TẠP CHÍ XÂY DỰNG TẠP CHÍ XÂY DỰNG VIỆT NAM - BẢN QUYỀN THUỘC BỘ XÂY DỰNG SỐ 621 - THÁNG 12-2019 Vietnam Journal of Construction – Copyright Vietnam Ministry of Construction ISSN 0866-8762 NĂM THỨ 58 tapchixaydungbxd.vn 58 Year Th 12-2019 MỤC LỤC 12.2019 KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG Đỗ MinhNgọc, Nguyễn Thị Nụ 3 Đánh giá sơ bộ chất lượng nền đất yếu gia cố bằng cọc cát đầm từ các kết quả thí nghiệm xuyên động Nguyễn Lê Thi, Hoàng Đức Thảo, 9 So sánh cường độ bám dính của cốt GFRP và cốt Thép với bê tông cốt sợi phân tán trong điều kiện môi trường đặc trưng của Nguyễn Hải Châu, Đỗ Thắng vùng Đồng bằng sông Cửu Long Dương Diệp Thúy 14 Mô hình thông tin Xây dựng và việc áp dụng tại Việt Nam hiện nay Hoàng Văn Ngọc, Đỗ Tiến Sỹ, Chu Việt Cường 18 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi phí của chủ đầu tư trong giai đoạn thi công nhà cao tầng - trường hợp nghiên cứu ở TP.HCM. Võ Nhật Hoàng, Huỳnh Quốc Thiện, Lại Văn Quí 23 Phân tích ảnh của tường vây đến nội lực và độ lún móng bè cọc Lã Hồng Hải, Nguyễn Minh Long 29 Ảnh hưởng của hàm lượng cốt dọc đến khả năng kháng cắt của dầm bê tông cốt thép được gia cường kháng cắt bằng tấm GFRP dạng U Lê Thanh Phúc, Lương Đức Long 33 Ứng dụng mạng BBNS dự báo rủi ro an toàn cần trục tháp trên công trường xây dựng Đỗ Tiến Sỹ, Nguyễn Anh Thư, Hoàng Hiệp, 39 Kết hợp dữ liệu đám mây điểm từ các thiết bị 3D laser scanning và phương tiện bay không người lái (UAV) nhằm thu thập thông Võ Thị Loan, Nguyễn Ngọc Tường Vi, Võ Văn Trương, tin mô hình công trình xây dựng Lê Nguyễn Thanh Phước, Phạm Thị Trường An, Đặng Minh Quang Đoàn Tấn Thi, Nguyễn Mai Chí Nghĩa 43 Ứng xử của kết cấu kính ghép dưới tác dụng của nhiệt độ Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Anh Thư 45 Ứng dụng mô hình thông tin công trình (BIM) và công nghệ 3D Laser Scanning quản lý khối lượng thực hiện của dự án xây dựng Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Thị Thu Thuỷ, Hoàng Ngọc Trâm 51 Đánh giá khả năng làm việc của xỉ than trong bê tông nhựa chặt 12.5mm Nguyễn Ngọc Cường, Phạm Hông Luân 54 Nghiên cứu tiêu chuẩn hướng dẫn BIM trên thế giới và đề xuất các nội dung trong tiêu chuẩn bim áp dụng tại Việt Nam Nguyễn Thị Nụ, Đỗ Minh Ngọc 60 Nghiên cứu đặc điểm địa tầng đất yếu các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cứu Long phục vụ xây dựng công trình hạ tầng Nguyễn Trường Thắng, Sykhampha Vongchith 65 Về khả năng áp dụng tro bay cho sản xuất bê tông ở CHDCND Lào Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Văn Khoa 71 Ứng xử chống cắt của cát sạn san hô ở Trường Sa Phạm Văn Đạt 76 Phân tích tĩnh kết cấu dàn phẳng trong trường hợp có một thanh dàn sai lệch chiều dài do chế tạo theo phương pháp phần tử hữu hạn Trần Tuyết Mai, Nguyễn Anh Thư 82 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý thiết bị tại công ty thi công xây dựng Trần Văn Dũng, Phạm Hồng Luân 89 Ứng dụng động học hệ thống mô phỏng nguyên nhân dẫn đến hành vi không an toàn của công nhân xây dựng Phạm Vũ Hồng Sơn, Trương Minh Luận 95 Phát triển thuật toán lai ghép đom đóm (HFA) để tối ưu vị trí lắp đặt cần trục tháp Đinh Quang Cường, Nguyễn Quang Tạo, Hồ Đức Đạt 101 Một số sự cố công trình ven đảo san hô, nguyên nhân và giải pháp phòng tránh, khắc phục Đinh Quang Cường 104 Tính áp lực dưới đế móng công trình biển trọng lực Nguyễn Quốc Toản , Hoàng Thị Khánh Vân , 108 Rào cản áp dụng sản xuất tinh gọn để giảm thiểu tai nạn lao động trong xây dựng Giáp Thị Hồng Ngân , Trần Văn Nam Vũ Quốc Thiều 114 Nhà ở xã hội, lời giải cho việc đảm bảo thực hiện quyền có chỗ ở hợp pháp của công dân CONSTRUCTION Huynh Trong Phuoc, Nguyen Dinh Thang, Do Ngoc Duy 118 Effect of silica fume addition on engineering properties of high-performance marine mortar Lam Thanh Quang Khai, Lam Ngoc Qui, 123 Numerical simulation on concrete beams with a change in steel fiber content Nguyen Van Hoan Nguyen Mai Chi Nghia, Doan Tan Thi 126 Modeling of concrete for nonlinear analysis using finite element abaqus software Nguyen The Hung, Nguyen Thi Kim Thai 130 Environmental Contamination from Industrial Activities in Hanoi , Viet nam Toan Khong Trong, Tinh Tran Quoc 135 Dynamic analysis of beam subjected to moving load with consideration of the roughness beam surface Truong Cong Bang 140 Current status of management of construction investment projects in the Mekong Delta Huynh Trong Phuoc, Le Van Tua, 143 Evaluation of engineering properties of natural fiber concrete incorporating various straw grass contents Nguyen Tran Hoai Thuong, Pham Van Hien, Ngo Van Anh Truong Cong Bang 148 Solutions for designing floor structures of high-rise buildings Ngo Si Huy, Huynh Trong Phuoc 152 Effect of various bottom ash contents on the engineering properties of concrete bricks Bìa 1: The Lantern-Nanoco Gallery, giải thưởng kiến trúc quốc tế IAA 2018 Chủ nhiệm: Bộ trưởng Phạm Hồng Hà Hội đồng khoa học: TS. Thứ trưởng Lê Quang Hùng (Chủ tịch) GS.TS Nguyễn Việt Anh (Thư ký) GS.TS Phan Quang Minh GS.TS Phạm Xuân Anh GS.TS Ngô Tuấn GS.TS Nguyễn Quốc Thông PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn PGS.TS Vũ Ngọc Anh PGS.TS Phạm Duy Hòa TS Ứng Quốc Hùng GS.TS Hiroshi Takahashi GS.TS Chien Ming Wang TS Ryoichi Fukagawa Giá 35.000VNĐ Tổng Biên tập: Trần Thị Thu Hà Tòa soạn: 37 Lê Đại Hành, Hà Nội Liên hệ bài vở: 024 39780820 ; 0983382188 Trình bày mỹ thuật: Thạc Cường, Quốc Khánh Giấy phép xuất bản: Số: 372/GP-BTTTT ngày 05/7/2016 Tài khoản: 113000001172 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam Chi nhánh Hai Bà Trưng, Hà Nội In tại Công ty TNHH MTV in Báo nhân dân TP HCM Địa chỉ: D20/532P, Ấp 4, Xã Phong Phú, Huyện Bình Chánh, TP HCM 12.2019 1 12.2019 SCIENCE, TECHNOLOGY CONSTRUCTION Đỗ MinhNgọc, Nguyễn Thị Nụ 3 Using dynamic cone penetration tests to preliminary assessment of soft ground quality strengthened by sand compaction pile Nguyễn Lê Thi, Hoàng Đức Thảo, 9 Comparison of Bond Strength of GFRP and Steel Bars with fiber concrete in typical environmental conditions of the Nguyễn Hải Châu, Đỗ Thắng Mekong Delta Dương Diệp Thúy 14 Building Information Modeling - BIM) and application in Vietnam today Hoàng Văn Ngọc, Đỗ Tiến Sỹ, Chu Việt Cường 18 Evaluation of factors affecting the cost management of the owner in the construction of high-rise building - Case study in Ho Chi Minh City. Võ Nhật Hoàng, Huỳnh Quốc Thiện, Lại Văn Quí 23 Analyzing the influence of diaphragm wall on the bending moment and settlement of pile raft foundation Lã Hồng Hải, Nguyễn Minh Long 29 Effect of longitudinal tensile reinforcement ratio on shear resistance of reinforced concrete beam shear-strengthened by GFRP U-sheets Lê Thanh Phúc, Lương Đức Long Đỗ Tiến Sỹ, Nguyễn Anh Thư, Hoàng Hiệp, Võ Thị Loan, Nguyễn Ngọc Tường Vi, Võ Văn Trương, Lê Nguyễn Thanh Phước, Phạm Thị Trường An, Đặng Minh Quang Đoàn Tấn Thi, Nguyễn Mai Chí Nghĩa Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Anh Thư 33 Application of BBNS networks forecasting safety risk for tower crane on the construction site 39 Integrating point cloud from 3D laser scanning and Unmanned Aerial Vehicle (UAV) equipments in order to collect construction project information modeling 43 Behavior of dual glass structure under the effects of temperature 45 Application Building Information Modeling (BIM) and 3D Laser Scanning for management the quantity of the construction project Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Thị Thu Thuỷ, Hoàng Ngọc Trâm 51 Performance evaluation of coal ash in dense graded asphalt concretes which nominal maximum particle size is 12.5mm Nguyễn Ngọc Cường, Phạm Hông Luân 54 Research BIM standards around the world and propose BIM standard in Viet Nam Nguyễn Thị Nụ, Đỗ Minh Ngọc 60 A study on propreties of soft soil in the coastal province of Mekong delta for construction Nguyễn Trường Thắng, Sykhampha Vongchith 65 On the ability of applying fly ash for concrete in Lao PDR Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Văn Khoa 71 Shear strength behaviour of coral gravel-sand in Truong Sa Phạm Văn Đạt 76 Finite element method for static analysis of plane truss with an inaccurate fabricated member length Trần Tuyết Mai, Nguyễn Anh Thư 82 Research on factors affecting equipment management efficiency in construction company Trần Văn Dũng, Phạm Hồng Luân 89 Application System Dynamics simulate the cause of unsafe behavior Construction Worker’s Phạm Vũ Hồng Sơn, Trương Minh Luận 95 Development of hybrid firefly algorithm (HFA) for optimization of tower crane location Đinh Quang Cường, Nguyễn Quang Tạo, Hồ Đức Đạt 101 Some incidents of the works along the coral islands, causes and solutions to avoid and overcoming Đinh Quang Cường 104 Calculating the pressure under the foundation of offshore gravity concrete flatform Nguyễn Quốc Toản , Hoàng Thị Khánh Vân , 108 The barriers of lean construction practices to minimize occupational accidents in construction Giáp Thị Hồng Ngân , Trần Văn Nam Vũ Quốc Thiều 114 Huynh Trong Phuoc, Nguyen Dinh Thang, Do Ngoc Duy 118 Effect of silica fume addition on engineering properties of high-performance marine mortar Lam Thanh Quang Khai, Lam Ngoc Qui, 123 Numerical simulation on concrete beams with a change in steel fiber content Nguyen Van Hoan Nguyen Mai Chi Nghia, Doan Tan Thi 126 Modeling of concrete for nonlinear analysis using finite element abaqus software Nguyen The Hung, Nguyen Thi Kim Thai 130 Environmental Contamination from Industrial Activities in Hanoi , Viet nam Toan Khong Trong, Tinh Tran Quoc 135 Dynamic analysis of beam subjected to moving load with consideration of the roughness beam surface Truong Cong Bang 140 Current status of management of construction investment projects in the Mekong Delta Huynh Trong Phuoc, Le Van Tua, 143 Evaluation of engineering properties of natural fiber concrete incorporating various straw grass contents Nguyen Tran Hoai Thuong, Pham Van Hien, Ngo Van Anh Truong Cong Bang 148 Solutions for designing floor structures of high-rise buildings Ngo Si Huy, Huynh Trong Phuoc 152 Effect of various bottom ash contents on the engineering properties of concrete bricks Chairman: Minister Pham Hong Ha Editor-in-Chief: Tran Thi Thu Ha 2 12.2019 Office: 37 Le Dai Hanh, Hanoi Editorial Board: 024 39780820 ; 0983382188 Design: Thac Cuong, Quoc Khanh Publication: No: 372/GP-BTTTT date 5th, July/2016 Account: 113000001172 Joint Stock Commercial Bank of Vietnam Industrial and Commercial Branch, Hai Ba Trung, Hanoi Printed in: Nhandan printing HCMC limited Company Scientific commission: Le Quang Hung, Ph.D (Chairman of Scientific Board) Prof.Nguyễn Việt Anh, Ph.D Prof. Phan Quang Minh, Ph.D Prof. Phạm Xuân Anh, Ph.D Prof. Ngô Tuấn, Ph.D Prof. Nguyen Quoc Thong, Ph.D Assoc. Prof. Nguyễn Văn Tuấn, Ph.D Assoc. Prof. Vũ Ngọc Anh, Ph.D Assoc. Prof. Pham Duy Hoa, Ph.D Ứng Quốc Hùng, Ph.D Prof. Hiroshi Takahashi, Ph.D Prof. Chien Ming Wang, Ph.D Prof. Ryoichi Fukagawa, Ph.D Ứng dụng động học hệ thống mô phỏng nguyên nhân dẫn đến hành vi không an toàn của công nhân xây dựng Application System Dynamics simulate the cause of unsafe behavior Construction Worker's Ngày nhận bài: 13/9/2019 Ngày sửa bài: 27/10/2019 Ngày chấp nhận đăng: 25/11/2019 Trần Văn Dũng, Phạm Hồng Luân TÓM TẮT Hành vi không an toàn của công nhân xây dựng thường là nguyên nhân trực tiếp của các vụ tai nạn xây dựng, nhưng nguyên nhân của nó vẫn chưa được hiểu rõ. Bài báo này coi việc quản lý an toàn là hệ thống và tìm cách sử dụng động học hệ thống để chứng minh hệ thống ảnh hưởng như thế nào đến các hành vi không an toàn của công nhân xây dựng. Đầu tiên, các điều kiện cá nhân, môi trường và quản lý có thể dẫn đến một hành vi không an toàn được xác định thông qua nghiên cứu tổng quan và khảo sát. Thứ hai, mô hình động nguyên nhân dẫn đến các hành vi không an toàn của công nhân được xây dựng. Mô hình này thể hiện mối liên hệ giữa điều kiện quản lý, cá nhân và môi trường mà cuối cùng có thể dẫn đến các hành vi không an toàn. Kết quả phân tích mô hình cho thấy, các điều kiện quản lý ở cấp độ giám sát có hiệu quả trong việc cải thiện nhận thức về an toàn của công nhân, và các hành động phòng ngừa có hiệu quả hơn các hành động phản ứng trong việc giảm các hành vi không an toàn. Mô hình giúp hiểu rõ hơn cơ chế phản hồi phức tạp giữa các nguyên nhân dẫn đến hành vi không an toàn của công nhân xây dựng, từ đó đề xuất các chính sách để giảm thiểu hành vi không an toàn tại công trường. Từ khóa : Động học hệ thống, An toàn, Hành vi không an toàn, An toàn xây dựng, Tư duy hệ thống. ABSTRACT Unsafe behaviors of construction workers are often the direct cause of construction accidents, but their causes are not fully understood. This paper treats safety management as a system and seeks to use system dynamics to demonstrate how the system affects the unsafe behaviors of construction workers. First, individual, environmental and regulatory conditions can lead to an unsafe behavior identified through review and survey. Second, the dynamic cause model for unsafe behaviors of workers is built. This model shows the link between management conditions, individuals and the environment that can ultimately lead to unsafe behaviors. The results of the model analysis show that management conditions at the supervisory level are effective in improving worker safety awareness, and preventive actions are more effective than response actions. in reducing unsafe behaviors. The model helps to better understand the complex feedback mechanisms among the causes of unsafe behaviors of construction workers, thereby proposing policies to minimize unsafe behaviors at the construction site. Keywords : System dynamics, Safety, Unsafe behavior, Construction safety, Systems thinking. Trần Văn Dũng Học viên Cao học ngành Quản Lý Xây dựng - Trường Đại học Bách Khoa- ĐHQG TP.HCM Phạm Hồng Luân Bộ môn Thi công và Quản lý xây dựng – Khoa Kỹ thuật Xây dựng -Trường Đại học Bách Khoa- ĐHQG TP.HCM 1.Giới thiệu Ngành xây dựng là luôn đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, tổng sản phẩm ngành xây dựng ước tính là 228.102 tỷ đồng, chiếm 5,44% tổng sản phẩm trong nước. Số vốn đầu tư khoảng 113.478 tỷ đồng,chiếm 8,30% tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Với gần 70.000 doanh nghiệp lớn nhỏ, số lao động tham gia trong ngành này khoảng 3.431,8 nghìn người (Nguồn tổng cục thống kê - 2017). An toàn lao động là một trong những vấn đề quan trọng trong quản lý xây dựng. Trong những năm gần đây quản lý an toàn trong xây dựng thu hút nhiều sự quan tâm từ chính phủ, các bộ ngành, các tổ chức và các nhà nghiên cứu. Mặc dù trong lĩnh vực xây dựng đã có những bước cải tiến đáng kể trong việc tạo ra môi trường xây dựng an toàn hơn. Các hành vi không an toàn của công nhân được xem là nguyên nhân trực tiếp của tai nạn trên công trường. Nhưng nghiên cứu về các hành vi không an toàn để tiến tới loại bỏ các hành vi này của công nhân trong lĩnh vực xây dựng vẫn còn hạn chế. Chính vì vậy nghiên cứu này xác định các điều kiện cá nhân, môi trường, các điều kiện quản lý và môi trường xã hội có thể dẫn đến hành vi không an toàn được xác định thông qua việc xây dựng mô hình động học hệ thống (ĐHHT) cho các hành vi không an toàn. 2.Tổng quan các nghiên cứu trước An toàn dựa trên hành vi (behavior based safety -BBS) được biết đến như một quá trình can thiệp để điều chỉnh hành vi không an toàn của người lao động và giảm tỷ lệ sự cố/tai nạn. Kết quả có thể tập trung vào việc phân tích các sự cố trước đây xảy ra do sự tương tác giữa người lao động và môi trường làm việc của họ. Mục đích là để xác định những tiền đề nào dẫn đến hành vi không an toàn, (ví dụ: thiếu thiết bị dẫn đến dẫn đến việc sử dụng các công cụ một cách tùy tiện) để thực hiện các 12.2019 89 hành động khắc phục phù hợp Cooper (2009). Dù là tiếp cận an BBS bằng cách nào, nhiều nghiên cứu đã đề cập để tìm ra quy trình hiệu quả nhất để có kết quả tốt DePasquale và Geller (2000), Sulzer-Azaroff và Austin (2000). Là một quy trình chung cho cấu trúc và an toàn hành vi lý tưởng bắt đầu bằng cách xác định hành vi không an toàn thông qua phân tích các hồ sơ thương tích, sự cố và đã xảy ra trước đó. Sau đó thiết lập một danh sách kiểm tra thích hợp để quan sát bao gồm tất cả các hành vi không an toàn. Thực hiện chương trình huấn luyện bao gồm đào tạo và quan sát cho những người tham gia. Bước tiếp theo là thực hiện quan sát hành vi để đánh giá hành vi an toàn hiện tại sau khi đã huấn luyện. Cuối cùng đưa ra phản hồi, thảo luận về kết quả cho cải thiện tích cực. Tuy nhiên, nghiên cứu về quản lý an toàn dựa trên hành vi là “đổ lỗi cho nạn nhân”, nhấn mạnh trách nhiệm của từng công nhân và luôn chỉ ra rằng công nhân đó có thể hành động an toàn trong mọi hoàn cảnh DeJoy (2005), trong khi bỏ qua các điều kiện quản lý sau các hoàn cảnh đó Pidgeon và O'Leary (2000). Mohamed and Chinda (2011) đã ứng dụng ĐHHT để hiểu tương tác giữa các yếu tố chính của xây dựng văn hóa an toàn (lãnh đạo, chính sách và chiến lược, con người, quan hệ đối tác và tài nguyên, quy trình). Các mục tiêu an toàn được xác định trực tiếp trong quá trình lần lượt bị ảnh hưởng bởi bốn mục tiêu khác. Mô hình văn hóa an toàn trong xây dựng đã được phát triển bằng cách sử dụng ĐHHT để kiểm tra các tương tác và mối quan hệ nhân quả đó trong một khoảng thời gian. Chỉ số Construction Safety Culture (CSC), được phát triển thông qua mô hình hóa, đại diện cho tổng của năm khả năng và mục tiêu tại một thời điểm. Chỉ số CSC được phát triển có khả năng hỗ trợ các tổ chức đánh giá mức độ trưởng thành văn hóa an toàn hiện tại của họ và xác định các khu vực để cải thiện an toàn để cho phép tiến tới mức trưởng thành cao hơn. Các tổ chức có mức trưởng thành khác nhau sẽ cần các chính sách an toàn và quy trình thực hiện an toàn khác nhau, không thể bắt chước. Việc sử dụng mô hình ĐHHT, với chỉ số CSC được phát triển, sẽ giúp các tổ chức lập kế hoạch thực hiện quy trình an toàn hiệu quả nhất để đạt được các mục tiêu an toàn của họ trong khung thời gian dự kiến. Han và cộng sự (2014) ứng dụng ĐHHT để xem xét ảnh hưởng của Áp lực sản xuất đến hiệu suất an toàn. Một sơ đồ vòng lặp nhân quả sơ bộ được thiết lập để xác định mối quan hệ giữa tiến độ và hiệu suất chất lượng (ví dụ, trì hoãn tiến độ và làm lại) và các thành phần liên quan đến chương trình an toàn (ví dụ: nhận thức của công nhân về an toàn, huấn luyện an toàn, giám sát an toàn và quy mô tổ đội). Một Case study được thực hiện bằng thực nghiệm để điều tra mối quan hệ này với sự cố xảy ra với việc sử dụng dữ liệu được thu thập từ một công trường xây dựng. Kết quả của nghiên cứu Case study chỉ ra rằng sự chậm trễ tiến độ và làm lại là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự cố xảy ra cho dự án được quan sát. Shin và cộng sự (2014) xem hành vi không an toàn và điều kiện không an toàn là nguyên nhân gây ra tai nạn. Nghiên cứu đã xây dựng một hình ĐHHT về thái độ và hành vi an toàn của công nhân, để hiểu rõ các cơ chế phản hồi và động lực có liên quan. Mô hình gồm các vòng phản hồi chính như sau: Vòng lặp ra quyết định dựa trên hành vi an toàn (B1), Vòng lặp phục hồi sau tai nạn (B2) và lạc quan (R1), Vòng lặp thói quen (R3, R4). Mô hình sau đó được áp dụng để kiểm tra tính hiệu quả của ba chính sách cải thiện an toàn: khuyến khích các hành vi an toàn, tăng mức độ giao tiếp và đặt người lao động vào vai trò người bị nạn. Thông qua việc phân tích chính sách, xác minh tiềm năng mạnh mẽ của mô hình đã phát triển để hiểu rõ hơn về cách loại bỏ các hành vi không an toàn. Kết quả mô hình giúp hiểu rõ hơn về cách loại bỏ các hành vi không an toàn và hoạt động như một chương trình thí điểm để đánh giá hiệu quả của các chương trình an toàn hoặc các buổi huấn luyện trước khi thực hiện. Jiang và cộng sự (2015) coi hành vi không an toàn là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các vụ tai nạn. Nghiên cứu coi quản lý an toàn là một hệ thống, và áp dụng ĐHHT để chứng minh cách mà hệ thống tác động 90 12.2019 đến các hành vi không an toàn. Các điều kiện cá nhân và môi trường có thể dẫn đến một hành vi không an toàn được xác định thông qua phân tích nhận thức và điều kiện quản lý. Một mô hình ĐHHT – nguyên nhân gây ra các hành vi không an toàn (A system dynamics model for the causation of unsafe behaviors - SD-CUB) được phát triển để mô tả cấu trúc nguyên nhân của hệ thống. Một loạt các thử nghiệm mô hình được tiến hành để xây dựng sự phù hợp của mô hình SD-CUB. Một cuộc khảo sát và quan sát trong năm tuần về một dự án xây dựng dân dụng được thực hiện để chứng minh rằng mô hình SD-CUB tạo ra các mô hình hành vi chính xác. Các thử nghiệm mô hình cũng ngụ ý rằng an toàn và sản xuất thực sự có thể hỗ trợ lẫn nhau, các điều kiện quản lý ở cấp độ giám sát có hiệu quả trong việc cải thiện nhận thức về an toàn của công nhân, và các hành động phòng ngừa có hiệu quả hơn các hành động phản ứng nhằm tăng cường hiệu suất an toàn. Mô hình SD-CUB cũng có thể được sử dụng làm cơ sở mô phỏng các tình huống trên các công trường khác nhau để khám phá giải pháp tốt nhất để ngăn chặn và khắc phục các hành vi không an toàn và bằng cách thiết kế lại cấu trúc nguyên nhân, có thể xác định các điểm đòn bẩy và chiến lược quản lý quan trọng. Bùi Hoàng Phương (2014) đã kết hợp mô hình EFQM và System dynamics để cải thiện văn hóa an toàn. Tác giả đã xây dựng được bộ khung để đánh giá sự tác động giữa các nhân tố trong văn hóa an toàn của tổ chức. Bao gồm 32 thuộc tính được phân thành 6 nhóm nhân tố: lãnh đạo, con người, quan hệ đối tác và nguồn tài nguyên, chính sách và chiến lượng, quy trình, mục tiêu. Một mô hình EFQM của văn hóa an toàn được xây dựng bao gồm 6 nhân tố với 30 tiêu chí cũng đã được xây dựng. Và các mô hình động về lãnh đạo, con người, quan hệ đối tác và nguồn tài nguyên, chính sách và chiến lược, về quy trình, mục tiêu, chỉ số văn hóa an toàn cũng đã được xây dựng. 3.Phương pháp nghiên cứu Hình 1: Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng cấu trúc động học hệ thống trong mô hình nguyên nhân dẫn đến các hành vi không an toàn của công nhân. Động học hệ thống (System Dynamic) được bắt đầu phát triển vào những năm 1950 của thế kỷ trước Forrester, được các nhà toán học và nhà khoa học sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Mô hình động học hệ thống có thể đại diện được mô hình tương tác giữa các yếu tố trong đời sống thực, là phương pháp giúp để hiểu được các vấn đề phức tạp, các vấn đề sẽ thay đổi theo số lần lặp lại của vòng lặp , các chuỗi kín liên kết nguyên nhân và ảnh hưởng sẽ truyền thông tin của các hành động trước cho các hành động kế tiếp. Một vài nghiên cứu trước đây về nguyên nhân dẫn đến các hành vi không an toàn và ứng dụng ĐHHT trong an toàn lao động cũng đã được kể ra như: Thanwadee Chinda và Sherif Mohamed (2011) đã ứng dụng ĐHHT để xây dựng mô hình động học hệ thống về văn hóa an toàn; Shin và cộng sự (2014) ứng dụng ĐHHT để mô phỏng thái độ và hành vi an toàn của công nhân xây dựng; Jiang và cộng sự (2015) hiểu nguyên nhân các hành vi không an toàn của công nhân xây dựng dựa trên mô hình ĐHHT; Shire và cộng sự (2018) ứng dụng ĐHHT để cải thiện hệ thống an toàn - ứng dụng hiện tại và tiềm năng trong tương lai. Các nghiên cứu trên đã chứng minh cho tính động của các vấn đề về an toàn và áp dụng ĐHHT để giải quyết các vấn đề an toàn. Xác định các nhân tố có ảnh hưởng lớn đến hành vi không an toàn của công nhân để đưa vào mô hình thông qua phân tích kết quả của bảng khảo sát đại trà. Kết quả phân tích chọn được 16 nhân tố (biến) có mean ≥ 3 – tức là có mức ảnh hưởng trung bình đến rất lớn để đưa vào mô hình. Các biến được chia thành 04 nhóm như sau: 1- Điều kiện cá nhân (nhận thức về an toàn của công nhân, kiến thức an toàn của công nhân, thái độ của công nhân, tiêu chuẩn chủ quan của công nhân, tình trạng thể chất của công nhân, nhận thức để kiểm soát hành vi của công nhân), 2- Điều kiện môi trường (tiếp xúc các mối nguy hiểm, điều kiện làm việc không an toàn), 3- Điều kiện quản lý (năng lực của nhà thầu, phong cách và năng lực quản lý, truyền thông an toàn, giám sát an toàn, phản hồi về hành vi an toàn, huấn luyện an toàn cho công nhân, học tập từ sự cố), 4- Môi trường xã hội (các quy định về an toàn của các cơ quan quản lý nhà nước). 4.Xây dựng mô hình Phân tích nhận thức Theo Jiang và cộng sự (2015) các mô hình xử lý thông tin được sử dụng rộng rãi để phân tích lỗi của con người và hành vi không an toàn Furnham (1994), Kontogianni (1997), Shorrock và Kirwan (2002), Kines (2003), Chang và Mosleh (2007). Nghiên cứu coi hành vi không an toàn của công nhân là kết quả của sự thất bại về nhận thức và dựa trên mô hình được công nhận rộng rãi do Surry (1969) đề xuất, một phương pháp phân tích nhận thức tổng thể được các tác giả phát triển để xác định các yếu tố quan trọng có thể dẫn đến một công nhân thất bại về nhận thức Zhang (2012). Phân tích bao gồm năm giai đoạn nhận thức: 1. Phát hiện các mối nguy hiểm, 2. Nhận biết các mối nguy hiểm, 3. Nhận thức phản hồi, 4. Chọn một phản hồi an toàn và 5. Thực hiện các phản ứng an toàn. Trước khi một công nhân thực hiện một hành vi an toàn, anh ta/cô ta trải qua tuần tự các bước sau: (1) phát hiện một mối nguy hiểm xung quanh; (2) nhận ra khả năng bị thương do nguy hiểm hoặc nhận ra rằng hành vi tiềm ẩn là nguy hiểm; (3) truy xuất ký ức hoặc nhìn vào người khác để nhận ra phản ứng an toàn; (4) chọn phản ứng an toàn; và (5) thực hiện đúng các phản ứng an toàn. Thất bại nhận thức trong bất kỳ giai đoạn nào ở trên có thể dẫn đến một hành vi không an toàn Zhang và Fang (2013). Trong giai đoạn 1, các cách tìm kiếm các mối nguy hiểm được phân biệt rõ hơn thành tìm kiếm có chủ ý và tìm kiếm không chủ ý theo thông tin để ra quyết định và hành động trong tổ đội Chang và Moslehepage (2007). Việc không có chủ ý tìm kiếm có nghĩa là khi một công nhân không có ý định tìm kiếm các mối nguy hiểm, một mối nguy hiểm vẫn có thể được phát hiện nếu nó có thể thu hút sự chú ý của công nhân. Do đó, có ba trường hợp có thể xảy ra khi một sự cố nhận thức xảy ra trong giai đoạn 1: 1. Không cố tình tìm kiếm các mối nguy hiểm vì tiết kiệm thời gian, quá tự tin ... 2. Không phát hiện các mối nguy hiểm khi tìm kiếm có chủ ý vì các mối nguy hiểm bị chặn, các mối nguy hiểm vượt quá khả năng thể chất, không mong đợi các mối nguy hiểm, đánh giá thấp rủi ro … 3. Không phát hiện các mối nguy hiểm khi tìm kiếm không chủ ý vì các mối nguy hiểm bị chặn, các mối nguy hiểm vượt quá khả năng thể chất, làm việc quá giờ, thiếu ngủ, mệt mỏi, gián đoạn đồng hồ sinh học, cảnh giác thấp … Trong giai đoạn 2, một sự thất bại về nhận thức có thể xảy ra do thiếu kiến thức liên quan, tần suất sử dụng kiến thức thấp… Trong giai đoạn 3, một thất bại về nhận thức có thể xảy ra do thiếu kiến thức liên quan, tần suất sử dụng kiến thức thấp, tác động tiêu cực từ quản lý, tác động tiêu cực từ đồng nghiệp,… Trong giai đoạn 4, một thất bại về nhận thức có thể xảy ra do không nhận ra tầm quan trọng của phản ứng an toàn, không thuận tiện, không thoải mái, tác động tiêu cực đáng kể từ những người khác, kiểm soát nội bộ, kiểm soát bên ngoài,… Trong giai đoạn 5, một thất bại có thể xảy ra do mệt mỏi, thiếu kiến thức liên quan, không có điều kiện bên ngoài hỗ trợ… Các biến chính của mô hình Sau khi tiến hành khảo sát bằng bảng câu hỏi, các phân tích thông kê đã được thực hiện, kết quả chọn được 16 biến có ảnh hưởng lớn đến hành vi không an toàn của công nhân. Giả sử giá trị tối đa của mỗi biến là 1, giá trị tối thiểu của mỗi biến là 0. Mối quan hệ giữa mỗi cặp nguyên nhân và hiệu ứng là tuyến tính và về cơ bản có hai loại tham số (hằng số) trong mô hình: trì hoãn và thời gian để thay đổi. “Trì hoãn” thông số chỉ ảnh hưởng chậm trễ mà một yếu tố nào đó gây ra, [ví dụ, có một độ trễ về thời gian giữa xác định nguy cơ và thực thi các biện pháp giảm thiểu rủi ro Manuele (2009)]; và thời gian để thay đổi các tham số của công nhân đề cập đến thời gian bình thường cần thiết cho một lần điều chỉnh yếu tố của kho, [ví dụ, vì chú trọng quản lý vào huấn luyện an toàn, nhận thức về an toàn của công nhân có thể tăng dần Bahn và Barratt-Pugh (2012)]. Bảng 1: Các biến chính của mô hình và giá trị giả định Giá trị Diễn giải về giá trị các biến STT Biến Min Max 1 Nhận thức an toàn của công nhân 0 1 [0] Công nhân nhận thức kém về an toàn, [1] Công nhân nhận thức về an toàn tốt 2 Kiến thức về an toàn của công nhân 0 1 [0] Công nhân không có kiến thức về an toàn, [1] Công nhân có kiến thức về an tốt. [0] Công nhân không chú ý về an toàn, [1] Công nhân coi vấn đề an toàn là quan 3 Thái độ của công nhân 0 1 trọng [0] Công nhân đánh giá thấp về vấn đề an toàn, [1] Công nhân đánh giá cao vấn đề 4 Tiêu chuẩn chủ quan của công nhân 0 1 an toàn 5 Tình trạng thể chất của công nhân 0 1 [0] Công nhân có tình trạng sức không tốt, nghiện rượu.., thường xuyên tăng ca, [1] Công nhân có tình trạng sức khỏe tốt, không sự dụng chất kích thích, không quá tải trong công việc 6 Nhân thức để kiểm soát hành vi của công nhân 0 1 [0] Công nhân không nhận ra các mối nguy để đưa ra hành động phù hợp, [1] Công nhân có khả năng nhận ra các mối nguy và có hành động phù hợp 12.2019 91 STT Biến Giá trị Min Max 7 Tiếp xúc với các mối nguy hiểm 0 1 8 9 Điều kiện làm việc không an toàn Năng lực của nhà thầu 0 0 1 1 10 Phong cách và năng lực quản lý 0 1 Diễn giải về giá trị các biến [0] Công nhân không tiếp xúc mối nguy, [1] Công nhân tiếp xúc mối nguy thường xuyên. [0] Điều kiện làm việc an toàn, [1] Điều kiện làm việc không an toàn [0] Nhà thầu không có năng lực, [1] Nhà thầu có năng lực tốt [0] Cấp quản lý không xem trọng an toàn và không có năng lực, [1] Cấp quản lý xem trọng an toàn và có năng lực [0] Không cung cấp các thông tin về an toàn trên công trường, [1] Cung cấp đầy đủ thông tin an toàn trên công trường [0] Không có giám sát an toàn, [1] Có giám sát an toàn và giám sát tốt 0 1 12 Truyền thông về an toàn (Cung cấp các thông tin về an toàn) Giám sát an toàn 0 1 13 Phản hồi về hành vi của công nhân 0 1 [0] Không phản hồi về hành vi an toàn của công nhân, [1] Phản hồi về hành vi an toàn của công nhân tốt và thường xuyên. 14 15 Huấn luyện an toàn cho công nhân Học tập từ sự cố 0 0 1 1 [0] Không có huấn luyện an toàn, [1] Huấn luyện an toàn tốt [0] Không có học tập từ sự cố, [1] Học tập từ sự cố tốt 16 Các quy định về an toàn của các cơ quan quản lý nhà nước 11 0.5 Nghiên cứu giả định các quy định về an toàn của các cơ quan quản lý nhà nước ở mức trung bình. Các giả thiết chính của mô hình 1. Hành vi không an toàn là kết quả của sự thất bại về nhận thức, một liên kết được xây dựng từ xác suất thất bại nhận thức đến hành vi không an toàn. 2. Các điều kiện cá nhân và môi trường là nguyên nhân trực tiếp của sự thất bại về nhận thức. Do đó, các liên kết từ các điều kiện cá nhân và môi trường đến xác suất thất bại nhận thức được xây dựng. 3. Các điều kiện quản lý được xác định trong phần trên được coi là nguyên nhân cơ bản của sự thất bại về nhận thức và ảnh hưởng đến quá trình nhận thức của người lao động thông qua việc ảnh hưởng đến các điều kiện môi trường và điều kiện cá nhân có liên quan, các liên kết từ điều kiện quản lý đến điều kiện môi trường và cá nhân được xây dựng . 4. Phản hồi từ các hành vi không an toàn đến các điều kiện quản lý thông qua các sự cố được xây dựng. Khi có nhiều sự cố xảy ra, các nhà quản lý sẽ phản ứng với phản hồi tích cực thông qua việc nhấn mạnh vào sự an toàn Cooke (2003), Han và cộng sự (2014). Ở đây, “sự cố” được định nghĩa rộng hơn bao gồm bất kỳ sự kiện bất thường nào có thể dẫn đến tai nạn, được sử dụng có chủ ý. Dữ liệu về các sự cố có thể đóng vai trò là nền tảng cho các hành động quản lý và học tập từ sự cố Cooke và Rohleder (2006). 5. Môi trường xã hội ảnh hưởng đến các hành vi không an toàn thông qua tác động đến điều kiện quản lý, điều kiện môi trường và điều kiện cá nhân. Xây dựng mô hình Sau khi một mô hình động sơ sơ bộ được xây dựng dựa trên tham khảo một vài nghiên cứu trước. Sau đó tham khảo ý kiến chuyên gia và hiệu chỉnh cho phù hợp thực tế điều kiện Việt Nam được Mô hình động nguyên nhân dẫn đến hành vi không an toàn của công nhân xây dựng như Hình 2. Mô hình gồm 16 nhân tố ảnh hưởng đến hành vi không an toàn của công nhân, được phân thành 04 nhóm. Các điều kiền quản lý tác động đến hành vi không an toàn của công nhân thông qua điều kiện cá nhân và điều kiện môi trường. Môi trường xã hội tác động đến hành vi không an toàn thông qua điều kiện quản lý, điều kiện cá nhân và điều kiện môi trường. Mô hình gồm các vòng lặp cơ bản sau: Ảnh hưởng của quản lý đối với người lao động (Điều kiện quản lý → Điều kiện cá nhân → Xác suất thất bại của nhận thức → Hành vi không an toàn → Sự cố → Điều kiện quản lý) cho thấy các điều kiện quản lý ảnh hưởng đến hành vi của người lao động thông qua các điều kiện cá nhân. 92 12.2019 Hình 2: Mô hình động các nguyên nhân dẫn đến hành vi không an toàn − Giảm thiểu mối nguy (Điều kiện quản lý → Các biện pháp giảm thiểu mối nguy → Tiếp xúc nguy hiểm → Xác suất thất bại của nhận thức → Hành vi không an toàn → Sự cố → Điều kiện quản lý) cho thấy sự tiếp xúc nguy hiểm có thể dẫn đến các hành vi không an toàn bị ảnh hưởng bởi các điều kiện quản lý thông qua biện pháp giảm thiểu rủi ro. − Ảnh hưởng của đồng nghiệp (Điều kiện cá nhân → Xác suất thất bại của nhận thức → Hành vi không an toàn → Điều kiện cá nhân) cho thấy tác động của đồng nghiệp đối với các hành vi không an toàn của công nhân, được coi là một thành phần quan trọng của các điều kiện cá nhân. − Áp lực công việc (Điều kiện cá nhân → Xác suất thất bại về nhận thức → Hành vi không an toàn → Sự cố → Áp lực sản xuất → Tình trạng quá tải trong công việc → Điều kiện cá nhân). − Tích lũy mệt mỏi: Áp lực sản xuất → Tình trạng quá tải công việc → Tình trạng thể chất của công nhân → Xác suất thất bại của nhận thức → Hành vi không an toàn → Sự cố → Áp lực sản xuất) cho thấy ảnh hưởng của tình trạng quá tải công việc đối với điều kiện cá nhân của công nhân. 5.Kiểm tra và phân tích mô hình Kiểm tra mô hình Theo đề xuất của Forrester và Senge từ (1980), các mô hình động lực học hệ thống nên được kiểm tra càng nhiều càng tốt, để đánh giá và kiểm chứng tính hiện thực của các giả định và hành vi của mô hình, và để hiểu rõ hơn về nguyên nhân của các hiện tượng quan sát được. Trước khi triển khai các thử nghiệm mô hình cụ thể, để đảm bảo rằng mô hình ĐHHT được xác minh cấu trúc, một loạt các thử nghiệm điều kiện tới hạn được thực hiện. Bằng cách kiểm tra sự tương ứng giữa hành vi do mô hình tạo ra và thực tế trong các điều kiện tới hạn (nghĩa là giá trị tối đa và tối thiểu giả định của từng biến), các thử nghiệm rất quan trọng để khám phá lỗ hổng Forrester và Senge (1980), Saysel và Barlas (2006). Các thử nghiệm điều kiện tới hạn cho thấy mô hình hoạt động như mong đợi. Thử nghiệm hành vi của mô hình Để biết được mức độ tác động đối với các hành vi không toàn như thế nào, nghiên cứu tiến hành hai thử nghiệm. Bằng cách giữ nguyên các yếu tố về điều kiện cá nhân của công nhân, thay đổi các điều kiện quản lý và điều kiện môi trường. Thử nghiệm 1 (test 1): Các điều kiện quản lý tốt, thể hiện ở giá trị các biến đầu vào ở mức cao (gần với 1). Từ đó sẽ tác động tích cực đến điều kiện môi trường thể hiện ở giá trị biến điều kiện làm việc không an toàn và tiếp xúc mối nguy hiểm ở mức thấp (gần với 0). Thử nghiệm 2 (test 2): Các điều kiện quản lý kém, thể hiện ở giá trị các biến đầu vào ở mức thấp (gần với 0). Từ đó có tác động tiêu cực và làm cho điều kiện môi trường kém hơn thể hiện ở giá trị biến điều kiện làm việc không an toàn và tiếp xúc mối nguy hiểm ở mức cao (gần với 1). kiện quản lý ở cấp độ giám sát. Để kiểm tra ảnh hưởng đối với các hành vi của công nhân, kiểm tra mô hình tập trung vào hành vi trong tương lai của công nhân khi các điều kiện quản lý ở cấp độ giám sát được thay đổi. Hình 4 cho thấy, bắt đầu từ tuần 1, vì sự nhấn mạnh được đặt vào các điều kiện quản lý như vậy, các hành vi không an toàn đã giảm và bắt đầu ổn định ở tuần thứ 8. Phân tích chính sách Zohar (2002) đã phân loại các hành động quản lý thành ba đại lượng: hành động phản ứng (Reactive action-RA), hành động phòng ngừa (Preventive action-PA) và ưu tiên (Prioritization-P). Một thử nghiệm độ nhạy chính sách được thực hiện trong khi liên quan đến từng khía cạnh của hành động quản lý như một gói chính sách, để phân tích ảnh hưởng của các chính sách an toàn đến hành vi không an toàn. Để phân tích chính sách, nghiên cứu giả định ba gói chính sách như sau: 1. Gói 1: Duy trì sự cân bằng giữa các hành động phòng ngừa của quản lý (huấn luyện an toàn cho công nhân, năng lực của nhà thầu, phong cách và năng lực của quản lý, truyền thông an toàn) và các hành động phản ứng (giám sát an toàn, phản hồi về hành vi an toàn của công nhân, học tập từ sự cố) 2. Gói 2: Tăng cường các hành động phản ứng của cấp quản lý 3. Gói 3: Tăng cường các hành động phòng ngừa của cấp quản lý Bảng 2: Tham số cho các gói chính sách an toàn STT Yếu tố Các gói chính sách 1 Hình 3: Thử nghiệm hành vi của mô hình Dựa vào biểu đồ như hình 3, cho thấy các điều kiện quản lý tác động đến hành vi không an toàn. Khi thay đổi các điều kiện quản lý tốt hơn thì hành vi không an toàn của công nhân cũng giảm. Điều này chứng minh hành vi không an toàn của công nhân ngoài chịu tác động của các yếu tố chủ quan do bản thân công nhân thì các yếu tố khách quan như điều kiện quản lý cũng tác tộng đến hành vi không an toàn của công nhân. Điều kiện quản lý tác động đến các hành vi không an toàn thông qua tác động đến điều kiện cá nhân và điều kiện môi trường. Hình 4: Ảnh hưởng của điều kiện quản lý tới hành vi không an toàn Các giám sát viên là những người theo dõi trực tiếp các hành vi của người lao động Ismail và cộng sự (2012). Simard và Marchand (1994) phát hiện ra rằng các giám sát viên tham gia có hiệu quả hơn trong việc cải thiện hiệu suất an toàn. Trong thử nghiệm dự đoán hành vi, các điều kiện quản lý như phong cách và năng lực quản lý, truyền thông an toàn, giám sát an toàn và phản hồi hành vi của công nhân được coi là điều 2 3 4 5 6 7 Trọng số huấn luyện an toàn cho công nhân Trọng số năng lực nhà thầu Trọng số giám sát an toàn Trọng số phản hồi về hành vi an toàn của công nhân Trọng số phong cách và năng lực quản lý Trọng số truyền thông an toàn Trọng số học tập từ sự cố Kết quả của phân tích chính sách Gói 1 (RA+PA) 1 Gói 2 (RA) 0.5 Gói 3 (PA) 1.5 1 1 1 0.5 1.5 1.5 1.5 0.5 0.5 1 0.5 1.5 1 1 0.5 1.5 1.5 0.5 Hình 5: Ảnh hưởng của các gói chính sách tới hành vi không an toàn Mục tiêu cuối cùng của thử nghiệm mô hình là xác định các chính sách có thể cải thiện hành vi không an toàn của hệ thống thực. Kết quả thử nghiệm mô hình (Hình 5) cho thấy, bắt đầu trong tình huống sự cố cao ban đầu, ba gói chính sách đều có hiệu quả trong việc giảm sự cố. Gói 3 (Phòng ngừa) hiệu quả hơn gói 2 (Phản ứng), đều này cũng chỉ ra rằng các hành động phòng ngừa dường như hiệu quả hơn các hành động phản ứng. Nhìn chung, qua phân tích cho thấy độ nhạy của các chính sách đối với hành vi không toàn. Ba bộ thông số của ba chính sách đều dẫn đến cùng một một xu hướng làm giảm các hành vi không an toàn bằng cách tăng cường các điều kiện quản lý. 6.Kết luận Nghiên cứu đã chứng minh hành vi không an toàn là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố ảnh hưởng đến nó trong một hệ thống phức tạp. Ngoài các điều kiện cá nhân nội tại của công nhân thì các điều kiện về môi trường xã hội, điều kiện quản lý và điều kiện môi trường cũng 12.2019 93 tác động đến các hành vi không an toàn của họ. Nghiên cứu trước đây về nguyên nhân tai nạn xây dựng có xu hướng tập trung vào các điều kiện công trường không an toàn vì có thể dễ dàng thu thập bằng chứng vật lý. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nghiên cứu đáng kể dành cho việc loại bỏ các điều kiện không an toàn, ngành xây dựng vẫn được coi là một trong những nghành có môi trường làm làm việc nguy hiểm nhất trên thế giới. Để cải thiện an toàn hơn nữa, ngành xây dựng cần chú ý hơn để loại bỏ các hành vi không an toàn, là một trong những nguyên nhân có ảnh hưởng lớn trong việc gây ra các sự cố và tai nạn. Nghiên cứu đã đề xuất mô hình nguyên nhân dẫn đến các hành vi không an toàn của công nhân xây dựng dựa trên ĐHHT. Mô hình giúp cải thiện sự hiểu biết của chúng ta và phân tích các cơ chế phản hồi phức tạp giữa các nguyên nhân dẫn đến hành vi không an toàn của công nhân xây dựng, từ đó đề xuất các chính sách để giảm thiểu hành vi không an toàn, tăng hiệu xuất an toàn của dự án xây dựng. LỜI CẢM ƠN Các tác giả xin chân thành cám ơn các Anh/Chị đã tham gia thực hiện cuộc khảo sát và Trường Đại học Bách Khoa- ĐHQG TP.HCM đã hỗ trợ cho bài báo này. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Dongping Fang, Chen Zhao, and Mengchun Zhang, A Cognitive Model of Construction Workers’ Unsafe Behaviors. Journal of Construction Engineering and Management, © ASCE, ISSN 07339364: 04016039 [2] Đỗ, C.N., Ứng dụng System dynamics giải quyết tranh chấp về tiến độ trong dự án xây dựng Luận văn thạc sĩ, Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh, 2016. [3] Guo, B. H. W., Goh, Y. M. & Le Xin Wong, K. 2018. A System dynamics view of a behaviorbased safety program in the construction industry. Safety Science, 104, 202-215. [4] Guo, Brian HW, Tak Wing Yiu, and Vicente A González. 2015. “Identifying Behaviour Patterns of Construction Safety Using System Archetypes.” Accident Analysis & Prevention 80: 125–141 [5] Goh, Yang Miang, Mohamed Jawad, and Askar Ali. 2016. “A Hybrid Simulation Approach for Integrating Safety Behavior Into Construction Planning: An Earthmoving Case Study.” Accident Analysis & Prevention 93: 310–318 [6] Grant, E., Salmon, P. M., Stevens, N. J., Goode, N. & Read, G. J. 2018. Back to the future: What do accident causation models tell us about accident prediction? Safety Science, 104, 99-109. [7] Han, S., F. Saba, S. Lee, Y. Mohamed, and F. Pena-Mora. 2014. “Toward an Understanding of the Impact of Production Pressure on Safety Performance in Construction Operations.” Accident Analysis and Prevention 68: 106–116. [8] Ibrahim Shire, M., Jun, G. T. & Robinson, S. 2018. The application of System dynamics modelling to system safety improvement: Present use and future potential. Safety Science, 106, 104-120. [9] Juan Martín García 2006, Theory and Practical Exercises of System Dynamics. ISBN 9788460998044 [10] Jiang, Z., D. Fang, and M. Zhang. 2014. “Understanding the Causation of Construction Workers’ Unsafe Behaviors Based on System Dynamics Modeling.” Journal of Management in Engineering 31 (6): 04014099. [11] Leveson, N. G. 2011. Applying systems thinking to analyze and learn from events. Safety Science, 49, 55-64. [12] Maryani, A., Wignjosoebroto, S. & Partiwi, S. G. 2015. A System dynamics Approach for Modeling Construction Accidents. Procedia Manufacturing, 4, 392-401. [13] Mitropoulos, Panagiotis, Tariq S. Abdelhamid, and Gregory A. Howell. 2005. “Systems Model of Construction Accident Causation.” Journal of Construction Engineering and Management 131 (7): 816–825. [14] Mohamed, Sherif, and Thanwadee Chinda. 2011. “System Dynamics Modelling of Construction Safety Culture.” Engineering, Construction and Architectural Management 18 (3): 266–281. [15] Shin, M., Lee, H. S., Park, M., Moon, M. & Han, S. 2014. A System dynamics approach for modeling construction workers' safety attitudes and behaviors. Accid Anal Prev, 68, 95-105. [16] Sterman, J.D. 2000. Business dynamics: systems thinking and modeling for complex world, Irwin/McGraw- Hill Boston. 94 12.2019
0
You can add this document to your study collection(s)
Sign in Available only to authorized usersYou can add this document to your saved list
Sign in Available only to authorized users(For complaints, use another form )