đã duy trì tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu bằng 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “Có” rủi ro quy đổi. Vốn tự có của ngân hàng được chia thành 2 thành phần: vốn cấp 1 và vốn cấp 2. Tài sản “Có” rủi ro quy đổi bao gồm: tài sản “Có” rủi ro nội bảng và tài sản “Có” rủi ro của các cam kết ngoại bảng. Các tài sản “Có” nội bảng được phân nhóm theo 4 nhóm có hệ số rủi ro tương ứng là 0%, 20%, 50%, 100%. Các tài sản “Có” rủi ro của các cam kết ngoại bảng sau khi chuyển đổi về nội bảng được phân chia làm 3 nhóm có hệ số rủi ro tương ứng là 0%, 50% và 100%. Tuy nhiên, yêu cầu vốn chỉ tính đến rủi ro tín dụng mà chưa tính đến rủi ro thị trường như bản sửa đổi Basel I. Tại Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ban hành quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu vẫn là 8%, không thay đổi so với quyết định 297 nhưng phương pháp tính đã tiệm cận với các tiêu chuẩn Basel I. Thời điểm ban hành và thực hiện quyết định 457, vốn tự có của các NHTM tăng nhanh do sự bùng nổ của thị trường chứng khoán năm 2006 – 2008, tạo thuận lợi cho các NHTM Việt Nam tăng vốn thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường. Đến cuối năm 2010, một số NHTM đã thực hiện tăng mức vốn tự có (vốn pháp lý) theo quy định để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Do đó, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của toàn hệ thống ngân hàng có tăng lên, nhưng vẫn chưa đảm bảo mức tăng theo tiêu chuẩn tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do tốc độ tăng trưởng tín dụng ở giai đoạn này quá nóng, đạt tới 37,73% vào năm 2009 và 27,65% năm 2010 (theo báo cáo của NHNN). Đó là kết quả của các giải pháp kích thích kinh tế, nới lỏng chính sách tiền tệ, cơ chế hỗ trợ lãi suất... dẫn đến nhu cầu vay vốn tăng cao khiến cho tổng tài sản rủi ro của các NHTM tăng lên và kết quả là các NHTM trong nhóm trên đều có xu hướng sụt giảm tỷ lệ an toàn vốn. Năm 2010, NHNN ban hành Thông tư 13/TT-NHNN thay thế Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN nâng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu lên 9% và với tinh thần từng bước tiếp cận Basel II. Trên thực tế áp dụng, tính trung bình cho toàn hệ thống NHTM Việt Nam, đã đảm bảo được con số này tuy còn một số các ngân hàng chưa đáp ứng được. Đối với khối NHTMCP, các ngân hàng quy mô lớn đều có xu thế đạt được yêu cầu mới của NHNN về tỷ lệ an toàn vốn. Trái lại, các NHTMCP nhỏ thực sự gặp khó khăn trước yêu cầu tăng vốn tự có nhằm đảm bảo an toàn. Trước thực trạng này, NHNN đã ban hành Thông tư 36/2014/TT-NHNN thay thế Thông tư 13/2010/TT-NHNN, với phương pháp 26 tiếp cận nhiều hơn các nội dung của Basel II, nhưng tỷ lệ an toàn vốn vẫn quy định tối thiểu ở mức 9%. Bên cạnh việc thay đổi, bổ sung các thuật ngữ, Thông tư 36 yêu cầu ban hành nhiều quy định nội bộ về cấp tín dụng, đánh giá chất lượng tài sản và tuân thủ tỷ lệ CAR, quản lý thanh khoản. Việc yêu cầu ban hành các quy định nội bộ này nhằm nâng cao năng lực quản lý rủi ro, đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Tuân thủ theo Thông tư 36/2014, tình hình an toàn vốn của hệ thống ngân hàng Việt Nam thời gian qua đã đạt được kết quả như sau: Đối với nhóm các NHTM Nhà nước và NHTM CP mà Nhà nước chiếm cổ phần chi phối (gọi tắt là NHTM Nhà nước) có hệ số CAR trung bình thấp nhất song vẫn đạt trên 10%. Tuy nhiên, tỷ lệ này đang có xu hướng giảm ở cả khối NHTM Nhà nước và NHTMCP đã làm cho hệ số CAR của cả hệ thống duy trì ở mức xấp xỉ 11,5% trong 3 năm gần đây. Một số chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng cho rằng, hệ số CAR duy trì ở mức từ 10-13% trong điều kiện Việt Nam hiện nay là khá mỏng. Mặc dù được đánh giá là đã tiếp cận khá gần với quy định trong Basel II song Thông tư 36 mới chỉ tính đến vốn cấp 1 và vốn cấp 2 trong vốn tự có và tính đến rủi ro tín dụng trong tài sản có điều chỉnh rủi ro (TSCĐCRR), chưa tính đến rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Ngoài ra, trong Thông tư 36 không yêu cầu báo cáo thông tin, chưa đề cập đến việc giám sát rủi ro thị trường, gồm các trạng thái rủi ro thị trường. Như vậy, nếu xét trên 3 trụ cột của Basel II thì Thông tư 36 còn có nhiều hạn chế. Vì vậy, ngày 30/12/2016, NHNN đã ban hành Thông tư 41/2016/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với các ngân hàng ở Việt Nam. Có thể nói, nội dung trong Thông tư 41 tiệm cận gần 100% nội dung của Basel II. Thông tư 41 tiếp cận cả 3 trụ cột của Basel II đó là: quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8%, trong đó yêu cầu vốn cho 3 loại rủi ro (rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động); Giám sát và đánh giá mức vốn nội bộ; Chế độ báo cáo và công bố thông tin, đảm bảo yêu cầu minh bạch thông tin theo nguyên tắc thị trường. Hiện nay các NHTM ở Việt Nam nói chung và 10 ngân hàng được lựa chọn thí điểm triển khai Thông tư 41 nói 27 riêng đang gấp rút chuẩn bị các điều kiện để áp dụng tiêu chuẩn Basel II theo đúng lộ trình mà Ngân hàng Nhà nước đã đề ra, hiệu lực thực hiện từ ngày 1/1/2020 (riêng Vietcombank, VIB đã được NHNN trao quyết định thực hiện chuẩn mực an toàn vốn Basel II trước thời hạn. OCB dù không thuộc danh sách 10 NHTM thí điểm song cũng đã được NHNN chấp thuận áp dụng Basel II). b. Thanh tra giám sát Hoạt giám sát không chỉ nhằm đảm bảo rằng các ngân hàng có đủ vốn để chống đỡ tất cả các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh mà còn khuyến khích các ngân hàng phát triển và sử dụng các kỹ thuật quản lý rủi ro tốt hơn để kiểm soát và giảm thiểu rủi ro. Hoạt động giám sát không chỉ từ NHNN mà còn từ chính bản thân NHTM. - Về phía NHNN và các cơ quan quản lý khác: Hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN đối với NHTM dựa trên Luật các TCTD 2010 và Luật số 17/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật các TCTD; Nghị định số 26/2014/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thanh tra, giám sát ngân hàng; Thông tư số 03/2015/TT-NHNN về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 26; Thông tư 36/2016/TT-NHNN về trình tự, thủ tục thanh tra chuyên ngành ngân hàng. Thời gian qua, NHNN đã thực hiện đánh giá về các mô hình tổ chức, hoạt động, hạ tầng cơ sở trong hỗ trợ hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng; ban hành khung pháp lý cho hoạt động thanh tra, giám sát theo các nguyên tắc của Ủy ban Basel như: tổ chức giám sát được thực hiện theo cả 2 phương pháp là giám sát từ xa (thông qua việc tuân thủ hệ số CAR và các tỷ lệ đảm bảo an toàn) và thanh tra tại chỗ theo các nguyên tắc giám sát của Basel (nguyên tắc 20). Tuy nhiên, theo Luật các TCTD, không có quy định nào yêu cầu NHTM phải ban hành các quy định về quản lý rủi ro và quy trình đánh giá mức độ đủ vốn nội bộ (ICAAP). Do vậy, để triển khai Basel II, NHNN đã ban hành Thông tư 13/2018/TT-NHNN về hệ thống kiểm soát nội bộ NHTM, lồng ghép các quy định về hệ thống quản lý rủi ro và quy trình đánh giá mức độ đủ vốn nội bộ vào thông tư này. Đây chính là mấu chốt của trụ cột II và cũng là mấu chốt của khung Basel II. - Về phía các NHTM: Hiện nay các NHTM thực hiện kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ theo quy định tại Thông tư số 44/2011/TT-NHNN. Theo đó, các TCTD đã bước đầu triển khai xây dựng và thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống quản lý rủi ro. Theo đánh giá của NHNN, đây là văn bản pháp lý đầu tiên của NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của NHTM, do đó chỉ mang tính khái quát. Trong khi đó, các quy định nội bộ có liên quan của các NHTM còn sơ sài, còn có nhiều “lỗ hổng” chưa đủ nội dung cần thiết về đánh giá mức độ đủ vốn nội bộ nhằm thực hiện trụ cột II khi triển khai Basel II. 28 Với việc áp dụng Thông tư 13/2018/TT-NHNN, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2019 và một số ngân hàng sẽ thực hiện từ ngày 1/1/2021; các NHTM phải tuân thủ: giám sát của quản lý cấp cao (bao gồm sự giám sát của HĐQT, HĐTV, ngân hàng mẹ, Ban kiểm soát và Ban điều hành); Quản lý rủi ro; Đánh giá mức độ đủ vốn nội bộ (ICAAP). Tuy nhiên, đa số các NHTM Việt Nam mới đáp ứng được phần nhỏ về quy trình đánh giá mức độ đủ vốn nội bộ - ICCAP. Các ngân hàng: (i) chưa thực hiện xác định vốn mục tiêu (bao gồm việc tính toán vốn kinh tế) dựa trên rủi ro (bao gồm các rủi ro khác trên trụ cột II như rủi ro tập trung, rủi ro lãi suất trên sổ ngân hàng,…); (ii) chưa kiểm tra sức chịu đựng về vốn theo các kịch bản hoạt động bình thường (business as usual scenario) và kịch bản có diễn biến bất lợi (stress scenario) để tính toán vốn bổ sung (buffer) hoặc điều chỉnh vốn mục tiêu, khẩu vị rủi ro; (iii) chưa lập kế hoạch vốn (xác định nguồn tăng vốn dự kiến và phân bổ vốn mục tiêu cho hoạt động kinh doanh) và (iv) chưa giám sát, có báo cáo nội bộ về mức đủ vốn. c. Công khai thông tin theo nguyên tắc thị trường Hiện nay, các ngân hàng đang chấp hành các quy định về công bố thông tin, chế độ báo cáo thống kê của NHNN theo Thông tư 35/2015/TT-NHNN quy định chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với các TCTD, chi nhánh NHNNg; Thông tư 11/2018/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 35/2015/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 1/10/2018 và các công văn yêu cầu riêng biệt khác của NHNN (CQTTGSNH). Do đó, các ngân hàng thí điểm Basel II vẫn còn khoảng cách lớn đối với yêu cầu của Basel II đối với trụ cột III (bao gồm công bố thông tin định tính, định lượng về mức đủ vốn, công bố mức độ rủi ro và kỹ thuật đo lường rủi ro, công bố quy trình đánh giá nội bộ về mức đủ vốn, công bố tiêu chí xác định mức độ trọng yếu,…). 2.3. Nhận xét chung về tình hình triển khai hiệp ước Basel tại hệ thống NH Việt Nam. Tại sao Basel không bắt buộc nhưng Việt Nam vẫn thực hiện? Basel là một hệ thống các quy tắc và tiêu chuẩn được thiết lập bởi Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision - BCBS), được tạo ra để tăng cường ổn định của hệ thống ngân hàng toàn cầu bằng cách đặt ra các yêu cầu về vốn ngân hàng. Mặc dù các quy tắc Basel không phải là bắt buộc pháp lý, nhưng nhiều quốc gia và khu vực đã chọn áp dụng chúng để cải thiện sự ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng trong nước. Việt Nam, giống như nhiều quốc gia khác, thấy rằng việc áp dụng các nguyên tắc của Basel có thể mang lại nhiều lợi ích. Áp dụng các tiêu chuẩn Basel là yêu cầu tất yếu đối với các ngân hàng Việt Nam nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh trước những biến 29 động khó lường của thị trường tài chính. Nếu như các ngân hàng trên thế giới đã áp dụng các tiêu chuẩn Basel II từ 13 năm về trước, và hiện nay đang hoàn thành chuẩn Basel III, thì phần lớn các ngân hàng ở Việt Nam vẫn chưa chính thức công bố áp dụng chuẩn Basel II, ngoại trừ Ngân hàng TMCP Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB) và Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB). Điều này ảnh hưởng phần nào đến sự an toàn cũng như làm giảm năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới. Áp dụng Basel giúp đảm bảo dữ liệu về mức an toàn vốn có thể so sánh được giữa các ngân hàng. Bên cạnh đó, các yêu cầu về vốn phải dựa trên mức độ rủi ro, khi đó, nếu rủi ro tăng thì các tổ chức tín dụng cần phải tăng vốn, qua đó giúp tăng cường sự ổn định của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đây là một số lý do mà Việt Nam nỗ lực thực hiện các quy tắc Basel: Tăng cường ổn định tài chính: Các yêu cầu về vốn và quản lý rủi ro của Basel giúp tăng cường ổn định tài chính của các ngân hàng, giảm khả năng xảy ra các vấn đề tài chính và suy thoái kinh tế. Tăng cường niềm tin của nhà đầu tư và người tiêu dùng: Việc thực hiện các tiêu chuẩn của Basel có thể tăng cường niềm tin của nhà đầu tư và người tiêu dùng vào hệ thống ngân hàng, giúp thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Quyết định của tổ chức quốc tế: Việt Nam có thể muốn tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế để duy trì hoặc nâng cao uy tín quốc tế, tăng cơ hội thu hút đầu tư và tham gia vào cộng đồng tài chính toàn cầu. Ngăn chặn rủi ro tài chính: Việc áp dụng các quy tắc Basel giúp ngăn chặn và quản lý rủi ro tài chính, giảm khả năng xảy ra các vấn đề lớn trong hệ thống ngân hàng. Đồng bộ hóa quy định quốc tế: Thực hiện các tiêu chuẩn Basel giúp Việt Nam đồng bộ hóa quy định và phương pháp giám sát với các quốc gia khác, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác quốc tế. Mặc dù có những ưu điểm, việc thực hiện các quy tắc Basel cũng đôi khi đối mặt với thách thức, đặc biệt là đối với các ngân hàng nhỏ và mới nổi. Tuy nhiên, việc nỗ lực này có thể mang lại lợi ích lớn cho sự ổn định và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng và kinh tế Việt Nam. 2.3.1 Về mặt cơ hội a. Đối với ngành ngân hàng Việt Nam Đánh giá toàn diện hoạt động của ngân hàng: Áp dụng Basel cho phép các ngân hàng định lượng được rủi ro cho mọi hoạt động. Lượng hóa được rủi ro sẽ giúp NHTM lượng hóa 30 đượ cvốn cần thiết cho mỗi giao dịch. Kết quả kinh doanh sẽ được so sánh đối chiếu với mức vốn cần thiết để đảm bảo an toàn, các ngân hàng từ đó có cái nhìn rõ hơn tỷ suất lợi nhuận tươngứng với mức độ rủi ro cho các hoạt động. Với Basel, mọi rủi ro đều phải được lượng hóa bằng con số cụ thể và con số này sẽ chỉ ra rằng ngân hàng cần bao nhiêu vốn để có thể bù đắp được cho rủi ro. Như vậy, nếu như hiện nay việc hoạch định chiến lược kinh doanh chủ yếu dựa vào lợi nhuận mà hoạt động kinh doanh ấy mang lại, yếu tố rủi ro chỉ tác động ở một mức độ khiêm tốn, thì sau khi Basel được áp dụng, vai trò của rủi ro sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Đây thực sự là điều rất cần thiết cho các nhà quản trị ngân hàng tại Việt nam hiện nay. Basel không chỉ định lượng rủi ro trong hiện tại mà quan trọng hơn là định lượng rủi ro cho tương lai với 1 xác suất chính xác đã được các ngân hàng trên thế giới chấp nhận. Như thế, các nhà quản trị ngân hàng, tùy thuộc vào nhận định chung, kinh nghiệm và khẩu vị rủi ro sẽ chủ động đánh giá mức độ rủi ro nào được chấp nhận và rủi ro nào cần được điều chỉnh. Các quyết định kinh doanh không chỉ với kỳ vọng từ thị trường mà còn ở chính mức độ rủi ro đã được lượng hóa ngay tại thời điểm đưa ra quyết định kinh doanh. Nói một cách khác, Basel vẽ nên một bức tranh toàn diện với đầy đủ mảng sáng, mảng tối về hoạt động kinh doanh cho các nhà quản trị, giúp cho các nhà quản trị đưa ra quyết định phù hợp. - Phòng tránh rủi ro trong tương lai: Sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007, vấn đề các ngân hàng có thể tồn tại hay không trong giai đoạn thị trường khắc nghiệt đã trở thành mối quan âm lớn. Basel đã bổ sung các đánh giá sức chịu đựng của ngân hàng qua các kiểm nghiệm sức chịu đựng (Stress-Test). Với các cuộc kiểm nghiệm định kỳ, các nhà quản lý hoàn toàn nắm rõ sức chịu đựng của ngân hàng mình dưới tác động của thị trường trong tình trạng khắc nghiệt. Như thế, với nhận thức về rủi ro, các thành viên của thị trường tài chính sẽ phản ứng có trách nhiệm hơn cho tính ổn định của thị trường. b. Đối với nền kinh tế Việt Nam Việc triển khai Hiệp ước Basel không chỉ tác động đến nền kinh tế của những quốc gia áp dụng mà còn tác động đến chính hệ thống ngân hàng của quốc gia đó. Để đáp ứng được các yêu cầu của Hiệp ước Basel với các tiêu chuẩn quốc tế về an toàn vốn và thanh khoản, các ngân hàng sẽ cần hoạch định lại hoạt động kinh doanh và các chiến lược kinh doanh một cách tích cực hơn. Trong khuôn khổ Basel, các công cụ và phương pháp quản lý rủi ro tiên tiến được triển khai đảm bảo tăng cường ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng: Basel giúp ngăn chặn rủi ro và giảm khả năng xảy ra các vấn đề tài chính trong hệ thống ngân hàng.Điều này giúp bảo vệ tiền gửi của người dân và duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, từ đó đảm bảo sự tin tưởng và sự ổn định của nền kinh tế. 31 Tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế: Áp dụng Basel giúp quốc gia phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế. Điều này có thể thu hút vốn đầu tư nước ngoài và tăng cường sự tin tưởng của các nhà đầu tư quốc tế vào thị trường quốc gia. Nâng cao uy tín và danh tiếng quốc gia: Việc tuân thủ các quy tắc và tiêu chuẩn của Basel giúp nâng cao uy tín và danh tiếng quốc gia trong cộng đồng quốc tế. Quốc gia được coi là tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế và có hệ thống ngân hàng an toàn và ổn định sẽ thu hút sự quan tâm và tín nhiệm từ các quốc gia khác. 2.3.2 Về mặt khó khăn a. Đối với Ngân hàng thương mại Thứ nhất, khó khăn đến từ các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế: Môi trường tài chính luôn biến đổi không ngừng. Sẽ có những rủi ro các ngân hàng không thể lường trước. Như tình hình dịch bệnh Covid các năm qua là yếu tố không ngờ tới, diễn biến dịch phức tạp và kéo dài đã gây ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế, ảnh hưởng đến các chỉtiêu nguồn vốn, tăng trưởng tín dụng, nợ xấu. Từ đó ảnh hưởng đến quá trình áp dụng Basel của các bank. Ở Việt Nam, chất lượng thông tin đầu vào còn thiếu minh bạch. Phần lớn các báo cáo tàic hính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ không được kiểm toán, các doanh nghiệp được kiểm toán thì chất lượng kiểm toán còn thấp, có sự sai lệch giữa kết quả kiểm toán với thực tế. Các quy định trong Hiệp ước Basel rất phức tạp, được thiết kế và xây dựng dựa trên kinhnghiệm phát triển và cơ sở hạ tầng của các thị trường tài chính phát triển. Do đó, khi áp dụngvào Việt Nam đòi hỏi nhận thức tương xứng của người điều hành cấp cao về quản lý để đápứng được yêu cầu theo thông lệ quốc tế và cần điều chỉnh sao cho phù hợp với môi trường tàichính của nước ta. Thứ hai, khó khăn từ sự thiếu hụt về số lượng và chất lượng nguồn cơ sở dữ liệu, cũng nhưhạ tầng công nghệ thông tin. Lượng dữ liệu mà ngân hàng cần để áp dụng Basel rất lớn. Uỷ ban Basel nhận định các ngân hàng cần đến hai nguồn dữ liệu gồm dữ liệu nội bộ và dữ liệu bên ngoài, nguồn dữ liệu khôngchỉ phải đáp ứng về lượng (đầy đủ) mà còn phải đảm bảo. về chất (chất lượng, tính chính xáccủa nguồn dữ liệu) thì mới đảm bảo các yêu cầu của Basel. Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lý dữ liệu do thiếukhung quản trị và chính sách rõ ràng. Dẫn đến việc dữ liệu bị phân tán, lưu trữ không khoahọc, và tồn tại dưới nhiều định dạng khác nhau. Sự thiếu đồng nhất này gây khó khăn trongviệc thu thập và tổng hợp dữ liệu, làm giảm chất lượng và độ tin cậy của nguồn dữ 32 liệu. Cộngthêm việc quản lý cơ sở dữ liệu không tập trung, mà thay vào đó, được thực hiện bởi nhiềuđơn vị khác nhau với mục đích khác nhau, dẫn đến tình trạng vừa thừa vừa thiếu dữ liệu.Điều này đặt ra thách thức lớn về kiểm soát và quản lý chặt chẽ dữ liệu trong ngân hàng. Thứ ba, khó khăn đến từ sự phát triển của các cơ quan xếp hạng tín nhiệm Tại Việt Nam. Hiện nay hệ thống XHTD độc lập còn non kém; hệ thống thông tin cơ sở chưa thực sự đủlớn, đa dạng và có chất lượng. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng XHTD tại các NHTM Việt Nam, khi mà hệ thống XHTDNB tại mỗi NHTM chưa thực sự thống nhất, và cần có một cơ sở tham khảo về hạng tín dụng khách hàng để tham chiếu và số khách hàng cóxếp hạng tín nhiệm là quá ít so với quy mô toàn thị trường. Thứ tư, khó khăn đến chi phí tài chính. Để triển khai Basel, đòi hỏi các ngân hàng phải có nguồn tài chính rất lớn. Theo báo cáo nghiên cứu thị trường Trung Quốc của công ty Ernst & Young, tùy theo quy mô, độ phức tạpvà năng lực tài chính của từng ngân hàng, ngân sách để triển khai Basel ( cụ thể là Basel II )có thể dao động từ 10- 15 triệu USD. Mức chi phí này chưa bao gồm chi phí dành cho RRHĐvà RRTT. Tại Việt Nam, các ngân hàng quy mô vốn còn nhỏ, rủi ro chủ yếu tập trung vào RRTD nên chi phí sẽ thấp hơn nhưng cũng không dưới 5 triệu USD, đây là con số không hề nhỏ khi mànhiều ngân hàng Việt Nam năng lực tài chính còn hạn hẹp. Thứ năm, khó khăn đến từ nguồn nhân sự. Nguồn nhân sự là yếu tố quan trọng, và cũng là bài toán khó trong quá trình áp dụng Basel tại các ngân hàng Việt Nam. Các hiệp ước vốn Basel đòi hỏi các ngân hàng phải có nguồn nhân sự đảm bảo về mặt số lượng và chất lượng, bởi lẽ, Basel là Chương trình diễn ra trong thời gian dài, việc tuyển dụng, đào tạo để đáp ứng yêu cầu đặt ra, bên cạnh đó còn phải đảm bảocơ hội nghề nghiệp cho các cá nhân tham gia là một vấn đề cần được quan tâm. Tại Việt Nam, hiện nay nguồn nhân lực đang thiếu hụt. Kinh nghiệm và trình độ chuyên môn của cán bộ ngân hàng chưa đáp ứng đủ yêu cầu về các quy định của Hiệp ước vốn Basel ( cụ thể là Basel II ). Việc áp dụng các thông lệ quốc tế tiên tiến vào hoạt động trong ngân hàngđòi hỏi một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, có mức độ hiểu biết vừa tổng hợp,vừa chuyên sâu về kinh tế, pháp luật, ngoại ngữ... Có như vậy mới hiểu và có thể áp dụngđược các yêu cầu khắt khe về quy định của Basel vào trong ngân hàng. b. Đối với Ngân hàng nhà nước Thứ nhất, hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. 33 Chưa có văn bản hướng dẫn đầy đủ về việc thực hiện Basel II. Theo quy đinh ̣ trong Hiệp ước Basel II, các NHTM đươ ̣c lựa cho ̣n một trong ba phương pháp đánh giá rủi ro tin ́ du ̣ng và tin ́ h toán tỷ lệ an toàn vố n theo từng phương pháp với sự đồ ng ý của cơ quan giám sát và phù hơ ̣p với năng lực hiện ta ̣i của từng ngân hàng. Tuy nhiên, văn bản hướng dẫn hiện hành của NHNN (Thông tư số 36/2014/TT-NHNN) mới chỉ dừng lại ở việc thay đổi các quy định đối với giới hạn tín dụng, tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn với các điều chỉnh chủ yếu về kỹ thuật tính toán và mức quy định tỷ lệ. Tỷ lệ an toàn vốn vẫn dừng lại ở việc đo lường rủi ro tín dụng theo phương pháp cơ bản mà chưa đề cập đến các phương pháp khác, cũng như rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường. Đến cuối năm 2016, NHNN ban hành Thông tư số 41/2016/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 01/01/2020 tiếp cận đầy đủ 3 trụ cột của Basel II, gồm tỷ lệ an toàn vốn theo 3 loại rủi ro (rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động), giám sát và công bố thông tin. Đến tháng 06/2019, NHNN mới đưa ra Quyết định số 20/2019/QĐ-TTg Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cơ cấu tổ chức của cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc NHNN Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động của cơ quan vẫn chưa thực sự hiệu quả khi mà quyết định vẫn chưa đưa ra được nhữngquy định về cơ chế phối hợp trong công tác thanh tra, giám sát giữa NHNN và các cơ quan có liên quan và NHTM. Những quy định hiện tại chỉ đưa ra các quy định về phối hợp giữaNHNN với NHTM dừng lại ở các báo cáo về hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ của các NHTM, cơ quan thanh tra, giám sát NHNN vẫn chưa thể hiện được vai trò định hướng của mình mà việc thanh tra giám sát hiện vẫn chủ yếu về giám sát tuân thủ chứ chưa thực sự dựa trên yếu tố về rủi ro. Mặc dù thời kỳ bao cấp đã qua rất lâu, nhưng thực tế, ở nước ta hiện nay vẫn còn tình trạng bao cấp, đặc quyền, thiên vị và độc quyền kinh doanh của NHTM. Ha ̣n chế về hoạt động giám sát. Việt Nam hiện thực hiện giám sát tài chính theo mô hình phân tán, nặng về giám sát tuân thủ hơn giám sát rủi ro. Trong khi đó, nói đế n hệ thố ng tài chin ́ h là nói đế n những rủi ro có tin ́ h hệ thố ng, là những rủi ro trong từng liñ h vực và rủi ro chéo từ liñ h vực này sang liñ h vực khác. Thứ hai, đối với khung giám sát tuân thủ nguyên tắc thị trường, minh bạch thông tin, hiện tại chưa có khuôn khổ pháp lý đầy đủ và hoàn thiện cho các NHTM. TT 41 cũng có quy định về một số loại báo cáo mà các NHTM bắt buộc phải thực hiện để đạt chuẩn Basel II, nhưng nội dung báo cáo vẫn còn rất chung chung, chỉ dừng lại ở cung cấp các số liệu bắt buộc mà chưa có yếu tố phân tích trong đó. Ngoài ra, các quy định về báo cáo tàichính, về công khai minh bạch thông tin, về hệ số an toàn vốn vẫn chưa được quy định thốngnhất tại một văn bản cụ thể mà nằm rải rác ở nhiều văn bản, làm cho công 34 tác tổng hợp thông tin và xây dựng báo cáo của các NHTM gặp khó khăn, việc thu thập và phân tích thông tin của các nhà đầu tư cũng bị ảnh hưởng. Thứ ba, hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam vẫn còn nhiều khác biệt so với chuẩn mực kế toán quốc tế dẫn đến các số liệu trên báo cáo tài chính (là nguồn dữ liệu đầu vào cho các mô hình tính toán vốn, mô hình lượng hóa rủi ro...) không được phản ánh chính xác và đầy đủ,đáp ứng chuẩn quốc tế. Các vấ n đề liên quan đế n chuẩ n mực báo cáo. Hiện nay, các NHTM Việt Nam đang thực hiện báo cáo theo các chuẩ n mực kế toán của Việt Nam (VAS) và các chuẩ n mực kế toán quố c tế (IFRS). Khi thực hiện báo cáo theo hai chuẩ n mực này hoặc thuê các tổ chức xế p ha ̣ng tin ́ nhiệm độc lập trong nước và ngoài nước đánh giá thì kế t quả khá khác biệt. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ hòa hợp giữa VAS với IAS/IFRS liên quan đến 10 chuẩn mực được chọn nghiên cứu ở mức bình quân là 68%. VAS có một số hạn chế như: VAS chưa có các quy định cho phép tài sảnvà nợ phải trả được đánh giá lại theo giá trị hợp lý tại thời điểm báo cáo; quy định báo cáo tàichính không bắt buộc phải báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu.....; Trong khi, các nước trên thếgiới hiện đã cập nhật các chuẩn mực kế toán tiên tiến là IFRS, Việt Nam vẫn chưa có chuẩn mực kế toán nào tương đương với IFRS. 35 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI BASEL TẠI HỆ THỐNG NH MỸ 3.1 Khái quát về hệ thống NH Mỹ 3.1.1 Ngân hàng Liên bang Mỹ (FED) Thành lập năm 1913 theo Federal Reserve Act (Đạo luật dự trữ liên bang) được Quốc Hội Mỹ thông qua, FED là tổ chức độc lập với chính phủ và Quốc hội Mỹ. Trụ sỡ chính của FED hiện nay ở Washington, D.C. Điều hành FED là Ủy ban Thống đốc gồm bảy thành viên do Tổng thống Mỹ bổ nhiệm và Thượng viện Mỹ phê chuẩn, nhiệm kỳ kéo dài đến 14 năm để khỏi chịu tác động chính trị. Riêng chủ tịch và phó chủ tịch có nhiệm kỳ bốn năm. Chủ tịch FED do Tổng thống bổ nhiệm, 2 thành viên khác của FED đại diện cho Chính phủ là Bộ Tài chính và Kho bạc Mỹ, còn lại là các ông chủ ngân hàng tư nhân. Trong đó, Tổng thống chỉ được quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm 1 thành viên trong vòng 2 năm. Như vậy, 1 nhiệm kỳ Tổng thống 4 năm thì Tổng thống chỉ được quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm 2 thành viên trong Hội đồng Thống đốc FED. Nếu nhiệm kỳ Tổng thống kéo dài 8 năm (2 nhiệm kỳ) thì quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm chỉ được tối đa 4 người, và 4 người này phải được Thượng viện thông qua. FED gồm 12 ngân hàng địa phương và 25 chi nhánh ở khắp nước Mỹ nên chính thức mà nói, đây là hệ thống ngân hàng trung ương chứ không phải là một ngân hàng trung ương riêng lẻ. Nhiệm vụ của FED: Thực thi chính sách tiền tệ quốc gia , giám sát và quản lý các tổ chức tín dụng, duy trì sự ổn định của nền kinh tế , cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức quản lý tài sản có giá trị, các tổ chức chính thức nước ngoài, và chính phủ Hoa Kỳ, đóng vai trò chủ chốt trong vận hành hệ thống chi trả quốc gia: Kiểm soát cung ứng tiền tệ: FED kiểm soát quy mô nguồn cung ứng tiền tệ bằng các hoạt động thị trường mà qua đó FED mua hoặc cho mượn các loại trái phiếu, giấy tờ có giá. Những tổ chức tham gia mua bán với FED gọi là người giao dịch ưu tiên (primary dealers). Tất cả hoạt động thị trường của FED ở Hoa Kỳ đều tiến hành tại bàn giao dịch thị trường của Ngân hàng dự trữ liên bang khu vực New York với mục đích là đạt được tỷ lệ lãi suất trái phiếu liên bang gần với tỷ lệ mục tiêu, gồm: Thỏa thuận mua lại: Thực chất của hoạt động này là cho vay hoặc đi vay có thế chấp. Để đảm bảo những thay đổi nguồn cung tiền tệ theo chu kỳ hoặc tạm thời, bàn giao dịch thị trường của NHDT liên bang New York tham gia các thỏa thuận mua lại với những nhà giao dịch ưu tiền. Các mua bán chủ yếu là các khoản cho vay ngắn hạn, có đảm bảo của FED. Trong ngày giao dịch, FED sẽ đặt tiền vào tài khoản của người giao dịch và nhận thế chấp (là các giấy tờ chứng nhận sở hữu như cổ phiếu, trái phiếu, v.v..). Khi hết hạn giao 36 dịch, quá trình diễn ra ngược lại FED hoàn lại chứng khoán và nhận lại tiền cùng lãi. Thời hạn giao dịch có thể thay đổi từ 1 ngày (cho vay qua đêm) tới 65 ngày, phần lớn giao dịch là cho vay qua đêm và 14 ngày. Giao dịch mua đứt: Một công cụ khác của bàn giao dịch thị trường là mua đứt. Trong giao dịch này, FED mua lại trái phiếu chính phủ và cung cấp giấy bạc mới vào tài khoản của người giao dịch đặt tại FED. Bởi hoạt động này là mua đứt nên tăng cung tiền tệ lâu dài nhưng khi trái phiếu hết hạn khoản lãi vẫn được thu, thông thường là 12-18 tháng. 3.1.2. Hệ thống NHTM. Thực hiện chính sách tiền tệ: Mua và bán trái phiếu Chính phủ: Khi Cục dự trữ liên bang (FED) mua trái phiếu chính phủ, tiền được đưa thêm vào lưu thông. Bởi có thêm tiền trong lưu thông, lãi suất sẽ giảm xuống và chi tiêu, vay ngân hàng sẽ gia tăng. Khi FED bán ra trái phiếu chính phủ, tác động sẽ diễn ra ngược lại, tiền rút bớt khỏi lưu thông, khan hiếm tiền sẽ làm tăng lãi suất dẫn đến vay nợ từ ngân hàng khó khăn hơn. Quy định lượng tiền mặt dự trữ: Ngân hàng thành viên cho vay phần lớn lượng tiền mà nó quản lý. Nếu FED yêu cầu các ngân hàng này phải dự trữ một phần lượng tiền này, khi đó phần cho vay sẽ giảm đi, vay mượn khó hơn và lãi suất tăng lên. Thay đổi lãi suất của khoản vay từ FED: Các ngân hàng thành viên của FED vay tiền từ FED để trang trải các nhu cầu ngắn hạn. Lãi suất mà FED ấn định cho các khoản vay này gọi là lãi suất chiết khấu. Hoạt động này có ảnh hưởng, tuy nhỏ hơn, về số lượng tiền các thành viên sẽ được vay. Tỷ lệ chiết khấu: FED thực hiện chính sách tiền tệ chủ yếu bằng cách định hướng "lãi suất quỹ vốn tại Fed". Đây là tỷ lệ các ngân hàng ấn định với nhau cho khoản vay qua đêm các quỹ đặt cọc tại Cục dự trữ liên bang. Tỷ lệ này do thị trường quyết định chứ Fed không ép buộc. Tuy vậy, Fed sẽ cố gắng tác động tỷ lệ này ở con số phù hợp với tỷ lệ mong muốn bằng cách bổ sung hoặc hạn chế nguồn cung tiền tệ thông qua hoạt động của nó trên thị trường. 3.1.2 Các Ngân hàng Thương mại (NHTM) Là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Các nghiệp vụ của NHTM Huy động vốn: nhận tiền gửi, các loại tiền bao gồm: Tiền gửi có kỳ hạn; Tiền gửi không kỳ hạn: là loại tiền gửi có thể rút ra theo yêu cầu của người gửi mà không phải tôn trọng một kỳ hạn ký thác nào khác. Có nhiều loại tiền gửi không kỳ hạn: o Tiền gửi dùng séc: là loại tiền gửi dùng để chi trả các Séc và hối phiếu 37 o Tiền gửi tiết kiệm: là tiền gửi vào tài khoản tiết kiệm còn gọi là tài khoản dùng sổ. Đó là những khoản tiền gửi nhỏ, ổn định tương đối lâu ở tài khoản, được hưởng lãi, tương đối cao hơn lãi của tiền gửi thông dụng. Luật Mỹ cho phép ngân hàng có thể buộc người gửi tiết kiệm phải báo 30 ngày trước khi rút nhưng các ngân hàng không sử dụng quyền này, không đòi hỏi phải báo trước vì nó có thể bị giới hạn về ngạch số tiền gửi tối đa (100.000 USD) o Tiền gửi có thấu chi: ở Mỹ, có sự phối hợp gửi tiền vào tài khoản tiết kiệm và tài khoản dùng séc bằng cách gửi tiền vào tài khoản ATS Các loại tiền gửi đặc biệt của Hoa Kỳ: tiền gửi phối hợp giữa tiền gửi dùng séc và tiền gửi tiết kiệm vào nữhng tài khoản giao dịch bao gồm lệnh rút tiền giao dịch và dịch vụ chuyển ngân tự động. - Nghiệp vụ đầu tư vốn: Đầu tư chứng khoán: Nếu tính về thời hạn, có những chứng khoán rất ngắn hạn chỉ có 24h ở Mỹ có thoả ước mua lại do NHTM phát hành để vay trong 24h, có khi gọi là thoả ước qua đêm Cho vay: là hình thức thông dụng nhất của các định chế tài chính nói chung và của ngân hàng nói riêng trên khắp thế giới. Tại Mỹ, cho vay chiếm 60% tổng tích tài sản của NHTM 3.2 Lộ trình triển khai và thực hiện hiệp ước Basel tại hệ thống Ngân hàng Mỹ 3.2.1 Giới thiệu về khung pháp lý Vào khoảng thế kỷ 18 đến thế kỷ 19, yêu cầu về vốn của các ngân hàng Mỹ ít phức tạp hơn so với hiện này, như ở mục 7 của Đạo luật Ngân hàng Quốc giá năm 1864 quy định 50.000 USD và có thể khác nhau giữa các bang. Vào khoảng những năm 1864, các ngân hàng quốc gia được thành lập, các hạn chế liên quan đến số vốn tối thiểu yêu cầu rõ ràng rằng các ngân hàng phải nắm giữ một phần nợ phải trả dưới dạng tiền cụ thể, khiến nó trở thành một yêu cầu dự trữ cổ điển dần dần, tiền gửi trở nên quan trọng hơn. Vào những năm 1970, các cú sốc dầu mỏ và lạm phát đình trệ đã tạo ra một môi trường kinh tế vĩ mô không chắc chắn. Các doanh nghiệp lớn giảm sự phụ thuộc vào ngân hàng bằng cách tiếp cận thương phiếu và các sản phẩm khác trên thị trường vốn; người tiết kiệm chuyển sang các quỹ thị trường tiền tệ. Những nỗ lực cạnh tranh của các ngân hàng đã dẫn đến sự xói mòn của cơ chế quản lý Chính sách Kinh tế Mới, vốn dựa trên việc hạn chế các hoạt động và đầu tư, các cơ quan giám sát ngày càng chuyển sang điều tiết vốn để thay thế cho việc kiểm soát trực tiếp. Năm 1981, Văn phòng Kiểm soát Tiền tệ (OCC) và Cục Dự trữ Liên bang cùng ban hành tỷ lệ vốn chính thức, 5% vốn trên tài sản, trong khi Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC) ban hành riêng hướng dẫn 5%. Dưới áp lực cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ Latinh đầu những năm 80, 3 nước Mexico, Argentina và Brazil rơi vào nguy cơ vỡ nợ khiên cho Quốc hội Mỹ lo ngại mức độ dự trữ 38 vốn của các NHTW Mỹ là không đủ. Từ sự lo ngại này, Quốc hội Mỹ đã thông qua dự luật về nâng cao tỷ lệ vốn tối thiểu đối với Ngân hàng Mỹ (International Lending Supervision Act-ILSA 1983), nhưng họ đồng thời cũng lo ngại rằng sự căng thẳng về cạnh tranh và sự xung đột về kiểm soát giữa những ngân hàng đa quốc gia có thể xảy ra. Mỹ cùng với khối G10 đã cho ra đời Basel I vào năm 1988. Basel I đã đưa ra hai yêu cầu về vốn tối thiểu, một yêu cầu đối với vốn cốt lõi, được gọi là “cấp 1” ở mức 4% RWA, và một yêu cầu đối với tổng vốn, là tổng vốn cấp 1 cộng với các khoản bổ sung được gọi là vốn “cấp 2. Các cơ quan quản lý ngân hàng Mỹ đã thông qua các quy định thực hiện các yêu cầu về vốn dựa trên rủi ro của Basel I, có hiệu lực từ năm 1992 đối với tất cả các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm của Mỹ. Ngoài ra, các tổ chức này tiếp tục phải tuân theo yêu cầu về tỷ lệ đòn bẩy tối thiểu riêng biệt. Năm 2010, Quốc hội Mỹ đã yêu cầu nâng cao các yêu cầu về vốn ngân hàng như một phần của cải cách khu vực tài chính trong Đạo luật Cải cách Phố Wall và Bảo vệ người tiêu dùng Dodd-Frank năm 2010 (Đạo luật Dodd-Frank; PL 111-203, 124 Stat.1376). Cụ thể, Bản sửa đổi Collins của Dodd-Frank sửa đổi định nghĩa về vốn và thiết lập các yêu cầu về vốn và đòn bẩy tối thiểu cho các công ty con ngân hàng, công ty mẹ ngân hàng và các công ty tài chính phi ngân hàng quan trọng trong hệ thống. Ngoài ra, Dodd-Frank loại bỏ yêu cầu tham chiếu xếp hạng tín dụng khi đánh giá mức độ tin cậy của chứng khoán tài chính. Thay vào đó, các cơ quan quản lý ngân hàng liên bang Hoa Kỳ (tức là Cục Dự trữ Liên bang, Văn phòng Kiểm soát Tiền tệ và Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang) được yêu cầu tìm ra các tiêu chuẩn thích hợp khác để xác định rủi ro tài chính của việc nắm giữ danh mục đầu tư của ngân hàng khi thực thi các quy định về quản lý ngân hàng liên bang. yêu cầu về vốn bắt buộc. Sửa đổi này tóm tắt các yêu cầu về vốn cao hơn đối với các ngân hàng Hoa Kỳ được quản lý để đảm bảo an toàn và lành mạnh. Các cơ quan quản lý ngân hàng liên bang Hoa Kỳ đã công bố các quy tắc cuối cùng để thực hiện Basel II vào ngày 7 tháng 6 năm 2012 và để thực hiện Basel III vào ngày 9 tháng 7 năm 2013. 3.2.2 Cách thức thực hiện trong thời gian vừa qua *Áp dụng Basel I: Hiệp định vốn Basel I hiện nay được công bố vào tháng 7/1988 và được thực hiện đầy đủ vào cuối năm 1992. Mặc dù các cơ quan quản lý ngân hàng Hoa Kỳ bắt đầu thực hiện Basel I vào năm 1988, Basel I đã không được công nhận trong luật ngân hàng Hoa Kỳ cho đến năm 1991 khi Đạo luật Cải thiện Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang năm 1991 (FDICIA)14 được thông qua. Theo Basel I, vốn được nắm giữ đối với tài sản của ngân hàng có thể gồm hai thành phần - vốn cốt lõi ("cấp 1") và vốn bổ sung ("cấp 2"). Vốn cốt lõi bao gồm vốn chủ sở hữu của cổ đông phổ thông (đã phát hành và thanh toán đầy đủ), thu nhập giữ lại nhiều nhất và một số cổ phiếu ưu đãi không tích lũy vĩnh viễn. Vốn bổ 39 sung bao gồm nợ cấp dưới, cổ phiếu ưu đãi có thời hạn và Dự phòng tổn thất cho vay lên tới 1,25% tài sản có trọng số rủi ro.15 Hai thành phần này phải tính tổng yêu cầu vốn tối thiểu là 8% tài sản rủi ro của ngân hàng. *Áp dụng Basel II: Năm 2007, bắt đầu áp dụng một phần Basel II cho một số các NHTM và các tổ chức tín dụng. Cụ thể như sau, hệ thống được chia thành 3 nhóm: - Core Banks: bao gồm 8 ngân hàng có tổng giá trị tài sản hợp nhất từ 250 tỷ USD trở lên và có bảng cân đối tài sản hoạt động chi nhánh nước ngoài từ 10 tỷ USD trở lên; 8 ngân hàng này bắt buộc phải áp dụng các phương pháp nâng cao để đánh giá rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động. - Opt–In Banks: là các ngân hàng được khuyến khích nên áp dụng phương pháp nâng cao trong đánh giá rủi ro. - General Banks: là các ngân hàng không áp dụng phương pháp nâng cao, mà chỉ áp dụng phương pháp đơn giản trong đánh giá rủi ro (có khoảng 6.500 ngân hàng Mỹ với quy mô vừa và nhỏ dự kiến sẽ vừa áp dụng theo Basel II vừa duy trì theo Basel I cho đến khi đạt được tiêu chuẩn của Basel II). Vào ngày 7 tháng 12 năm 2007, Văn phòng Kiểm soát Tiền tệ (OCC), Hội đồng Thống đốc của Hệ thống Dự trữ Liên bang (Hội đồng), Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC) và Văn phòng Giám sát Tiết kiệm (OTS) (gọi chung là các cơ quan) đã ban hành khung vốn dựa trên rủi ro mới (quy tắc phương pháp tiếp cận nâng cao) yêu cầu một số và cho phép các ngân hàng đủ điều kiện khác sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên xếp hạng nội bộ (IRB) và các phương pháp khác để tính toán yêu cầu vốn dựa trên rủi ro cho tín dụng rủi ro và các phương pháp đo lường nâng cao (AMA) để tính toán các yêu cầu về vốn dựa trên rủi ro cho rủi ro hoạt động. Nói chung, các phương pháp này được gọi là các phương pháp tiếp cận nâng cao. Quy tắc này mô tả các yêu cầu về trình độ chuyên môn đối với các ngân hàng được yêu cầu hoặc đang tìm cách hoạt động theo khuôn khổ mới và các yêu cầu về vốn dựa trên rủi ro hiện hành. Tại Hoa Kỳ, chỉ một số ngân hàng lớn (ngân hàng cốt lõi) nhất định phải tuân thủ phiên bản Basel II của Hoa Kỳ và sử dụng các phương pháp nâng cao. Các ngân hàng cốt lõi thường được định nghĩa là những ngân hàng có tổng tài sản hợp nhất ít nhất là 250 tỷ USD, có ít nhất 10 tỷ USD tài sản nước ngoài trên bảng cân đối kế toán hoặc là công ty mẹ hoặc công ty con của ngân hàng sử dụng các phương pháp tiếp cận nâng cao. Các ngân hàng không thuộc ngành cốt lõi của Hoa Kỳ có thể chọn tham gia sử dụng các phương pháp tiếp cận nâng cao nếu họ đáp ứng được các yêu cầu về trình độ chuyên môn hiện hành. 40 Các ngân hàng Mỹ triển khai Basel II phiên bản Mỹ phải trải qua quá trình thẩm định. Quá trình này bao gồm ba giai đoạn chính: 1. Thông qua kế hoạch thực hiện. 2. Hoàn thành quá trình hoạt động song song thỏa đáng (khi một ngân hàng tiếp tục phải tuân theo các quy tắc chung về vốn dựa trên rủi ro cho tất cả các mục đích quản lý, giám sát và báo cáo, nhưng cũng báo cáo cho cơ quan giám sát liên bang chính về vốn dựa trên rủi ro của mình như được tính theo công thức nâng cao). quy tắc tiếp cận). 3. Tiến bộ qua ba giai đoạn chuyển tiếp. *Áp dụng Basel III: Tại Hoa Kỳ, Quốc hội đã yêu cầu nâng cao các yêu cầu về vốn ngân hàng như một phần của cải cách khu vực tài chính trong Đạo luật Cải cách Phố Wall và Bảo vệ người tiêu dùng Dodd-Frank năm 2010 (Đạo luật Dodd-Frank; PL 111-203, 124 Stat.1376). Cụ thể, Bản sửa đổi Collins của Dodd-Frank sửa đổi định nghĩa về vốn và thiết lập các yêu cầu về vốn và đòn bẩy tối thiểu cho các công ty con ngân hàng, công ty mẹ ngân hàng và các công ty tài chính phi ngân hàng quan trọng trong hệ thống. Ngoài ra, Dodd-Frank loại bỏ yêu cầu tham chiếu xếp hạng tín dụng khi đánh giá mức độ tin cậy của chứng khoán tài chính. Thay vào đó, các cơ quan quản lý ngân hàng liên bang Hoa Kỳ (tức là Cục Dự trữ Liên bang, Văn phòng Kiểm soát Tiền tệ và Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang) được yêu cầu tìm ra các tiêu chuẩn thích hợp khác để xác định rủi ro tài chính của việc nắm giữ danh mục đầu tư của ngân hàng khi thực thi các quy định về quản lý ngân hàng liên bang. yêu cầu về vốn bắt buộc. Báo cáo này tóm tắt các yêu cầu về vốn cao hơn đối với các ngân hàng Hoa Kỳ được quản lý để đảm bảo an toàn và lành mạnh. Các cơ quan quản lý ngân hàng liên bang Hoa Kỳ đã công bố các quy tắc cuối cùng để thực hiện Basel II.5 vào ngày 7 tháng 6 năm 2012 và để thực hiện Basel III vào ngày 9 tháng 7 năm 2013. Vào ngày 8 tháng 4 năm 2014, các cơ quan quản lý ngân hàng liên bang đã thông qua đòn bẩy bổ sung nâng cao. tỷ lệ dành cho các công ty sở hữu ngân hàng có tài sản hợp nhất trên 700 tỷ USD hoặc tài sản đang được lưu ký trị giá 10 nghìn tỷ USD với tư cách là công ty sở hữu ngân hàng được bảo hiểm. Mặc dù các yêu cầu về vốn cao hơn đối với hầu hết các công ty ngân hàng Mỹ có thể làm giảm nguy cơ mất khả năng thanh toán của quỹ bảo hiểm tiền gửi do Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang duy trì, nhưng chúng có thể khiến tín dụng ngân hàng trở nên đắt hơn hoặc ít khả dụng hơn đối với người đi vay. Liệu các yêu cầu về vốn cao hơn có dẫn đến việc giảm cho vay tổng thể hay giảm rủi ro hệ thống hay không vẫn chưa rõ ràng. Trước cuộc khủng hoảng tài chính, các ngân hàng duy trì mức vốn vượt quá yêu cầu pháp lý tối thiểu, tuy nhiên nền kinh tế vẫn chứng kiến hoạt động cho vay tràn lan. Dự trữ vốn 41 ngân hàng cũng có thể có hiệu quả hạn chế như một công cụ giảm thiểu rủi ro hệ thống nếu một lượng cho vay đáng kể diễn ra bên ngoài hệ thống ngân hàng được quản lý. Để biết phần giới thiệu về một số chủ đề được đề cập trong báo cáo này, hãy xem Báo cáo CRS R43002, Tình trạng tài chính của các ngân hàng lưu ký, của Darryl E. Getter. 3.2.3 Thực trạng triển khai Hiệp ước Basel vào hệ thống NH Mỹ trong thời gian vừa qua Mỹ, quốc gia thành viên của Uỷ ban Basel và cũng là quốc gia được xem như là chuẩn mực của áp dụng Basel, mặc dù áp dụng đầy đủ các tiêu chí của Hiệp ước Basel nhưng việc áp dụng Basel ở Mỹ không mang tính triệt tiêu, tức, tại một số ngân hàng ở Mỹ hiện đang áp dụng Basel II và một số khác có thể đã áp dụng Basel III. a. Yêu cầu về vốn Vào những năm 80 (trước khi ra đời Hiệp ước Basel), các nước Mexico, Argentina và Brazil rơi vào nguy cơ vỡ nợ (Goodhart, 2011). Điều này dẫn tới lo ngại rằng mức độ dự trữ vốn của các NHTW Mỹ là không đủ. Do đó, Quốc hội Mỹ đã thông qua dự luật về nâng cao tỷ lệ vốn tối thiểu đối với Ngân hàng Mỹ (International Lending Supervision Act-ILSA 1983), nhưng họ đồng thời cũng lo ngại rằng sự căng thẳng về cạnh tranh và sự xung đột về kiểm soát giữa những ngân hàng đa quốc gia có thể xảy ra. Vì vậy, BCBS đã soạn thảo Basel I nhằm đưa ra một sự thống nhất chung về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu trên thế giới. Basel I hoàn thành vào năm 1988 và chính thức có hiệu lực vào năm 1992 (Ersel, 2011). Như vậy, Basel I không trực tiếp đưa ra tỷ lệ đòn bẩy tài chính, mà chỉ đưa ra hệ số an toàn vốn (CAR). Khi đó, tỷ lệ tương quan giữa vốn và tổng tài sản sẽ được điều chỉnh thông qua tỷ lệ giữa vốn và tổng tài sản theo cấp độ rủi ro (risk weighted asset). Trong đó, tổng tài sản theo cấp độ rủi ro là giá trị thực tế của tài sản nhân mức trọng số rủi ro chỉ định (thể hiện khả năng mất vốn tín dụng- credit risk) của tài sản đó. Tỷ lệ này, theo quy định của Basel I, không phản ánh đúng mức độ rủi ro trong hoạt động ngân hàng khi không đề cập tới các loại rủi ro khác ngoài rủi ro tín dụng và không có mức trọng số rủi ro riêng đối với từng tài sản (Balin, 2008). Thay vào đó, Basel I sử dụng một mức trọng số chung cho một khoản quá rộng các loại tài sản (như khoản tín dụng doanh nghiệp tư nhân nói chung) khiến các tài sản không được đánh giá rủi ro đúng thực tế. Điều này dẫn đến hệ số tương quan giữa vốn và tài sản theo Basel I thấp, khiến tỷ lệ đòn bẩy tài chính tại ngân hàng cao hơn mức rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận. b. Thanh tra giám sát Tại Mỹ, các cơ quan thanh tra ngành ngân hàng dùng hệ thống phân tích CAMELS để đánh giá sức khỏe tài chính, độ an toàn, thanh khoản, khả năng sinh lời và năng lực quản lý của ngân hàng. Cụ thể, CAMELS là viết tắt của các từ tiếng Anh gồm: C - Capital (Vốn); A 42 Asset Quality (Chất lượng tài sản có); M - Management (Quản lý); E - Earnings (Lợi nhuận); L - Liquidity (Thanh khoản); S - Sensitivity to market risk (Độ nhạy cảm với rủi ro thị trường, đặc biệt là rủi ro lãi suất). 6 cấu phần này là cơ sở để thanh tra viên kiểm tra từng phần một, sau đó tiến hành đánh giá (Ratings) với 5 mức độ từ 1 - 5. Cụ thể, cơ quan thanh tra, giám sát tiến hành đánh giá từng cấu phần của CAMELS với mức độ từ cao nhất (cấp 1) đến thấp nhất (cấp 5). Tất cả những điểm/xếp hạng của những cấu phần trên sẽ được cộng lại và đưa ra điểm tổng hợp (Composite rating). Dựa vào điểm tổng hợp, cơ quan thanh tra, giám sát sẽ đưa ra kết luận thanh tra tương ứng. Một điểm đáng lưu ý là các cơ quan quản lý ngành ngân hàng áp dụng CAMELS tỏ ra rất khắt khe với các ngân hàng nằm trong sự quản lý của họ và đòi hỏi các ngân hàng bị thanh tra phải có mức điểm 1 hay 2. Các ngân hàng có mức điểm 3 tới 5 được xem là dưới chuẩn và phải thực hiện những chấn chỉnh theo khuyến nghị của các cơ quan này. Với những ngân hàng được xếp hạng 5, các cơ quan thanh tra giám sát sẽ theo dõi thường xuyên hoạt động của nhà băng và có thể trở lại thanh tra toàn diện hay từng phần bất cứ lúc nào để tiến hành biện pháp cuối cùng là đóng cửa. Đặc biệt, những ngân hàng trong nhóm này mà vốn chủ sở hữu bị xếp loại “thiếu vốn trầm trọng” (critically undercapitalized) thì sẽ bị đặt vào tình trạng báo động và cơ quan quản lý có thể đóng cửa ngân hàng bất cứ lúc nào nếu nguồn vốn không được bổ sung. Tại Mỹ thường có 3 cơ quan. Ở cấp tiểu bang là Cơ quan Quản lý ngân hàng tiểu bang (State Banking Department, hay tại một vài tiểu bang còn gọi là Financial Institutions Department). Ở cấp liên bang thường là Công ty Bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC). Những ngân hàng thuộc về các tập đoàn tài chính và được quy định theo Bank Holding Act sẽ do Ngân hàng Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiến hành thanh tra. Ngoài ra, Bộ Ngân khố Hoa Kỳ (Treasury Department) cũng có chức năng thanh tra giám sát những hoạt động tài chính do Bộ Ngân khố quản lý, chẳng hạn các hoạt động liên quan đến rửa tiền, trốn thuế và phạm pháp. Các cơ quan thanh tra của Mỹ cũng lồng ghép những nguyên tắc về tuân thủ và quản lý rủi ro của Basel vào hệ thống những chỉ tiêu cho thanh tra giám sát, nhưng CAMELS vẫn là cột trụ để đánh giá tình hình tài chính của các ngân hàng và đó là cơ sở để các cơ quan chức năng quản lý toàn bộ ngành ngân hàng tại đây. Ở Mỹ, các cơ quan quản lý ban hành sổ tay về thanh tra giám sát, nhưng không công bố ra ngoài, vì đây là công cụ của các thanh tra viên dùng để thanh tra với tất cả các chi tiết nằm trong sổ tay. Tất nhiên, các thanh tra viên đều công bố những quy định chung về thanh tra, giám sát sẽ như thế nào cho tất cả các ngân hàng. Có 2 loại thanh tra là thanh tra thường xuyên, định kỳ hoặc thanh tra đột xuất, tương tự như Việt Nam. 43 Thường trước khi thanh tra đột xuất, thanh tra viên sẽ báo cho ngân hàng biết rằng mình cần những dữ liệu nào và ngân hàng phải gửi tất cả dữ liệu này một cách đầy đủ. Điều này cũng có nghĩa, thanh tra viên đã nghiên cứu tham khảo tất cả các thông tin đó trước khi quyết định thanh tra, bên cạnh việc được trình những thông tin này, họ còn có thể “khơi bới” tất cả những gì cần biết. c. Công khai thông tin theo nguyên tắc thị trường Vào tháng 12/2021, Văn phòng Cơ quan Kiểm soát Tiền tệ Mỹ (OCC) đã lấy ý kiến phản hồi về dự thảo đề xuất sâu rộng áp dụng cho những tổ chức cho vay có tài sản trên 100 tỷ đô la. Hướng dẫn này đề cập đến mọi thứ, từ vấn đề quản trị, thanh khoản, tín dụng và quản lý rủi ro hoạt động, đến cách các ngân hàng dự báo các khoản lỗ giả định trong tương lai trên sổ sách của ngân hàng và khả năng phục vụ các cộng đồng nghèo hơn. Tuy nhiên, các ngân hàng Mỹ phản đối các tiêu chí về cho vay và quản lý rủi ro theo quy định, công khai rủi ro và các khoản phạt vốn. Về cơ bản, các ngân hàng kêu gọi OCC có lập trường dựa trên nguyên tắc linh hoạt, do sự phức tạp của việc xác định, thu thập và lập mô hình dữ liệu liên quan đến môi trường tài chính và phi tài chính trong một loạt phạm vi thời gian dài. 3.3 Nhận xét chung về tình hình triển khai 3.3.1 Về mặt cơ hội Với việc áp dụng các tiêu chuẩn và quy định Basel, Mỹ đã có những ảnh hưởng quan trọng đối với hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính của nước này. Và Basel còn tạo ra một cơ sở tiêu chuẩn chung cho các ngân hàng trên toàn cầu, giúp tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng và đồng đều cho các ngân hàng Mỹ trong việc hoạt động và tham gia vào thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, các quy định và tiêu chuẩn của Basel giúp tăng cường sự tin cậy của thị trường tài chính, đảm bảo rằng các ngân hàng và tổ chức tài chính tuân thủ các quy tắc và tiêu chuẩn quản lý rủi ro, giảm thiểu nguy cơ cho các nhà đầu tư và thị trường tài chính nói chung. Tăng cường sự ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng: Các chuẩn mực và nguyên tắc của Basel giúp tăng cường vốn và quản lý rủi ro trong hệ thống ngân hàng, từ đó giảm thiểu nguy cơ khủng hoảng tài chính và sụp đổ ngân hàng. Nâng cao uy tín và hấp dẫn đầu tư: Việc tuân thủ các yêu cầu của Basel giúp ngân hàng Mỹ nâng cao uy tín và đáng tin cậy trong mắt các nhà đầu tư và khách hàng quốctế, từ đó thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào hệ thống tài chính Mỹ. Tạo điều kiện công bằng cho các ngân hàng: Các chuẩn mực của Basel giúp tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng giữa các ngân hàng, đồng thời đảm bảo rằng tất cả các ngân hàng đều tuân thủ các nguyên tắc và tiêu chuẩn quản lý rủi ro. 44 Hỗ trợ trong quản lý rủi ro toàn cầu: Basel cung cấp một khung pháp lý và chuẩn mực chung cho các quốc gia, giúp tăng cường hợp tác và thông tin giữa các quốc gia trong việc quản lý rủi ro toàn cầu. Thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống tài chính: Bằng việc áp dụng các nguyên tắc và chuẩn mực của Basel, Mỹ có thể đảm bảo rằng hệ thống tài chính phát triển một cách bền vững và ổn định trong dài hạn 3.3.2 Về mặt khó khăn Mặc dù việc áp dụng các chuẩn mực và nguyên tắc của Basel mang lại nhiều lợi ích cho hệ thống ngân hàng và tài chính của Mỹ, nhưng cũng có những khó khăn và thách thức khi tiếp cận và tuân thủ các yêu cầu của Basel. Dưới đây là một số khó khăn mà Mỹ có thể gặp phải: - Chi phí và tài chính:Việc tuân thủ các yêu cầu của Basel, đặc biệt là việc tăng cường vốn và quản lý rủi ro, có thể đòi hỏi các ngân hàng phải chi trả một lượng lớn vốn và tài chính để đáp ứng các yêu cầu này. Điều này có thể gây áp lực tài chính và tăng chi phí hoạt động cho các ngân hàng. - Sự phức tạp và đa dạng của chuẩn mực: Các chuẩn mực và nguyên tắc của Basel, đặc biệt là Basel III, có thể rất phức tạp và đa dạng, đòi hỏi các ngân hàng phải có khả năng hiểu và áp dụng chúng một cách chính xác và hiệu quả. Điều này có thể tạo ra khó khăn trong việc thực hiện và tuân thủ các yêu cầu của Basel. - Chênh lệch về quy định nội địa: Mỗi quốc gia có hệ thống ngân hàng và tài chính riêng, do đó, việc áp dụng các chuẩn mực Basel vào hệ thống ngân hàng Mỹ có thể gặp phải sự chênh lệch với quy định và luật pháp nội địa của Mỹ. Điều này có thể tạo ra sự không nhất quán và khó khăn trong việc thực hiện các yêu cầu của Basel. - Thách thức về giám sát và tuân thủ: Việc giám sát và đảm bảo tuân thủ các yêu cầu của Basel đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý và ngân hàng. Tuy nhiên, việc đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ có thể gặp phải thách thức trong việc xử lý thông tin và dữ liệu liên quan. Tóm lại, mặc dù việc tiếp cận và tuân thủ các yêu cầu của Basel mang lại nhiều lợi ích cho hệ thống ngân hàng và tài chính của Mỹ, nhưng cũng có những khó khăn và thách thức cần được vượt qua, bao gồm chi phí, sự phức tạp của chuẩn mực, chênh lệch về quy định nội địa và thách thức về giám sát và tuân thủ. 45 CHƯƠNG 4: BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ MỸ 4.1 So sánh giữa việc triển khai Basel giữa Mỹ và Việt Nam Vì khác biệt về lịch sử, thể chế chính trị cũng như những nhân tố khác, việc áp dụng Basel ở VN và Mỹ cũng có những khác biệt nhất định, trước tiên là về cơ chế: Việt Nam áp dụng cơ chế tiếp cận, chỉ áp dụng có chọn lọc một số tiêu chí của Basel phù hợp với tình hình và thể trạng của Việt Nam, trong khi ở Mỹ, áp dụng cơ chế áp dụng, áp dụng toàn bộ và triệt để các tiêu chí của Basel, chính vì lý do này, Mỹ được xem như là một quốc gia “kiểu mẫu” trong áp dụng Basel. Tuy nhiên, chọn lọc tiêu chí áp dụng, Việt Nam cũng có cách áp dụng riêng phù hợp với định chế quốc gia, có thể kể đến cách tiếp cận về tiêu chí thanh tra giám sát, ở Việt Nam thực hiện theo chiều dọc, các cơ quan chịu trách nhiệm giám sát và báo cáo cơ quan cấp trên, và đều tuân thủ theo Chính phủ. Việc thanh tra, giám sát thực hiện theo hướng “tuân thủ” là chủ yếu. Ở Mỹ, việc giám sát được thực hiện “kép” vừa áp dụng Basel vừa áp dụng Camels, (về cường độ, thời gian ở hai nước tương tự như nhau. Thường là thanh tra vào khoảng 3, 4 tuần lễ và quy mô, số lượng thanh tra phụ thuộc vào quy mô của ngân hàng. Những ngân hàng có vấn đề nghiêm trọng thì số lượng thanh tra càng nhiều). Thanh tra trên cơ sở rủi ro cũng là một phần của thanh tra toàn diện. Thanh tra tại Mỹ mang tính chất thanh tra toàn diện về tình hình hoạt động của ngân hàng nên trong đó có cả tuân thủ và rủi ro. Việc “chạy” song song cả 2 phương pháp đảm bảo các ngân hàng tuân thủ luật lệ, quy định nội bộ, quy định của quốc gia. Tôi đã từng làm việc với một số ngân hàng tại nước ngoài và nhận thấy, thanh tra của Mỹ là mô hình tiêu biểu cho thanh tra trên thế giới. Ngoài ra còn có thể so sánh như sau: - Về hệ thống: Mỹ có : FED (Cục Dự trữ Liên bang),FDIC (Tổng công ty BHTG Mỹ) , FOMC(Ủy ban thị trường mở liên bang), OCC (Uỷ ban quản lý tiền tệ) và Việt Nam có: Ngân hàng nhà nước, Ủy ban điều hành nghiệp vụ thị trường mở, Bảo hiểm tiền gửi, Ủy ban giám sát tài chính tiền tệ quôc gia. Việt Nam và Mỹ đều có hệ thống tương đương nhau, tuy nhiên những tổ chức ở Việt Nam lại hầu như không tham gia vào Hiệp ước Basel, còn ở Mỹ các tổ chức này lại có trách nhiệm cao trong định hướng dẫn dắt Ngân hàng ở Mỹ. - Cách thực hiện: Ở Mỹ phân loại thành 3 nhóm: Core Banks, Opt–In Banks, General Banks. Ở Việt Nam không phân loại theo nhóm Ngân hàng, mà thực hiện theo thí điểm. 4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực trạng của Mỹ Rủi ro khủng hỏang tài chính thường bắt nguồn, liên quan đến rủi ro tín dụng, đặc biệt là rủi ro từ tín dụng bất động sản của các NHTM. Tại Mỹ La Tinh cũng như một số nước 46 công nghiệp phát triển như Phần Lan, Nauy, Thụy điển, Nhật Bản và Mỹ, khủng hoảng ngân hàng xảy ra sau bùng nổ cho vay. Bùng nổ cho vay dưới tiêu chuẩn của Mỹ dẫn tới cuộc khủng hoảng tài chính – ngân hàng năm 2008, và nghiêm trọng hơn đã lan rộng trên toàn cầu. Vì vậy, các ngân hàng cần tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định và quy chế cho vay, đào tạo và nâng cao ý thức trách nhiệm, trình độ năng lực thẩm định đánh giá của các nhân viên tín dụng, bảo đảm chính xác ngay từ khâu đầu tiên của quá trình cho vay là phương pháp phòng chống rủi ro hiệu quả nhất. Ngân hàng cần chú trọng đến việc đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, phương án kinh doanh hiệu quả hơn là chú trọng đến tài sản thế chấp. Ngoài ra, Ngân hàng cũng cần quan tâm đến giai đoạn sau giải ngân, có kế hoạch kiểm tra việc sử dụng vốn của khách hàng theo định kỳ, định kỳ đánh giá lại khách hàng cũng như tài sản đảm bảo để hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra cho Ngân hang Yêu cầu vốn tối thiểu đối với các tổ chức tài chính, ngân hàng là rất quan trọng, tuy nhiên vẫn chưa đủ để đảm bảo tính ổn định cho hoạt động của ngân hàng; - Trong quá trình hoạt động, các NHTM phải chú trọng công tác quản trị rủi ro và các công tác thanh tra, giám sát rủi ro để có thể kịp thời phát hiện và kiểm soát rủi ro. Việt Nam mặc dù có những hệ thống tổ chức tương đương như Mỹ, nhưng ngoài NHNN ra thì 3 tổ chức còn lại hoàn toàn không tham gia hỗ trợ. Việt Nam có thể chuẩn bị thành lập cơ quan hỗ trợ định hướng dẫn dắt Ngân hàng ở Việt Nam. Tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng Việt Nam: Đánh giá lại thể trạng của từng Ngân hàng, phân nhóm để các Ngân hàng thực hiện vừa sức. Thực hiện phân loại các NHTM thành các nhóm để ấn định mức rủi ro. + Nhóm thứ 1: gồm các ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh có năng lực và quy mô đủ lớn để tiếp tục phát triển thành những ngân hàng trụ cột, đủ sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. + Nhóm thứ 2: nhóm các ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh nhưng có quy mô nhỏ, không có nhu cầu hoặc không có điều kiện phát triển quy mô cao hơn nữa. NHNN sẽ có quy định đảm bảo giám sát chặt chẽ cũng như phân khúc thị trường để đảm bảo cho các ngân hàng này hoạt động hiệu quả. + Nhóm thứ 3: nhóm ngân hàng đang có tình hình tài chính khó khăn cần phải cấu trúc lại. NHNN sẽ tham gia giám sát chặt chẽ, yêu cầu các ngân hàng lớn sẽ tham gia mua cổ phần, 47 tham gia vào quản trị điều hành và cơ cấu lại các khoản mục đầu tư; mua lại hoặc hợp nhất, sáp nhập nếu cần. 48
0
You can add this document to your study collection(s)
Sign in Available only to authorized usersYou can add this document to your saved list
Sign in Available only to authorized users(For complaints, use another form )