Vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu: Các biểu hiện, ảnh hưởng và giải pháp
Carbon dioxide trong khí quyển
THÔNG ĐIỆP CHÍNH
• Trong năm 2023, nồng độ carbon dioxide trong khí quyển, cùng với methane và nitrous oxide, đã
đạt mức cao nhất trong vòng 800.000 năm qua.
• Dữ liệu thời gian thực từ các địa điểm cụ thể cho thấy mức độ của ba khí nhà kính chính này tiếp
tục tăng trong năm 2024.
TÌNH TRẠNG CHỈ SỐ
Phần mol trung bình hàng năm toàn cầu của carbon dioxide (CO2) trong khí quyển – hay còn gọi
là nồng độ khí quyển – đã đạt mức cao kỷ lục mới vào năm 2023, năm mới nhất có các số liệu
hàng năm tổng hợp toàn cầu (Hình 1). Ở mức 420,0 ± 0,1 phần triệu (ppm), nồng độ năm 2023 cao
hơn năm 2022 là 2,3 ppm và bằng 151% so với nồng độ thời kỳ tiền công nghiệp (năm 1750). Nồng
độ 420 ppm tương đương với 3.276 Gt CO2 trong khí quyển.
Trong khoảng thời gian từ ngày 1 tháng 1 năm 2023 đến ngày 31 tháng 12 năm 2023, nồng độ CO2
đã tăng 2,8 ppm, mức tăng trong năm lớn thứ tư kể từ khi các phép đo CO2 hiện đại bắt đầu vào
những năm 1950. Tốc độ tăng trưởng thường cao hơn trong điều kiện El Niño do sự gia tăng phát
thải từ cháy rừng và giảm khả năng hấp thụ carbon ròng trên đất liền
Nồng độ của methane (CH4) và nitrous oxide (N2O), hai loại khí nhà kính quan trọng khác, cũng
đạt mức cao kỷ lục được quan trắc vào năm 2023. Nồng độ CH4 đạt 1.934 ± 2 phần tỷ (ppb), bằng
265% so với mức thời kỳ tiền công nghiệp, và nồng độ N2O đạt 336,9 ± 0,1 ppb, bằng 125% so với
mức thời kỳ tiền công nghiệp. Dữ liệu theo thời gian thực cho thấy nồng độ CO2, CH4 và N2O tiếp
tục tăng trong năm 2024.
Hình 1. Phần mol carbon dioxide trong khí quyển trung bình toàn cầu hàng năm từ năm 1984 đến
năm 2023 tính theo phần triệu (ppm)
BỐI CẢNH CHỈ SỐ
Sự gia tăng nồng độ CO2 trong khí quyển do con người gây ra là tác nhân lớn nhất dẫn đến biến đổi
khí hậu. CO2 chiếm khoảng 66% lực bức xạ gây ra bởi tất cả các khí nhà kính tồn tại lâu dài kể từ
năm 1750 và khoảng 79% mức tăng trong thập kỷ qua. Nồng độ CO2 trong khí quyển hiện tại cao
hơn bất kỳ thời điểm nào trong ít nhất 2 triệu năm. Nồng độ của CH4 và N2O cao hơn bất kỳ thời
điểm nào trong ít nhất 800.000 năm.
Nồng độ các khí nhà kính được trình bày ở đây (Hình 1) được ước tính từ các phép đo trong một
mạng lưới phối hợp toàn cầu giai đoạn 1984–2023. Nồng độ thời kỳ tiền công nghiệp (năm 1750)
được ước tính bằng cách sử dụng không khí bị mắc kẹt trong các lõi băng.
Nồng độ CO2 trong khí quyển phản ánh sự cân bằng giữa nguồn phát thải và bể chứa CO2. Các
nguồn phát thải CO2 do con người gây ra có liên quan đến việc đốt nhiên liệu hóa thạch, sản xuất xi
măng cùng với những thay đổi về sử dụng đất như phá rừng. Các bể chứa CO2 bao gồm sự hấp thụ
của thảm thực vật và đại dương.
Phần CO2 do các hoạt động của con người thải ra vẫn còn tồn tại trong khí quyển được gọi là phần
lưu giữ trong không khí. Tỷ lệ này thay đổi hàng năm do tính biến đổi tự nhiên cao của các bể chứa
CO2, đặc biệt là những bể chứa trên đất liền. Các nguồn phát thải và bể chứa CO2 tự nhiên cũng bị
ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu thông qua nhiệt độ ngày càng tăng, những thay đổi về lượng mưa và
tính nhạy cảm với cháy sinh khối.
Trong giai đoạn 2014–2023, 48% tổng lượng phát thải từ các hoạt động của con người vẫn tồn tại
trong khí quyển, làm gia tăng nồng độ khí quyển. Bể chứa đại dương ước tính chiếm 26% lượng
phát thải và bể chứa trên đất liền ước tính chiếm 30%.
Khí CO₂ trong khí quyển (Atmospheric CO₂) dẫn đến:
Hiệu ứng nhà kính tăng cường (Enhanced Greenhouse Effect)
Axit hóa đại dương (Ocean Acidification)
Biến đổi trong năng suất cây trồng (Variation in Crop Productivity)
Thay đổi trong hàm lượng dinh dưỡng (Changes to Nutrient Content)
Ô nhiễm không khí (Air Pollution)
Trong đó, biến đổi năng suất cây trồng và thay đổi hàm lượng dinh dưỡng cùng dẫn đến:
Mất an ninh lương thực (Food Insecurity)
Nhiệt độ bề mặt trung bình toàn cầu
THÔNG ĐIỆP CHÍNH
• Nhiệt độ bề mặt trung bình toàn cầu được tính trung bình hàng năm vào năm 2024 cao hơn 1,55
°C ± 0,13 °C so với mức trung bình giai đoạn 1850–1900 được sử dụng để đại diện cho các điều
kiện tiền công nghiệp.
• Năm 2024 là năm nóng nhất trong 175 năm có dữ liệu quan trắc, vượt xa năm nóng kỷ lục trước
đó là năm 2023 (với mức chênh lệch là 1,45 °C ± 0,12 °C so với mức trung bình 1850–1900).
• Đối với nhiệt độ trung bình toàn cầu, mỗi năm trong mười năm qua, 2015–2024, đều lần lượt là
mười năm nóng nhất từng được ghi nhận.
TÌNH TRẠNG CHỈ SỐ
Nhiệt độ bề mặt trung bình toàn cầu được tính trung bình hàng năm vào năm 2024 cao hơn 1,55 °C
± 0,13 °C so với mức trung bình giai đoạn 1850–1900. Năm 2024 là năm nóng nhất trong 175 năm
có dữ liệu quan trắc. Năm nóng kỷ lục trước đó là năm 2023 với mức chênh lệch là 1,45 °C ± 0,12
°C. Mỗi năm trong mười năm qua, 2015–2024, đều lần lượt là mười năm nóng nhất từng được ghi
nhận. Phân tích này dựa trên sự tổng hợp của sáu bộ dữ liệu nhiệt độ toàn cầu (Hình 2).
Hình 2. Nhiệt độ trung bình toàn cầu hàng năm bất thường so với mức cơ sở tiền công nghiệp
(1850–1900) được hiển thị từ năm 1850 đến năm 2024Hình 2. Nhiệt độ trung bình toàn cầu hàng
năm bất thường so với mức cơ sở tiền công nghiệp (1850–1900) được hiển thị từ năm 1850 đến năm
2024
Hình 2. Nhiệt độ trung bình toàn cầu hàng năm bất thường so với mức cơ sở tiền công nghiệp
(1850–1900) được hiển thị từ năm 1850 đến năm 2024
Nhiệt độ trung bình toàn cầu năm 2024 được đẩy cao bởi hiện tượng El Niño mạnh lên đến đỉnh
điểm vào đầu năm. Tuy nhiên, nhiệt độ đã ở mức kỷ lục từ năm Trong mỗi tháng từ tháng 6 năm
2023 đến tháng 12 năm 2024, nhiệt độ trung bình toàn cầu hàng tháng đều vượt quá mọi kỷ lục
hàng tháng trước năm 2023.
BỐI CẢNH CHỈ SỐ
Nhiệt độ bề mặt trung bình toàn cầu là một chỉ số về nhiệt độ gần bề mặt Trái đất được tính trung
bình trên toàn bộ bề mặt. Nó được ước tính bằng cách sử dụng nhiệt độ không khí đo được tại các
trạm thời tiết ở độ cao khoảng 1,5 đến 2 m và nhiệt độ bề mặt biển đo được bởi tàu và phao đại
dương. Dữ liệu được kiểm soát chất lượng và hiệu chỉnh cho những thay đổi trong phương pháp đo
nhiệt độ, sau đó các khoảng trống được lấp đầy bằng các phương pháp thống kê. Nhiệt độ trung
bình toàn cầu cũng có thể được tính toán bằng các bản phân tích lại, sử dụng hệ thống dự báo thời
tiết để kết hợp nhiều loại đo lường, bao gồm cả đo lường từ vệ tinh. Các ước tính dựa trên bản phân
tích lại có tính đại diện cho nhiệt độ không khí trên toàn bộ đất liền và đại dương.
Nhiệt độ bề mặt trung bình toàn cầu (Global Mean Surface Temperature)
(được tăng cường bởi các hiện tượng cực đoan: lũ lụt, hạn hán, nắng nóng, cháy rừng)
Rủi ro liên quan đến nhiệt độ bề mặt trung bình toàn cầu tăng cao
Dẫn đến:
Thay đổi và mất mát đa dạng sinh học (Biodiversity Changes and Losses)
⮕ Tuyệt chủng loài (Species Extinction)
Suy giảm năng suất nông nghiệp và thủy sản (Decline in Agricultural and Fishing Yields)
⮕ Vấn đề sức khỏe toàn cầu (Global Health Issues)
⮕ Mất an ninh lương thực (Food Insecurity)
⮕ Xung đột (Conflicts)
Khủng hoảng nước (Water Scarcity)
⮕ Mất kế sinh nhai (Reduced Livelihoods)
⮕ Di dời, mất nơi ở (Displacement)
Suy thoái hạ tầng xây dựng (Built Infrastructure Degradation)
⮕ Di dời, mất nơi ở (Displacement)
Tan băng vĩnh cửu (Permafrost Thawing)
⮕ Tăng phát thải khí nhà kính và hiệu ứng nhà kính bổ sung (Increase Greenhouse Gas
Release and Additional Greenhouse Effect)
Nội nhiệt đại dương
THÔNG ĐIỆP CHÍNH
• Năm 2024, nội nhiệt đại dương đã đạt mức cao nhất trong 65 năm có dữ liệu quan trắc, vượt qua
mức kỷ lục trước đó thiết lập vào năm 2023.
• Trong tám năm qua, mỗi năm đều thiết lập một kỷ lục mới về nội nhiệt đại dương.
• Tốc độ ấm lên của đại dương trong hai thập kỷ qua (2005–2024) cao hơn gấp hơn hai lần so với
giai đoạn 1960–2005.
TÌNH TRẠNG CHỈ SỐ
Năm 2024, nội nhiệt đại dương toàn cầu quan trắc được đã thiết lập kỷ lục mới, vượt 16 ± 8 ZJ so
với kỷ lục trước đó thiết lập vào năm 2023 (Hình 3). Trong tám năm qua, mỗi năm đều thiết lập một
kỷ lục mới về nội nhiệt đại dương. Dữ liệu quan trắc bằng dụng cụ bắt đầu từ khoảng năm 1960.
Tốc độ ấm lên của đại dương trong hai thập kỷ qua (2005–2024), từ 0,99–1,07 W/𝑚−2 hoặc 11,2–
12,1 ZJ mỗi năm, cao hơn gấp hơn hai lần so với tốc độ quan trắc được trong giai đoạn 1960–2005
(0,27–0,34 W/𝑚−2 hoặc 3,1–3,9 ZJ mỗi năm).
Hình 3. Lượng nhiệt đại dương toàn cầu hàng năm ở độ sâu 2000 m trong giai đoạn 1960–2024, tính
bằng zettajoule (1021 J). Vùng tô bóng biểu thị phạm vi bất định 2-sigma của mỗi ước tính.
BỐI CẢNH CHỈ SỐ
Hiện tượng đại dương ấm lên được quan trắc cho thấy Trái đất hiện đang mất cân bằng năng lượng.
Tốc độ ấm lên tiết lộ mức độ nhanh chóng mà hệ thống Trái đất đang giữ lại năng lượng dư thừa
dưới dạng nhiệt từ các lực tác động khí hậu. Khoảng 5% năng lượng dư thừa đó đang làm ấm lên
đất liền, 1% đang làm ấm lên khí quyển, và 4% đang làm ấm lên và làm tan chảy băng quyển. Tuy
nhiên, phần lớn, khoảng 90%, đi vào việc làm ấm lên đại dương. Do đó, chỉ số về nội nhiệt đại
dương là một chỉ số then chốt của biến đổi khí hậu.
Chuỗi thời gian về nội nhiệt đại dương ở quy mô toàn cầu cho thấy đại dương toàn cầu đang ấm lên
rõ rệt. Những thay đổi về nhiệt độ đại dương toàn cầu là không thể đảo ngược trong thang thời gian
hàng thế kỷ đến thiên niên kỷ, và các dự báo khí hậu cho thấy sự ấm lên của đại dương sẽ tiếp tục
trong phần còn lại của thế kỷ XXI và xa hơn nữa, ngay cả đối với các kịch bản phát thải thấp.
Sự ấm lên của đại dương có những hậu quả sâu rộng, như suy thoái các hệ sinh thái biển, mất đa
dạng sinh học và giảm khả năng hấp thụ carbon của đại dương. Nó thúc đẩy các cơn bão nhiệt đới
và cận nhiệt đới và làm trầm trọng thêm tình trạng mất băng biển đang diễn ra ở các vùng cực. Sự
ấm lên của đại dương cùng với việc mất băng trên đất liền đang làm mực nước biển dâng cao.
Hàm lượng nhiệt đại dương (Ocean Heat Content)
(được tăng cường bởi các đợt nắng nóng biển – Marine Heatwaves)
Dẫn đến:
Nồng độ khí nhà kính cao hơn và hiệu ứng nhà kính (Higher Greenhouse Gas Concentration
and Greenhouse Effect)
Hiện tượng tảo nở hoa và phú dưỡng (Algae Bloom and Eutrophication)
⮕ Mất oxy trong nước (Deoxygenation)
⮕ Thay đổi đa dạng sinh học và mất mát (Biodiversity Changes and Losses)
Tầng phân tầng đại dương mạnh hơn (Greater Ocean Stratification)
⮕ Rào cản với hàm lượng dinh dưỡng (Barriers to Nutrient Content)
⮕ Thay đổi và mất mát đa dạng sinh học (Biodiversity Changes and Losses)
Hiện tượng tẩy trắng san hô (Coral Bleaching)
⮕ Suy thoái hệ sinh cảnh (Habitat Degradation)
⮕ Suy giảm sản lượng khai thác thủy sản (Reduced Fishing Yields)
o
⮕ Mất an ninh lương thực (Food Insecurity)
o
⮕ Xung đột (Conflict)
o
⮕ Mất kế sinh nhai (Reduced Livelihoods)
Suy thoái hệ sinh cảnh (Habitat Degradation)
⮕ Mất di sản thiên nhiên (Natural Heritage Loss)
⮕ Tổn thất du lịch (Tourism Losses)
⮕ Mất kế sinh nhai (Reduced Livelihoods)
Rủi ro liên quan đến việc tăng hàm lượng nhiệt đại dương và Mục tiêu Phát triển Bền vững
Chỉ số chính
Mực nước biển trung bình toàn cầu
THÔNG ĐIỆP CHÍNH
• Năm 2024, mực nước biển trung bình toàn cầu đạt mức cao kỷ lục trong kỷ nguyên vệ tinh (từ
năm 1993 đến nay).
• Tốc độ dâng mực nước biển trung bình toàn cầu trong 10 năm qua (2015–2024) cao hơn gấp hơn
hai lần so với tốc độ dâng trong thập kỷ đầu tiên của kỷ nguyên vệ tinh (1993–2002).
TÌNH TRẠNG CHỈ SỐ
Tốc độ dâng mực nước biển dài hạn (Hình 4) đã tăng hơn gấp đôi kể từ khi bắt đầu kỷ nguyên vệ
tinh, tăng từ 2,1 mm mỗi năm giữa giai đoạn 1993–2002 lên 4,7 mm mỗi năm giữa giai đoạn 2015–
2024. Năm 2024, mực nước biển trung bình toàn cầu đạt mức cao kỷ lục trong kỷ nguyên vệ tinh (từ
năm 1993 đến nay).
Biến thiên theo từng năm của mực nước biển trung bình toàn cầu xung quanh xu thế dài hạn có
tương quan với Dao động Nam El Niño (ENSO). Sự dâng lên và hạ xuống của mực nước biển trung
bình toàn cầu do El Niño và La Niña phát sinh do các dịch chuyển đặc trưng trong hình thái mưa
làm trao đổi nước giữa đại dương và đất liền, cũng như những thay đổi cục bộ về nội nhiệt đại
dương.
Hình 4. Biến đổi mực nước biển trung bình toàn cầu theo mùa từ năm 1993 được thể hiện cho giai
đoạn 1993–2024. Chu kỳ theo mùa đã bị xóa khỏi dữ liệu. Vùng tô bóng biểu thị mức độ không
chắc chắn.
Hiện tượng El Niño mạnh 2023/2024 đã tạm thời đẩy mực nước biển trung bình toàn cầu lên cao vài
milimet, đạt đỉnh vào mùa đông bán cầu bắc 2023/2024. Sự sụt giảm tạm thời của mực nước biển
trung bình toàn cầu trong đầu năm 2024 tương ứng với thời điểm kết thúc của El Niño và quay trở
lại điều kiện trung tính, mặc dù có thể có các yếu tố đóng góp khác.
BỐI CẢNH CHỈ SỐ
Việc đại dương ấm lên khiến nước giãn nở và làm mực nước biển trung bình toàn cầu dâng cao. Sự
tan chảy của băng trên đất liền cũng góp phần làm dâng mực nước biển. Bởi vì sự ấm lên của đại
dương sẽ tiếp tục trong nhiều thế kỷ ngay cả khi phát thải khí nhà kính chấm dứt, mực nước biển sẽ
tiếp tục dâng cao trong cùng thang thời gian đó.
Những thay đổi về mực nước biển có các tác động rộng khắp đến các khu vực và cộng đồng ven
biển. Mực nước biển dâng sẽ mang lại các tác động tầng lớp và hợp nhất, dẫn đến mất mát các hệ
sinh thái ven biển và dịch vụ hệ sinh thái, nhiễm mặn nước ngầm, lũ lụt và thiệt hại cho cơ sở hạ
tầng ven biển. Những tác động này chuyển thành các rủi ro đối với sinh kế, khu định cư, sức khỏe,
phúc lợi, an ninh lương thực và nước, cũng như các giá trị văn hóa trong ngắn hạn đến dài hạn.
Mực nước biển dâng (Sea-Level Rise)
(được tăng cường bởi các hiện tượng cực đoan như nước dâng do bão – storm surge)
Dẫn đến:
Xói lở bờ biển và ngập lụt (Coastal Erosion and Flooding)
o
Suy thoái hạ tầng xây dựng (Built Infrastructure Degradation)
o
Mất kế sinh nhai (Reduced Livelihoods)
Di dời, mất nơi ở (Displacement)
Nhiễm mặn đất và nguồn nước (Soil and Water Salinization)
o
Xung đột (Conflicts)
Thay đổi và mất mát đa dạng sinh học (Biodiversity Changes and Losses)
Mất an ninh lương thực (Food Insecurity)
Rủi ro liên quan đến mực nước biển dâng và Mục tiêu Phát triển Bền vững
Chỉ số chính
Độ pH của đại dương
THÔNG ĐIỆP CHÍNH
• Sự axit hóa bề mặt đại dương đã tiếp tục diễn ra trong 39 năm qua, thể hiện qua sự suy giảm ổn
định của độ pH trung bình toàn cầu trên bề mặt đại dương.
• Trên quy mô khu vực, sự axit hóa đại dương không gia tăng đồng đều.
TÌNH TRẠNG CHỈ SỐ
Trên toàn cầu, độ pH bề mặt đại dương đã thay đổi với tốc độ –0,017 ± 0,001 đơn vị pH mỗi thập kỷ
trong giai đoạn 1985–2023 (Hình 5). Năm 2023 là năm mới nhất mà chúng tôi có số liệu toàn cầu
tổng hợp. Sự suy giảm độ pH được gọi là sự axit hóa đại dương.
Trên quy mô khu vực, sự axit hóa đại dương không diễn ra đồng đều. Sự suy giảm mạnh nhất về độ
pH bề mặt khu vực được quan sát thấy ở Ấn Độ Dương, Nam Đại Dương, phía đông Thái Bình
Dương xích đạo, phía bắc Thái Bình Dương nhiệt đới và một số khu vực ở Đại Tây Dương. Ở
những khu vực này, chiếm 47% diện tích đại dương toàn cầu được lấy mẫu, bề mặt đại dương đang
trở nên axit hóa với tốc độ nhanh hơn mức trung bình toàn cầu.
Hình 5. Độ pH bề mặt đại dương trung bình toàn cầu hàng năm từ năm 1985 đến năm 2023. Đường
đậm là ước tính trung tâm và vùng tô bóng là phạm vi không chắc chắn.
BỐI CẢNH CHỈ SỐ
Khoảng một phần tư lượng CO2 do các hoạt động của con người thải ra trong thập kỷ 2014–2023
đã được đại dương hấp thụ. Quá trình này đã gây ra sự thay đổi trong hóa học carbonate của đại
dương, dẫn đến sự sụt giảm độ pH. Độ pH của đại dương trên 7, vì vậy nước biển vẫn hơi kiềm,
nhưng sự suy giảm độ pH được quan sát thấy được gọi là sự axit hóa đại dương.
Các dự báo khí hậu cho thấy sự axit hóa đại dương sẽ tiếp tục gia tăng trong thế kỷ XXI, với tốc độ
phụ thuộc vào lượng phát thải trong tương lai. Những thay đổi về độ pH ở đại dương sâu là không
thể đảo ngược trong thang thời gian hàng thế kỷ đến thiên niên kỷ.
Đã được xác định rõ rằng sự axit hóa đại dương đang ảnh hưởng đến sinh vật biển. Các phản ứng
của sinh vật biển đối với các tác động tổng hợp của axit hóa, sự ấm lên của đại dương và tình trạng
thiếu oxy xảy ra ở các cấp độ trao đổi chất khác nhau cho các nhóm khác nhau, và bao gồm căng
thẳng hô hấp và giảm khả năng chịu nhiệt.
Các tác động của axit hóa đại dương đến diện tích môi trường sống, đa dạng sinh học, chức năng hệ
sinh thái và dịch vụ hệ sinh thái đã được quan sát rõ ràng, và sản xuất lương thực từ nuôi trồng thủy
sản động vật có vỏ và nghề cá đã bị ảnh hưởng bất lợi.
Các rạn san hô vùng nước ấm và các bờ biển đá bị chi phối bởi các sinh vật không di chuyển, có khả
năng vôi hóa tạo ra vỏ và bộ xương, như san hô, hàu và trai, cũng bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ khắc
nghiệt và những thay đổi về độ pH.
Axit hóa đại dương (Ocean Acidification)
Dẫn đến:
Sự hình thành san hô (Coral formation)
o
Du lịch (Tourism)
o
Di sản thiên nhiên (Natural heritage)
Sự hình thành vỏ và bộ xương sinh vật biển (Marine shell and skeletal formation)
o
Biến đổi lưới thức ăn biển (Marine food web alteration)
Sản lượng thủy sản (Fishing yields)
Mất kế sinh nhai (Reduced livelihoods)
Xung đột (Conflicts)
Mất an ninh lương thực (Food insecurity)
Rủi ro liên quan đến axit hóa đại dương và Mục tiêu Phát triển Bền vững
Chỉ số chính
Cân bằng khối lượng sông băng
THÔNG ĐIỆP CHÍNH
• Sự mất khối lượng sông băng từ năm 2021/2022 đến 2023/2024 thể hiện mức cân bằng khối lượng
sông băng ba năm âm tính nhất từng được ghi nhận, và bảy trong số mười mức cân bằng khối lượng
sông băng hàng năm âm tính nhất kể từ năm 1950 đã xảy ra kể từ năm 2016.
• Các mức cân bằng khối lượng đặc biệt âm đã được ghi nhận tại Na Uy, Thụy Điển, Svalbard và
vùng Andes nhiệt đới.
TÌNH TRẠNG CHỈ SỐ
Dữ liệu về cân bằng khối lượng sông băng - lượng khối lượng được tích lũy hoặc mất đi của các
sông băng - cho năm thủy văn 2023/2024 (tháng 9–tháng 8) vẫn chưa có đầy đủ, nhưng các quan sát
sơ bộ từ khoảng 90% dữ liệu sông băng được báo cáo hàng năm cho Dịch vụ Giám sát Sông băng
Thế giới cho thấy năm 2023/2024 là một năm khác có mức cân bằng khối lượng cực kỳ âm trên
toàn cầu (Hình 6).
Các mức cân bằng khối lượng đặc biệt âm đã được ghi nhận tại Na Uy, Thụy Điển, Svalbard và
vùng Andes nhiệt đới. Chỉ 2 trong số 141 sông băng đã báo cáo cho đến nay (trên tổng số khoảng
160 sông băng) có cân bằng khối lượng dương tính, và giá trị tổng hợp từ tập hợp con gồm 58 trong
số khoảng 60 sông băng tham chiếu toàn cầu cho thấy mức mất khối lượng trung bình phù hợp với
các năm có cân bằng khối lượng đặc biệt âm 2021/2022 và 2022/2023, dự kiến gần bằng –1,1 mét
tương đương nước.
Điều này tiếp tục xu hướng mất khối lượng sông băng gia tăng trong những năm 2020. Ba năm qua
(2021/2022–2023/2024) thể hiện mức cân bằng khối lượng ba năm âm tính lớn nhất từng được ghi
nhận, và 7 trong số 10 năm có mức cân bằng khối lượng âm tính lớn nhất kể từ năm 1950 đã xảy ra
kể từ năm 2016.
Hình 6. Cân bằng khối lượng tích lũy hàng năm của các sông băng tham chiếu với hơn 30 năm đo
đạc băng hà đang diễn ra.
Giá trị thay đổi khối lượng hàng năm được biểu thị bằng mét nước tương đương, tương ứng với tấn
trên mét vuông (1.000 kg/𝑚2 ).
BỐI CẢNH CHỈ SỐ
Sông băng được hình thành từ tuyết nén chặt tạo thành băng, sau đó biến dạng và chảy xuống dốc.
Sông băng bao gồm hai khu vực: vùng tích lũy nơi khối lượng tích lũy từ tuyết rơi vượt quá lượng
băng mất đi, và vùng tan băng nơi lượng băng mất đi (sự tan băng) do tan chảy và các cơ chế khác
vượt quá sự tích lũy. Ở những nơi sông băng kết thúc trong hồ hoặc đại dương, băng có thể mất đi
thông qua sự tan chảy nơi băng tiếp xúc với nước, và thông qua hiện tượng vỡ băng khi các mảng
sông băng vỡ ra.
Cân bằng khối lượng sông băng - lượng khối lượng được tích lũy hoặc mất đi của sông băng thường được biểu thị bằng độ dày thay đổi hàng năm tính trung bình trên diện tích sông băng, được
biểu thị bằng mét tương đương nước. Một mét tương đương nước xấp xỉ bằng một tấn trên mỗi mét
vuông. Sự mất băng từ các sông băng đóng góp khoảng 21% tổng mực nước biển dâng trong giai
đoạn 1993–2018, khoảng một nửa so với đóng góp từ sự giãn nở do đại dương ấm lên (42%) nhưng
lớn hơn các đóng góp từ sự tan chảy của các tảng băng ở Greenland (15%) và Nam Cực (8%).
Cân bằng khối lượng của các sông băng riêng lẻ bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về nhiệt độ, lượng
mưa, độ ẩm và độ che phủ của mây. Báo cáo Đánh giá Thứ sáu của IPCC (AR6) kết luận rằng tác
động của con người rất có khả năng là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm toàn cầu của các
sông băng kể từ những năm 1990, nêu rõ "tính toàn cầu của sự suy giảm sông băng kể từ những
năm 1950, với hầu hết các sông băng trên thế giới suy giảm đồng bộ, là chưa từng có trong ít nhất
2.000 năm qua (độ tin cậy trung bình)".
Tốc độ tan chảy cũng bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi suất phản chiếu của sông băng, tỷ lệ ánh sáng mặt
trời được phản xạ bởi bề mặt sông băng. Băng sông băng lộ ra có màu tối hơn và do đó có suất phản
chiếu thấp hơn so với lớp tuyết theo mùa; nó cũng nhạy cảm với sự tối màu do bụi khoáng, carbon
đen, hoạt động của tảo và bụi từ cháy rừng. Lớp tuyết phủ giảm, mùa tan băng kéo dài và hoạt động
cháy rừng đều tập trung vật liệu tối hơn trên bề mặt sông băng, làm giảm suất phản chiếu và do đó
làm tăng tốc độ tan chảy.
Cân bằng khối lượng băng hà (Glacial Mass Balance)
Dẫn đến:
Suy yếu lưu thông nhiệt muối đại dương (Weakened Ocean Thermohaline Circulation)
o
Giảm khả năng hấp thụ CO₂ của đại dương (Reduced Ocean Sink Capacity)
o
Thay đổi các mô hình thời tiết toàn cầu (Changing Global Weather Patterns)
Thay đổi và mất mát đa dạng sinh học (Biodiversity Changes and Losses)
o
Tan chảy nguồn nước ngọt (Melting of Freshwater Resources)
o
Suy giảm năng suất nông nghiệp (Reduced Agricultural Yields)
Sạt lở đất, lở bùn, lở tuyết (Landslides, Mudslides, Avalanches)
o
Khủng hoảng và ô nhiễm nguồn nước (Water Scarcity and Pollution)
Ngập lụt (Flooding)
o
Tuyệt chủng loài (Species Extinction)
Suy thoái hạ tầng xây dựng (Built Infrastructure Degradation)
Mất di sản thiên nhiên (Loss of Natural Heritage)
o
Tổn thất du lịch (Tourism Losses)
Rủi ro liên quan đến sự suy giảm cân bằng khối lượng sông băng và các Mục tiêu Phát triển Bền
vững
Chỉ số chính
Phạm vi băng biển
THÔNG ĐIỆP CHÍNH
• Phạm vi băng biển tối thiểu hàng ngày ở Bắc Cực năm 2024 ở mức thấp thứ bảy trong kỷ lục quan
trắc (từ 1979 đến nay).
• 18 mức tối thiểu về phạm vi băng biển Bắc Cực thấp nhất trong kỷ lục vệ tinh đều xảy ra trong 18
năm qua.
• Mức tối thiểu và tối đa hàng năm về phạm vi băng biển Nam Cực lần lượt ở mức thấp thứ hai
trong kỷ lục quan trắc (từ 1979 đến nay).
TÌNH TRẠNG CHỈ SỐ
Phạm vi băng biển ở cả hai vùng Nam Cực và Bắc Cực trong năm 2024 đều thấp hơn mức trung
bình tương ứng của giai đoạn 1991–2020 trong suốt chu kỳ năm (Hình 7).
Phạm vi băng biển tối thiểu hàng ngày ở Bắc Cực năm 2024 là 4,28 triệu km² vào ngày 11 tháng 9,
mức thấp thứ bảy trong 46 năm có dữ liệu vệ tinh. Con số này thấp hơn 1,17 triệu km² so với mức
tối thiểu hàng ngày trung bình giai đoạn 1991–2020. 18 mức tối thiểu thấp nhất trong kỷ lục vệ tinh
đều xảy ra trong 18 năm qua.
Phạm vi băng biển tối thiểu hàng ngày ở Nam Cực năm 2024 là 1,99 triệu km² vào ngày 20 tháng 2,
mức thấp thứ hai trong kỷ nguyên vệ tinh và đánh dấu năm thứ ba liên tiếp phạm vi băng biển tối
thiểu ở Nam Cực giảm xuống dưới 2 triệu km². Đây là ba mức tối thiểu băng Nam Cực thấp nhất
trong kỷ lục vệ tinh.
Phạm vi băng Nam Cực duy trì dưới mức trung bình 1991–2020 trong suốt năm và đạt mức tối đa
hàng ngày hàng năm là 17,16 triệu km² vào khoảng ngày 19 tháng 9. Dữ liệu thiếu trong sáu ngày
gần mức tối đa đồng nghĩa với việc có một số độ không đảm bảo về phạm vi và ngày chính xác.
Mức tối đa quan sát được thấp hơn 1,55 triệu km² so với mức tối đa hàng ngày trung bình của Nam
Cực giai đoạn 1991–2020 và là mức tối đa thấp thứ hai từng được ghi nhận; chỉ năm 2023 là thấp
hơn. Năm kết thúc với phạm vi băng hơi thấp hơn mức trung bình 1991–2020.
Hình 7. Độ bất thường về phạm vi băng biển hàng tháng ở Bắc Cực (trái) và Nam Cực (phải) (chênh
lệch so với mức trung bình giai đoạn 1991–2020) tính bằng triệu km² từ năm 1979 đến năm 2024
BỐI CẢNH CHỈ SỐ
Băng biển là nước biển đóng băng nổi trên bề mặt đại dương. Lớp phủ băng biển mở rộng ở các
vùng cực của Trái đất vào mỗi mùa thu và mùa đông, khi nước biển đóng băng để phản ứng với sự
lạnh đi của khí quyển và đại dương. Sự ấm lên vào mùa hè làm tan chảy phần lớn lượng băng theo
mùa này, với mức tối thiểu băng biển hàng năm ở mỗi bán cầu thường được ghi nhận vào cuối mùa
hè hoặc đầu mùa thu (tháng 9 ở bán cầu bắc, tháng 2 ở bán cầu nam). Những thay đổi trong lớp phủ
băng biển có thể ảnh hưởng đến hoàn lưu đại dương, động lực học khí quyển và sự gia nhiệt bề mặt.
Phạm vi băng biển được định nghĩa là diện tích đại dương có ít nhất 15% lớp phủ băng. Đây là một
đại lượng động, thay đổi để phản ứng với cả sự phát triển nhiệt động (đóng băng) và suy giảm (tan
chảy) cũng như khi khối băng di chuyển theo gió và dòng hải lưu. Phạm vi băng biển và lớp phủ
băng biển được lập bản đồ bằng hình ảnh vệ tinh vi sóng.
Những thay đổi dài hạn về phạm vi băng biển Bắc Cực đã được quan sát thấy trong suốt chu kỳ theo
mùa. Xu hướng giảm của phạm vi băng biển tối thiểu ở Bắc Cực từ năm 1979 đến 2024 là khoảng
14% so với mức trung bình 1991–2020 mỗi thập kỷ, tương đương với mất 77.000 km² băng biển
mỗi năm.
Cho đến năm 2015, phạm vi băng biển tối đa ở Nam Cực có xu hướng dài hạn nhỏ nhưng tích cực.
Tuy nhiên, sau các phạm vi thấp gần đây, điều đó không còn đúng nữa. Mặc dù ba năm qua có lớp
phủ băng Nam Cực thấp bất thường, nhưng vẫn cần xem xét liệu có sự thay đổi chế độ trong băng
biển Nam Cực hay không.
Phạm vi băng biển (Sea-ice extent)
Dẫn đến:
Thay đổi suất phản chiếu bề mặt (Changing Surface Albedo)
o
Tăng cường hiệu ứng bức xạ (Enhanced Radiative Forcing)
Suy thoái hệ sinh thái và môi trường sống (Ecosystem and Habitat Degradation)
o
o
Nguồn thức ăn và bãi săn bắt suy giảm (Hunting Grounds and Food Stocks)
Mất kế sinh nhai (Reduced Livelihoods)
Mất an ninh lương thực (Food Insecurity)
Thay đổi và mất mát đa dạng sinh học (Biodiversity Changes and Losses)
o
Tuyệt chủng loài (Species Extinction)
Đánh bắt quá mức và săn bắt (Overfishing and Hunting)
Tiếp cận khai thác thương mại và tài nguyên (Access to Commercial and Resource
Exploitation)
o
Các tuyến giao thông mới (New Transportation Routes)
Ô nhiễm nguồn nước (Water Pollution)
Xung đột tài nguyên (Conflict over Resources)
Rủi ro liên quan đến việc giảm diện tích băng biển và các Mục tiêu Phát triển Bền vững
Tác nhân khí hậu - Dao động Nam El Niño (ENSO)
THÔNG ĐIỆP CHÍNH
• Hiện tượng El Niño mạnh 2023/2024 diễn ra sau ba năm liên tiếp của La Niña từ cuối năm 2020
đến đầu năm 2023.
• Điều kiện El Niño được thiết lập vào giữa năm 2023, trở nên mạnh vào cuối năm 2023 và tan dần
vào quý II năm 2024.
TÌNH TRẠNG DAO ĐỘNG NAM EL NIÑO (ENSO)
Sau một đợt La Niña kéo dài từ năm 2020 đến đầu năm 2023, một đợt El Niño đã được thiết lập rõ
rệt vào tháng 9 năm 2023. Sự kiện đạt đỉnh trong khoảng thời gian tháng 11 năm 2023 đến tháng 1
năm 2024 khi Chỉ số Niño Đại dương đạt 2,0°C, mức đỉnh cao nhất kể từ đợt El Niño 2015/2016 và
là mức đỉnh cao thứ năm kể từ năm 1950, thời điểm bắt đầu chuỗi thời gian.
Từ tháng 1 năm 2024, các dị thường nhiệt độ bề mặt biển ở phía đông Thái Bình Dương nhiệt đới
bắt đầu giảm, trở về điều kiện trung tính ENSO vào khoảng tháng 6. Điều kiện trung tính hoặc La
Niña yếu vẫn duy trì vào cuối năm 2024.
Nhiệt độ toàn cầu trong năm 2023 và 2024 cao hơn so với những năm trước đó, điều này thường
thấy khi điều kiện El Niño xảy ra. Mỗi tháng trong năm 2024 đều chứng kiến mức nhiệt kỷ lục hoặc
gần kỷ lục, và nhiệt độ trung bình hàng năm của năm là cao kỷ lục. Tuy nhiên, các yếu tố khác cũng
có khả năng đóng vai trò Một số hình thái mưa trong năm 2024, chẳng hạn như điều kiện khô hạn
trên khu vực phía bắc Nam Mỹ và Nam Phi, là đặc trưng của El Niño (xem Hình 8).
Hình 8. Tác động điển hình của lượng mưa theo mùa El Niño từ tháng 1 đến tháng 6 dựa trên nhiều
nguồn khác nhau.
Lưu ý rằng đây không phải là dự báo; nó dựa trên mối liên hệ lịch sử giữa El Niño và lượng mưa.
BỐI CẢNH TÁC NHÂN
Dao động Nam El Niño (ENSO) là một trong những tác nhân quan trọng nhất gây ra biến động theo
năm và theo mùa trong các hình thái thời tiết trên toàn thế giới. Nó có liên quan đến những thay đổi
trong sự xuất hiện và phân bố của các hiểm họa như mưa lớn, lũ lụt, hạn hán, sóng nhiệt và đợt lạnh.
Hiện tượng El Niño được đặc trưng bởi nhiệt độ bề mặt biển cao hơn mức trung bình ở phía đông
Thái Bình Dương nhiệt đới và sự suy yếu của gió mậu dịch trong khu vực. Gió mậu dịch suy yếu
làm giảm sự dâng lên của các vùng nước mát hơn dọc theo bờ biển Nam Mỹ, từ đó dẫn đến nhiệt độ
bề mặt biển cao hơn.
Hiện tượng La Niña, được đặc trưng bởi nhiệt độ bề mặt biển thấp hơn mức trung bình ở trung tâm
và phía đông Thái Bình Dương nhiệt đới và sự tăng cường của gió mậu dịch, có các tác động
thường ngược lại với những tác động của El Niño.
El Niño thường có ảnh hưởng làm ấm lên tạm thời đối với nhiệt độ trung bình toàn cầu, và La Niña
thường có ảnh hưởng làm mát tạm thời. Các tác động làm ấm lên hoặc làm mát lớn nhất thường xảy
ra hai đến ba tháng sau khi sự kiện đạt đỉnh vì cần có thời gian để lượng nhiệt hoặc làm mát dư thừa
trong đại dương lan tỏa ra và thấm vào khí quyển.
El Niño và La Niña có ảnh hưởng đến các hình thái mưa khu vực trên khắp thế giới, có thể thay đổi
tùy thuộc vào cường độ và thời điểm của sự kiện cũng như các yếu tố khí tượng đồng thời khác.
Hình 8 cho thấy một số dị thường lượng mưa điển hình thường xảy ra trong điều kiện El Niño. Tuy
nhiên, mỗi đợt El Niño là khác nhau và các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến lượng mưa.
Sự thay đổi trong các hình thái mưa cũng có thể ảnh hưởng đến mực nước biển, với mực nước biển
trung bình toàn cầu cao hơn trong các sự kiện El Niño và thấp hơn trong các sự kiện La Niña.
Sự chuyển đổi từ El Niño sang điều kiện trung tính trong năm 2024 cũng có khả năng liên quan đến
sự sụt giảm tạm thời của mực nước biển trung bình toàn cầu.
Các hình thái toàn cầu về nhiệt độ và lượng mưa
NHIỆT ĐỘ
Hầu hết các khu vực đất liền đều ấm hơn mức trung bình dài hạn (1991–2020) vào năm 2024, với
các khu vực có nhiệt độ dưới mức trung bình hạn chế xung quanh Iceland, một số phần của Nam
Cực và mũi cực nam của Nam Mỹ (Hình 9). Nhiệt độ trung bình hàng năm cao kỷ lục hoặc gần kỷ
lục được quan sát thấy trên các diện tích rộng lớn ở vùng nhiệt đới từ Nam và Trung Mỹ phía đông
đến tây Thái Bình Dương. Các khu vực đất liền khác ngoài vùng nhiệt đới cũng trải qua nhiệt độ
hàng năm cao bất thường, bao gồm đông Bắc Mỹ, Bắc Phi và châu Âu, cùng nam và đông Á.
Nhiệt độ bề mặt biển đạt mức cao kỷ lục ở Đại Tây Dương nhiệt đới và phía bắc, Ấn Độ Dương
nhiệt đới, một số phần của tây Thái Bình Dương và một số phần của Nam Đại Dương. Bất chấp
điều kiện El Niño vào đầu năm, các vùng nước lạnh hơn mức trung bình được quan sát thấy dọc
theo bờ biển phía tây của Nam Mỹ, với nhiệt độ trên mức trung bình rõ rệt hơn ở phía tây dọc theo
xích đạo.
Hình 9. Dị thường nhiệt độ trung bình hàng năm so với trung bình giai đoạn 1991–2020. Các giá trị
hiển thị là giá trị trung vị của sáu bộ dữ liệu nhiệt độ toàn cầu.
LƯỢNG MƯA
Năm 2024, các điều kiện khô hạn hơn mức trung bình (1991–2020) được quan sát thấy (Hình 10)
trên phần lớn khu vực Nam Phi, một số địa điểm ở vùng ven biển Tây Phi cũng như dọc theo bờ
biển Bắc Phi. Các phần lớn của Nam Mỹ, từ vùng đất thấp Amazon và phía bắc dãy Andes đến các
vùng đất ngập nước Pantanal, cũng khô hơn bình thường. Tây bắc Mexico, một số đảo ở vùng
Caribe và các phần phía bắc Bắc Mỹ có tổng lượng mưa thấp bất thường. Các khu vực dọc theo bờ
biển phía nam Australia, các phần phía bắc của New Zealand, New Caledonia và các đảo miền trung
và đông Polynesia có lượng mưa thấp hơn bình thường. Ngoài ra, Nam và Đông Nam Âu cũng khô
hơn thông thường.
Một số phần của khu vực Sahel và các phần của Trung và Nam Đông Phi có lượng mưa cao hơn
bình thường. Trung và Tây Âu cũng có lượng mưa cao hơn mức trung bình dài hạn. Các đảo phía
tây Polynesia, phía bắc Melanesia cũng như phía nam New Zealand và các phần phía đông và bắc
Australia có lượng mưa cao hơn mức trung bình. Quần đảo Canada và một số địa điểm xung quanh
Vịnh Mexico có lượng mưa cao hơn thông thường. Tổng lượng mưa cao hơn bình thường được
quan sát thấy ở phần lớn khu vực Đông Bắc, Đông và Trung Á và ở mức độ nhỏ hơn ở Đông Nam,
Nam và Tây Nam Á.
Hình 10. Lượng mưa hàng năm năm 2024 được biểu thị dưới dạng phần trăm của phân bố 1991–
2020. Các khu vực màu nâu là khô bất thường. Các khu vực màu xanh lá cây là ẩm ướt bất thường.
CÁC SỰ KIỆN TÁC ĐỘNG LỚN
Các hiện tượng thời tiết cực đoan năm 2024 đã dẫn đến số lượng người phải di dời mới cao nhất
được ghi nhận trong một năm kể từ năm 2008. Tình trạng di dời mới, tiếp tục và kéo dài đã ảnh
hưởng đến số lượng lớn người dân trong các bối cảnh mong manh và xung đột. Cùng với sự phá
hủy nhà cửa, cơ sở hạ tầng quan trọng, rừng, đất nông nghiệp và đa dạng sinh học, các hiện tượng
thời tiết cực đoan như vậy làm suy yếu khả năng phục hồi và gây ra rủi ro đáng kể cho những người
đang di chuyển và những người đã sống trong cảnh di dời. Các tác động tổng hợp của các cú sốc
khác nhau, như xung đột gia tăng, hạn hán và giá lương thực trong nước cao, đã đẩy các cuộc khủng
hoảng lương thực trầm trọng hơn tại 18 quốc gia trên toàn cầu vào giữa năm 2024. Tám quốc gia có
ít nhất 1 triệu người đối mặt với tình trạng mất an ninh lương thực nghiêm trọng trong năm 2024 so
với mức tối đa hàng năm năm 2023. Sản lượng ngũ cốc toàn cầu giảm là kết quả của hạn hán trên
diện rộng, có liên quan ở một số khu vực như Nam Phi đến điều kiện El Niño.
Bão nhiệt đới chịu trách nhiệm cho nhiều sự kiện có tác động cao nhất năm 2024. Bão Yagi vào đầu
tháng 9 đã đổ bộ vào miền bắc Việt Nam sau khi đầu tiên đi qua Philippines và các khu vực cực
nam của Trung Quốc. Thương vong và tình trạng di dời được báo cáo tại Việt Nam, Philippines,
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Thái Lan và Myanmar. Thiệt hại đáng kể do gió xảy ra ở Trung
Quốc và Philippines.
Tại Hoa Kỳ, các cơn bão Helene vào cuối tháng 9 và Milton vào tháng 10 đều đổ bộ vào bờ biển
phía tây Florida như những cơn bão lớn. Cả hai đều có tác động lớn khi đổ bộ, và Helene tiếp tục
gây ra lượng mưa đặc biệt lớn và lũ lụt nghiêm trọng ở vùng nội địa đông nam Hoa Kỳ, đặc biệt là
phía tây Bắc Carolina. Cả hai cơn bão đều có tác động kinh tế hàng chục tỷ USD. Hơn 200 trường
hợp tử vong liên quan đến bão Helene, nhiều nhất liên quan đến một cơn bão ở đất liền Hoa Kỳ kể
từ cơn bão Katrina năm 2005.
Ở bán cầu nam vào tháng 12, Bão nhiệt đới Chido đi qua vùng lãnh thổ Mayotte thuộc Pháp ở Ấn
Độ Dương trước khi đổ bộ vào Mozambique và di chuyển tiếp đến Malawi, gây thiệt hại lớn và tổn
thất đáng kể về sinh mạng ở cả ba nơi. Tại Mozambique, Bão Chido khiến khoảng 100.000 người
phải di dời, phá hủy nhà cửa và làm hư hại nghiêm trọng đường xá và mạng lưới thông tin, cản trở
các nỗ lực cứu trợ ở những khu vực vốn đã tiếp nhận số lượng lớn người di dời. Tương tự, các cộng
đồng dễ bị tổn thương ở Mayotte phải đối mặt với rủi ro gia tăng do sự tàn phá mà Bão Chido gây
ra.
Afghanistan và các khu vực lân cận của Pakistan và Cộng hòa Hồi giáo Iran phải hứng chịu một loạt
thảm họa vào cuối mùa đông và mùa xuân, với thời tiết lạnh bất thường và tuyết rơi ở vùng cao vào
cuối tháng 2 và đầu tháng 3 năm 2024, sau đó là một số sự kiện lũ lụt trong những tháng tiếp theo,
tồi tệ nhất ảnh hưởng đến Afghanistan từ ngày 10 đến 17 tháng 5. Khoảng 35.000 ha đất canh tác đã
bị ngập lụt vào ngày 30 tháng 5. Một vài trăm trường hợp tử vong được báo cáo trong lũ lụt, và đợt
lạnh cũng dẫn đến tổn thất đáng kể về sinh mạng.
Từ giữa năm trở đi, một mùa mưa hoạt động bất thường đã gây ra lũ lụt lớn ở nhiều vùng của Sahel
ở châu Phi. Hầu như mọi quốc gia trong khu vực đều báo cáo các tác động đáng kể, với lũ lụt ảnh
hưởng đến diện tích lớn đất canh tác và dẫn đến số lượng đáng kể các trường hợp tử vong. Từ tháng
3 đến tháng 5, lũ lụt chủ yếu ảnh hưởng đến Đông Phi xích đạo, với tổn thất lớn về sinh mạng ở các
nước như Kenya và Tanzania cũng như tình trạng di dời, phá hủy đất canh tác và mất gia súc. Hồ
Victoria đạt mực nước cao kỷ lục, dẫn đến lũ lụt hạ lưu ảnh hưởng nghiêm trọng đến Nam Sudan
vào cuối năm.
Ngược lại, điều kiện khô hạn trong khoảng thời gian thường là mùa mưa vào cuối năm 2023 và đầu
năm 2024 đã dẫn đến hạn hán nghiêm trọng ở tây bắc châu Phi và nhiều vùng nội địa Nam Phi, đặc
biệt là Zimbabwe, Zambia, Botswana và Namibia. Hạn hán nghiêm trọng dẫn đến những tác động
đáng kể đến nông nghiệp và sản xuất thủy điện.
Chile phải hứng chịu các đám cháy rừng tàn phá vào đầu năm. Một vụ cháy xung quanh thành phố
Viña del Mar vào ngày 2–3 tháng 2 đã dẫn đến hơn 300 trường hợp tử vong và thiệt hại cho hàng
ngàn tài sản, nằm trong số những tổn thất tồi tệ nhất trong một vụ cháy rừng ở bất kỳ nơi nào trên
thế giới trong thế kỷ này. Đây cũng là một mùa cháy rừng rất hoạt động ở Canada, nơi phát thải
carbon từ cháy rừng ở mức cao thứ hai từng được ghi nhận (2003–nay), và diện tích bị cháy là một
trong năm mức cao nhất từng được ghi nhận (1983–nay). Phía tây Hoa Kỳ cũng có một mùa cháy
rừng hoạt động. Tổng cộng, hơn 300.000 trường hợp di dời được báo cáo trên cả hai quốc gia.
Hạn hán ảnh hưởng đến nhiều vùng của châu Mỹ; hạn hán nghiêm trọng ở Mexico và một số phần
của Trung Mỹ năm 2023 kéo dài đến những tháng đầu năm 2024, trong khi cũng có hạn hán đáng kể
ở phần lớn nội địa Nam Mỹ. Sông Rio Negro tại Manaus và sông Paraguay tại Asunción đều đạt
mức thấp kỷ lục, và số vụ cháy rừng ở rừng Amazon của Brazil là lớn nhất kể từ năm 2010.
Một ngoại lệ so với điều kiện khô hạn chung ở Nam Mỹ là lũ lụt vào đầu tháng 5 tại bang Rio
Grande do Sul ở miền nam Brazil. Mưa lớn kéo dài đã dẫn đến lũ lụt làm ngập lụt phần lớn thành
phố Porto Alegre và nhiều khu vực xung quanh với những ảnh hưởng đáng kể đến nông nghiệp và
ngư nghiệp cũng như hơn 200 trường hợp tử vong.
Mưa cực lớn đã dẫn đến lũ quét nghiêm trọng ở vùng Valencia của Tây Ban Nha vào ngày 29 tháng
10, liên quan đến một vùng lạnh tầng cao trên miền nam Tây Ban Nha. Turis ở phía tây Valencia
báo cáo 185 mm mưa trong một giờ, một kỷ lục quốc gia của Tây Ban Nha. Trong sáu giờ, lượng
mưa đạt 621 mm, và 772 mm được ghi nhận trong 24 giờ. Lượng mưa này dẫn đến lũ lụt đặc biệt
nghiêm trọng ở hạ lưu, đặc biệt ảnh hưởng đến phần phía nam của khu vực đô thị Valencia. Hơn 200
trường hợp tử vong và thiệt hại nghiêm trọng được báo cáo ở Cộng đồng Valencia và các khu vực
xung quanh.
Có nhiều đợt nắng nóng đáng kể trong năm 2024, với nhiều đợt có thời gian kéo dài và các kỷ lục bị
phá vỡ tại nhiều trạm trên diện rộng. Theo báo cáo Tình trạng Dịch vụ Khí hậu năm 2023 của
WMO, các tác động của nắng nóng cực đoan và các đợt nắng nóng bị đánh giá thấp, và tỷ lệ tử vong
liên quan đến nắng nóng có thể cao hơn nhiều lần so với các ước tính hiện tại.
Trong mùa hè bán cầu bắc, các khu vực đặc biệt bị ảnh hưởng bởi các đợt nắng nóng bao gồm Đông
Á, Đông Nam Âu, Địa Trung Hải và Trung Đông, và tây nam Hoa Kỳ. Điều này diễn ra sau đợt
nắng nóng kỷ lục ở nhiều vùng nhiệt đới bán cầu bắc trong thời kỳ tiền gió mùa từ cuối tháng 3 đến
tháng 5, bao gồm Đông Nam Á, Tây Phi và Sahel, và Trung Mỹ, cũng như miền bắc Ấn Độ.
Trong số các sự kiện đáng chú ý nhất là đợt nắng nóng tháng 6 ở Ả Rập Xê-út, khi nhiệt độ gần
Mecca đạt 50°C trong suốt cuộc hành hương Hajj. Nhiều thương vong được báo cáo trong cuộc
hành hương, phần lớn trong số đó một phần hoặc hoàn toàn là do nắng nóng cực đoan.
Biến đổi khí hậu tương lai, rủi ro và các phản ứng dài hạn
Các Giải pháp Giảm thiểu và Thích ứng trên các Hệ thống
Dưới đây là nội dung đã được tinh gọn, giữ đúng cấu trúc bạn gửi (phân chia theo các mục C.3,
C.3.1, C.3.2, C.3.3) và viết dưới dạng đoạn văn liên tục cho mỗi mục. Tôi đã loại bỏ các từ phụ,
thông tin lặp lại, ví dụ không cần thiết, và chi tiết kỹ thuật (như {4.1, 4.5}, Hình SPM.7, độ tin cậy)
để nội dung ngắn gọn, rõ ràng, tập trung vào các giải pháp cốt lõi cho giảm thiểu và thích ứng với
biến đổi khí hậu.
C.3 Chuyển đổi hệ thống để giảm phát thải và thích ứng khí hậu Cần chuyển đổi nhanh chóng,
sâu rộng trong mọi lĩnh vực để cắt giảm phát thải bền vững và đảm bảo tương lai đáng sống. Các
giải pháp giảm thiểu, thích ứng khả thi, hiệu quả, chi phí thấp đã có sẵn, với sự khác biệt giữa các
hệ thống và khu vực.
C.3.1 Giải pháp chuyển đổi hệ thống Chuyển đổi hệ thống quy mô lớn giúp cắt giảm phát thải và
thích ứng khí hậu bao gồm triển khai công nghệ phát thải thấp, thay đổi nhu cầu qua thiết kế cơ sở
hạ tầng, thay đổi văn hóa, hành vi, tăng hiệu quả năng lượng, bảo vệ xã hội, và phục hồi hệ sinh
thái. Các giải pháp khả thi, hiệu quả đã có sẵn, nhưng khác nhau giữa các hệ thống và khu vực.
C.3.2 Hệ thống Năng lượng Hệ thống năng lượng đạt phát thải CO2 ròng zero bằng cách giảm
mạnh sử dụng nhiên liệu hóa thạch, áp dụng thu giữ và lưu trữ carbon, phát triển hệ thống điện
không phát thải, điện khí hóa rộng rãi, sử dụng năng lượng mặt trời, gió, và nguồn thay thế, đồng
thời tăng hiệu quả, bảo tồn năng lượng. Các giải pháp thích ứng như đa dạng hóa sản xuất năng
lượng, quản lý nhu cầu, công nghệ lưới điện thông minh, và hệ thống truyền tải mạnh mẽ giúp tăng
độ tin cậy, giảm rủi ro khí hậu.
C.3.3 Công nghiệp và Giao thông Trong công nghiệp, giảm phát thải khí nhà kính cần phối hợp
toàn chuỗi giá trị, quản lý nhu cầu, tăng hiệu quả năng lượng, vật liệu, áp dụng tuần hoàn vật liệu và
công nghệ giảm thiểu. Trong giao thông, nhiên liệu sinh học bền vững, hydro phát thải thấp, và xe
điện sử dụng điện sạch giúp giảm phát thải từ vận tải biển, hàng không, đường bộ. Cải tiến công
nghệ pin, đa dạng hóa vật liệu, và tuần hoàn vật liệu giảm tác động môi trường từ sản xuất pin.
C.3.4 Thành phố, Khu định cư và Cơ sở hạ tầng Các hệ thống đô thị cần quy hoạch gọn, đồng
định vị việc làm và nhà ở, ưu tiên giao thông công cộng, đi bộ, đạp xe, thiết kế tòa nhà hiệu quả
năng lượng, sử dụng vật liệu thay thế, và điện khí hóa với nguồn phát thải thấp. Phát triển cơ sở hạ
tầng xanh như cây xanh, hệ thống nước giúp giảm rủi ro từ sóng nhiệt, lũ lụt, hạn hán, hỗ trợ hấp
thụ carbon, cải thiện sức khỏe, sinh kế cho cộng đồng thu nhập thấp qua quy hoạch dài hạn tích hợp.
C.3.5 Đất, Đại dương, Lương thực và Nước Bảo tồn, phục hồi rừng, đất than bùn, vùng đất ngập
nước, giảm phá rừng nhiệt đới, tái trồng rừng, và nông nghiệp bền vững như cải tiến giống cây
trồng, nông lâm kết hợp, nông nghiệp đô thị giúp giảm phát thải metan, oxit nitơ, hỗ trợ an ninh
lương thực. Sử dụng sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp bền vững thay vật liệu phát thải cao và
giảm lãng phí thực phẩm tăng hiệu quả giảm thiểu và thích ứng.
C.3.6 Bảo tồn Đa dạng Sinh học và Hệ sinh thái Bảo tồn 30–50% diện tích đất, nước ngọt, đại
dương, phục hồi hệ sinh thái đất liền, ven biển, đại dương, tái xây dựng nguồn thủy sản bị khai thác
quá mức giúp duy trì đa dạng sinh học, giảm xói mòn, lũ lụt, tăng hấp thụ carbon. Hợp tác với dân
tộc bản địa, cộng đồng địa phương đảm bảo hiệu quả trong bảo tồn và thích ứng, hỗ trợ sinh kế và
an ninh lương thực.
C.3.7 Sức khỏe và Dinh dưỡng Tích hợp sức khỏe vào chính sách thực phẩm, cơ sở hạ tầng, bảo
vệ xã hội, quản lý nước, tăng cường y tế công cộng, hệ thống cảnh báo sớm, vắc-xin, chăm sóc sức
khỏe tâm thần, khuyến khích chế độ ăn uống bền vững, giảm lãng phí thực phẩm giúp bảo vệ trước
bệnh nhạy cảm với khí hậu, cải thiện dinh dưỡng và môi trường.
C.3.8 Xã hội, Sinh kế và Kinh tế Các chính sách bảo hiểm thời tiết, sức khỏe, bảo vệ xã hội, quỹ
dự phòng, và hệ thống cảnh báo sớm kết hợp kế hoạch dự phòng giúp giảm tính dễ bị tổn thương
của con người. Quản lý rủi ro thiên tai, dịch vụ khí hậu, và giáo dục nâng cao nhận thức khí hậu
thúc đẩy thay đổi hành vi, lập kế hoạch, và tăng khả năng phục hồi trước biến đổi khí hậu.
C.4 Lợi ích Đồng thời và Đánh đổi với Phát triển Bền vững Hành động nhanh chóng, công bằng
trong giảm thiểu và thích ứng khí hậu hỗ trợ phát triển bền vững, mang lại nhiều lợi ích đồng thời
hơn là đánh đổi với các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs). Lợi ích và đánh đổi phụ thuộc vào
bối cảnh và quy mô triển khai.
C.4.1 Tích hợp Giảm thiểu vào Phát triển Tích hợp giảm thiểu vào phát triển giúp tăng tốc cắt
giảm phát thải. Các quốc gia phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch cần đa dạng hóa kinh tế, năng lượng và
áp dụng chuyển đổi công bằng. Xóa nghèo, cải thiện tiêu chuẩn sống ở các khu vực phát thải thấp
có thể đạt được mà không tăng đáng kể phát thải toàn cầu.
C.4.2 Lợi ích và Đánh đổi với SDGs Hành động giảm thiểu, thích ứng mang lại lợi ích đồng thời
với SDGs, nhưng có thể có đánh đổi tùy thuộc vào tốc độ, quy mô, và bối cảnh phát triển. Giảm
đánh đổi bằng cách xây dựng năng lực, tài chính, quản trị, chuyển giao công nghệ, và đảm bảo công
bằng xã hội, giới tính với sự tham gia của dân tộc bản địa, cộng đồng địa phương, và nhóm dễ bị tổn
thương.
C.4.3 Hỗ trợ Sức khỏe và Phúc lợi Triển khai đồng thời giảm thiểu, thích ứng hỗ trợ sức khỏe,
phúc lợi con người. Cải thiện tiếp cận năng lượng sạch, công nghệ, điện khí hóa với nguồn phát thải
thấp, và thúc đẩy giao thông công cộng, di chuyển tích cực giúp cải thiện chất lượng không khí, việc
làm, an ninh năng lượng, và công bằng.
C.5 Công bằng và Bao trùm Ưu tiên công bằng, công lý khí hậu, công lý xã hội, và chuyển đổi
công bằng hỗ trợ giảm thiểu, thích ứng, và phát triển bền vững. Tăng cường hỗ trợ khu vực, người
dân dễ bị tổn thương và tích hợp thích ứng vào bảo vệ xã hội cải thiện khả năng phục hồi. Giảm tiêu
thụ phát thải cao qua thay đổi hành vi, lối sống mang lại lợi ích cho phúc lợi xã hội.
C.5.1 Công bằng trong Chuyển đổi Khí hậu Công bằng là yếu tố trung tâm trong chế độ khí hậu,
dù các quốc gia có sự khác biệt. Các lộ trình giảm thiểu tham vọng gây thay đổi kinh tế, ảnh hưởng
phân phối thu nhập, việc làm trong và giữa các quốc gia khi chuyển từ hoạt động phát thải cao sang
phát thải thấp.
C.5.2 Hành động Công bằng và Bao trùm Hành động giảm thiểu, thích ứng ưu tiên công bằng,
công lý xã hội, và tính bao trùm giúp đạt kết quả bền vững, giảm đánh đổi. Chính sách tái phân
phối, mạng lưới an toàn xã hội, và chuyển đổi công bằng hỗ trợ tham vọng xã hội, giải quyết đánh
đổi với SDGs. Sự tham gia của các bên liên quan xây dựng lòng tin, củng cố ủng hộ cho chuyển đổi.
C.5.3 Hỗ trợ Người Dễ Bị Tổn Thương Người dân (3,3–3,6 tỷ) với hạn chế phát triển có mức độ
dễ bị tổn thương cao trước mối nguy khí hậu. Tích hợp thích ứng vào bảo vệ xã hội, như chuyển
tiền mặt, công trình công cộng, và ưu tiên tài chính cho cộng đồng thu nhập thấp, khu định cư
không chính thức giúp tăng khả năng phục hồi trước biến đổi khí hậu.
C.5.4 Công bằng trong Tiêu dùng và Phát triển Công cụ quản lý, kinh tế và cách tiếp cận dựa
trên tiêu dùng thúc đẩy công bằng. Cá nhân có địa vị kinh tế - xã hội cao góp phần lớn vào phát thải,
nhưng có thể giảm mạnh thông qua thay đổi hành vi, lối sống được hỗ trợ bởi chính sách, cơ sở hạ
tầng, công nghệ. Cung cấp năng lượng hiện đại cho dân số ở các quốc gia phát thải thấp, cùng với
chuyển giao công nghệ, tài chính, giúp chuyển đổi sang giao thông phát thải thấp, mang lại lợi ích
cho phúc lợi xã hội và phát triển bền vững khí hậu.
C.6 Quản trị và Chính sách Hỗ trợ Hành động Khí hậu Hành động khí hậu hiệu quả cần cam kết
chính trị, quản trị đa cấp, khung thể chế, luật pháp, chính sách, chiến lược, và tăng cường tiếp cận
tài chính, công nghệ. Mục tiêu rõ ràng, phối hợp đa lĩnh vực, và quản trị bao trùm thúc đẩy giảm
thiểu, thích ứng, và phát triển bền vững khí hậu thông qua khai thác tri thức đa dạng.
C.6.1 Quản trị Khí hậu Hiệu quả Quản trị khí hậu hiệu quả định hướng mục tiêu, lồng ghép hành
động khí hậu vào các lĩnh vực chính sách, cấp độ khác nhau, và hợp tác quốc tế. Quản trị này tăng
cường giám sát, đánh giá, đảm bảo minh bạch, công bằng, và cải thiện tiếp cận tài chính, công nghệ
để hỗ trợ giảm thiểu và thích ứng.
C.6.2 Thể chế và Sự Đồng thuận Thể chế hiệu quả ở địa phương, thành phố, quốc gia xây dựng
đồng thuận cho hành động khí hậu, hỗ trợ phối hợp, định hướng chiến lược, nhưng cần năng lực đầy
đủ. Sự tham gia của xã hội dân sự, doanh nghiệp, thanh niên, phụ nữ, dân tộc bản địa, cộng đồng địa
phương, cùng cam kết chính trị và quan hệ đối tác, nâng cao hiệu quả hành động khí hậu.
C.6.3 Quản trị Đa cấp và Công bằng Quản trị đa cấp hỗ trợ giảm thiểu, thích ứng, và phát triển
bền vững thông qua ra quyết định bao trùm, ưu tiên công bằng, phân bổ nguồn lực phù hợp, và giải
quyết bất bình đẳng về giới tính, dân tộc, thu nhập. Luật, chính sách, và can thiệp được thiết kế cẩn
thận giúp giảm rủi ro và tính dễ bị tổn thương khí hậu.
C.6.4 Công cụ Quản lý và Kinh tế Công cụ quản lý, kinh tế như định giá carbon, loại bỏ trợ cấp
nhiên liệu hóa thạch hỗ trợ cắt giảm phát thải nếu được mở rộng. Doanh thu từ định giá carbon hoặc
tiết kiệm từ loại bỏ trợ cấp có thể tái phân phối để hỗ trợ hộ gia đình thu nhập thấp, giảm tác động
phân phối bất lợi. Gói chính sách toàn diện, cân bằng, phù hợp với hoàn cảnh quốc gia thúc đẩy
giảm phát thải và phát triển bền vững.
C.6.5 Tri thức Đa dạng và Tham gia Bao trùm Khai thác tri thức bản địa, địa phương, khoa học
và các quá trình tham gia bao trùm thúc đẩy phát triển bền vững khí hậu, xây dựng năng lực, và tạo
ra giải pháp phù hợp với địa phương, được xã hội chấp nhận.
C.7 Tài chính, Công nghệ và Hợp tác Quốc tế Tài chính, công nghệ, và hợp tác quốc tế là yếu tố
quan trọng để thúc đẩy hành động khí hậu. Tăng tài chính gấp nhiều lần cho giảm thiểu và thích
ứng, cải thiện hệ thống đổi mới công nghệ, và mở rộng hợp tác quốc tế giúp thu hẹp khoảng cách
đầu tư và hỗ trợ phát triển bền vững khí hậu.
C.7.1 Tăng Cường Tài chính cho Hành động Khí hậu Cải thiện tiếp cận tài chính thúc đẩy giảm
thiểu và thích ứng nhanh hơn. Mở rộng tài chính công, tư, trong nước và quốc tế, cùng với các hành
động hỗ trợ, giúp đẩy nhanh hành động khí hậu, giải quyết rủi ro gia tăng, và hỗ trợ phát triển bền
vững.
C.7.2 Tài chính cho Thích ứng và Giảm thiểu Tăng tài chính giúp xây dựng năng lực, giảm rủi ro
khí hậu, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển và nhóm dễ bị tổn thương. Tài chính công hỗ trợ
thích ứng, giảm thiểu, và huy động vốn tư nhân. Đầu tư giảm thiểu cần tăng gấp ba đến sáu lần từ
2020 đến 2030 để đạt mục tiêu giới hạn nóng lên ở 2°C hoặc 1,5°C.
C.7.3 Thu Hẹp Khoảng Cách Đầu Tư Vốn toàn cầu đủ để thu hẹp khoảng cách đầu tư, nhưng cần
giảm rào cản tài chính qua tín hiệu rõ ràng từ chính phủ, điều chỉnh tài chính công, cải thiện hồ sơ
rủi ro-lợi nhuận, và định giá đúng rủi ro khí hậu. Các tác nhân tài chính cần điều chỉnh vốn phù hợp
với nhu cầu đầu tư theo ngành và khu vực.
C.7.4 Dòng Tài chính và Hỗ trợ Quốc gia Đang Phát Triển Dòng tài chính hiện tại chưa đủ cho
thích ứng và giảm thiểu. Hỗ trợ tài chính nhanh từ các quốc gia phát triển, mở rộng tài trợ công, bảo
lãnh công, và phát triển thị trường vốn địa phương giúp giảm bất bình đẳng tài chính, tăng khả năng
phục hồi ở các quốc gia đang phát triển, đặc biệt châu Phi cận Sahara.
C.7.5 Đổi mới Công nghệ Nâng cao đổi mới công nghệ giúp giảm phát thải, mang lại lợi ích xã
hội, môi trường, và hỗ trợ Mục tiêu Phát triển Bền vững. Chính sách công, đào tạo, nghiên cứu, và
công cụ quản lý thúc đẩy công nghệ phát thải thấp. Quản trị phù hợp giảm đánh đổi như bất bình
đẳng xã hội, tác động môi trường. Các quốc gia đang phát triển cần tăng tài chính, chuyển giao công
nghệ, và năng lực để đẩy nhanh đổi mới.
C.7.6 Hợp tác Quốc tế Hợp tác quốc tế hỗ trợ mục tiêu giảm thiểu, thích ứng, và phát triển bền
vững thông qua tăng tài chính, công nghệ, và năng lực, đặc biệt cho các quốc gia đang phát triển.
Quan hệ đối tác xuyên quốc gia và thỏa thuận quốc tế thúc đẩy chính sách, công nghệ, và đầu tư
phát thải thấp, đẩy nhanh hành động khí hậu.
3.1 Các Hiện tượng Cực đoan Nhiệt độ không tối ưu, hạn hán, và cháy rừng do biến đổi khí hậu
làm tăng nguy cơ tử vong, bệnh tật, suy thoái môi trường, kích hoạt xung đột và di cư dân số do
thiếu hụt tài nguyên thiết yếu.
3.1.1 Nhiệt độ Không Tối ưu Cả nhiệt độ thấp và cao đều làm tăng nguy cơ tử vong, thể hiện theo
hình chữ J, U hoặc V. Ước tính có 5.083.173 ca tử vong mỗi năm do nhiệt độ không tối ưu, chiếm
9,43% tổng số ca tử vong trên toàn thế giới từ năm 2000 đến 2019, dự kiến tiếp tục tăng đến năm
2050. Nhiệt độ cực cao gây tăng ca cấp cứu và nhập viện do bệnh tim mạch, hô hấp, chuyển hóa, và
kích hoạt rối loạn tâm thần như trầm cảm, lo âu, tự tử. Nhiệt độ lạnh cực đoan làm trầm trọng bệnh
hô hấp, hạ thân nhiệt, và tai nạn giao thông. Mức độ nhạy cảm cao hơn vào đầu mùa nóng hoặc lạnh
khi cơ thể chưa thích nghi. Những người ở vùng lạnh dễ bị tổn thương hơn bởi nắng nóng do thiếu
thích ứng lâu dài và nhận thức thấp.
3.1.2 Hạn hán Đã có 770 ghi nhận hạn hán nghiêm trọng kể từ năm 1900, gây ra 38 triệu ca tử
vong. Hạn hán liên quan đến lượng mưa thấp, bốc hơi cao, nhiệt độ nóng, làm tăng nguy cơ bão bụi,
khan hiếm nước, cháy rừng, thiếu lương thực. Bão bụi mang hạt vật chất, chất ô nhiễm, gây bệnh hô
hấp và truyền nhiễm. Toàn cầu, 4 tỷ người trải qua khan hiếm nước ít nhất một tháng mỗi năm. Hạn
hán làm tăng tiêu chảy, gây 525.000 ca tử vong mỗi năm ở trẻ dưới 5 tuổi; mỗi 10 mm mưa giảm
tăng 4% tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy, mỗi 1°C tăng nhiệt độ tăng 3–11% tử vong do tiêu chảy. Đến năm
2050, tiêu chảy gây 320.000 ca tử vong, 12% do biến đổi khí hậu, với 95% ở Châu Phi cận Sahara
và Nam Á. Hạn hán kích hoạt xung đột và di cư do suy thoái môi trường.
3.1.3 Cháy rừng Nhiệt độ cao, lượng mưa thấp, và Dao động El Niño-Nam làm tăng nguy cơ cháy
rừng, kéo dài mùa cháy. Cháy rừng gây bỏng, chấn thương, ảnh hưởng tâm thần, và tử vong sớm;
ngạt khí, bụi gây 339.000 ca tử vong bổ sung mỗi năm. Khói cháy chứa hạt vật chất, nitơ oxit, và
chất độc như gốc tự do, benzene, gây bệnh tim mạch, hô hấp, và ung thư hệ tiêu hóa, tạo máu, sinh
sản. Cháy rừng làm tăng khí nhà kính và suy giảm đa dạng sinh học, làm trầm trọng biến đổi khí
hậu.
3.1.4 Lũ lụt và Bão Lũ lụt do mưa lớn, bão và nước biển dâng là thảm họa thiên nhiên phổ biến, tàn
phá. Từ năm 1900 đến 2015, hơn 4500 vụ lũ lụt gây ra gần 90 triệu người mất nhà cửa và 7 triệu ca
tử vong. Ngoài thương tích và chết đuối, lũ lụt làm tăng nguy cơ tử vong ngắn và dài hạn, trầm
trọng bệnh không lây nhiễm trong năm đầu. Ô nhiễm từ trầm tích sông, nước thải, hóa chất, và mầm
bệnh làm ô nhiễm nước uống, đất nông nghiệp, tăng bệnh truyền qua nước và vector như sốt rét, sốt
xuất huyết, sốt vàng da, sốt West Nile. Lũ lụt gây nhiễm trùng tai, mắt, mũi, da, đường hô hấp, tiêu
hóa, và rối loạn tâm thần như PTSD, trầm cảm, lo âu, với tỷ lệ mắc từ 8,6% đến 53% trong hai năm
sau lũ. Lũ lụt ảnh hưởng sức khỏe mẹ và con, gây sinh non, nhẹ cân, suy giảm chức năng xã hội ở
trẻ. Bão nhiệt đới gây 1,33 triệu ca tử vong, ảnh hưởng 629 triệu người từ thế kỷ 20, làm tăng nhập
viện do bệnh hô hấp, truyền nhiễm, ký sinh trùng, sinh non, và rối loạn tâm thần như căng thẳng cấp
tính, rối loạn giấc ngủ, PTSD.
3.2 Ô nhiễm Không khí Tầng Mặt Đất Tiếp xúc ngắn và dài hạn với ô nhiễm không khí gây tử
vong, bệnh tim mạch, suy giảm chức năng phổi ở trẻ em và người lớn, hen suyễn, bệnh phổi tắc
nghẽn mãn tính, ung thư phổi, và tăng nguy cơ bệnh nội tiết, chuyển hóa, thần kinh, sinh sản, ung
thư. Nhiệt độ cao thúc đẩy tổng hợp quang hóa ozone; không khí trì trệ ức chế phân tán chất ô
nhiễm, mưa làm lắng đọng chất ô nhiễm. Nhiệt độ tối ưu khuyến khích hoạt động ngoài trời, tăng
tiếp xúc ô nhiễm; mưa làm tăng thời gian trong nhà, khuếch đại ô nhiễm trong nhà. Tác động của
PM10, sulfur dioxide, nitrogen dioxide nghiêm trọng hơn vào ngày lạnh, nhưng có phát hiện trái
ngược. Ô nhiễm không khí ảnh hưởng khí hậu khu vực qua tán xạ, hấp thụ bức xạ, hình thành mây,
và góp phần vào nóng lên toàn cầu.
3.3 Sự Gia tăng Nhiệt độ Sự gia tăng nhiệt độ làm tăng dịch bệnh do vector truyền, chất gây dị
ứng, và các sự kiện khí hậu như El Niño, La Niña, ảnh hưởng sức khỏe và môi trường.
3.3.1 Các Bệnh do Vector Truyền Nhiệt độ ấm hơn làm tăng sinh sôi mầm bệnh, vector chân khớp,
kéo dài mùa dịch, mở rộng phân bố địa lý, thúc đẩy đẻ trứng, rút ngắn thời gian ủ trứng, và tăng
hành vi nguy cơ như mặc ít quần áo. Độ ẩm ảnh hưởng tuổi thọ vector; muỗi cái ở môi trường ẩm,
ấm cần đốt thường xuyên hơn. Đến năm 2050, biến đổi khí hậu gây thêm 33.000 ca tử vong do bệnh
vector truyền, 97% ở Đông Châu Phi cận Sahara và Nam Á; hơn 6,1 tỷ người (60% dân số thế giới)
có nguy cơ mắc sốt xuất huyết vào năm 2080.
3.3.2 Các Chất Gây Dị ứng Nhiệt độ và carbon dioxide tăng làm mùa phấn hoa ở Bắc Mỹ sớm hơn
20 ngày, kéo dài hơn 8 ngày, nồng độ phấn hoa tăng 21% từ 1990 đến 2018, gây viêm mũi dị ứng,
hen suyễn, sốt cỏ khô. Nhà ven biển bị nước biển dâng hoặc nhà ngập sau mưa lớn, bão, lũ lụt trở
nên ẩm ướt, tăng nấm mốc, gây dị ứng đường hô hấp, hen suyễn, viêm mũi.
3.3.3 El Niño, La Niña & Kiểu Dao động Đại dương Nhiệt độ biển bất thường và gió mùa do
nóng lên toàn cầu gây xáo trộn hải lưu, kích hoạt El Niño, La Niña, và Dao động Đại dương, dẫn
đến hạn hán, lũ lụt, cháy rừng, bão, di dời. ENSO liên quan đến bệnh tiêu chảy như bệnh tả, tăng
20% bệnh sốt rét ở Colombia khi nhiệt độ bề mặt biển tăng 1°C. La Niña làm tăng nguy cơ sốt rét,
shigellosis, và leptospirosis.
3.4 An ninh Lương thực Biến đổi khí hậu tác động tiêu cực đến sản xuất và an ninh lương thực,
làm giảm năng suất cây trồng, thủy sản, tăng nguy cơ đói nghèo, bệnh tật, và ô nhiễm môi trường,
đồng thời góp phần vào phát thải khí nhà kính.
3.4.1 Cây trồng Biến đổi khí hậu tác động tiêu cực đến an ninh lương thực qua các khía cạnh sẵn
có, khả năng tiếp cận, sử dụng và ổn định. Các thảm họa thời tiết cực đoan như hạn hán, mưa lớn,
bão gió, lũ lụt, mưa đá làm giảm năng suất cây trồng chính. Độ ẩm và nhiệt độ cao thúc đẩy sâu
bệnh, cỏ dại, đe dọa sản xuất lương thực, gây nạn đói; độ ẩm cao trong kho dẫn đến ô nhiễm thực
phẩm bởi aflatoxin và độc tố nấm mốc. Ước tính 720–811 triệu người đối mặt nạn đói vào năm
2020. Đến năm 2050, biến đổi khí hậu giảm 3,2% lượng thực phẩm bình quân đầu người, gây thêm
529.000 ca tử vong do yếu tố liên quan đến chế độ ăn uống và cân nặng, làm tăng nguy cơ thiếu hụt
dinh dưỡng, bệnh truyền nhiễm. Giảm năng suất cây trồng làm tăng sử dụng phân bón, thuốc trừ cỏ,
thuốc trừ sâu, gây ô nhiễm đất, nước, dẫn đến bệnh liên quan đến thực phẩm. Hệ thống lương thực
toàn cầu tạo ra 16 tỷ tấn CO2 tương đương mỗi năm từ 2012 đến 2017.
3.4.2 Thủy sản và Nuôi trồng Thủy sản Thủy sản cung cấp 17% protein động vật và 7% tổng
protein toàn cầu. Biến đổi khí hậu làm giảm sản lượng, năng suất, đa dạng sinh học thủy sản, thay
đổi thành phần loài và phân bố địa lý, ảnh hưởng kinh tế - xã hội ngành thủy sản, nuôi trồng thủy
sản. Năng suất thủy sản tăng ở vĩ độ trung bình và cao, nhưng giảm ở vùng nhiệt đới do nóng lên
toàn cầu. Nhiệt độ bề mặt biển cao làm tăng tảo độc hại (HABs), tiết độc tố gây liệt vỏ sò, nôn mửa,
hoặc tử vong. Nhiệt độ biển cao thúc đẩy mầm bệnh như Vibrio cholera, vulnificus,
parahaemolyticus, gây tiêu chảy, nhiễm trùng huyết, tử vong qua hải sản ô nhiễm. Biến đổi khí hậu
làm thay đổi hệ sinh thái hồ nước ngọt, với 6,3% không chồng lấn nhiệt độ giữa 1978–1995 và
1996–2013 ở 139 hồ. 4%, 9%, 36% loài cá nước ngọt đối mặt cực đoan khí hậu ở mức nóng lên
1,5°C, 2°C, 3,2°C.
4 Lợi ích Tiềm năng của Biến đổi Khí hậu đối với Sức khỏe Con người Mặc dù biến đổi khí hậu
gây nhiều tác động bất lợi, một số điều kiện khí hậu mang lại lợi ích. Mưa lớn, lũ lụt có thể giảm
bệnh vector truyền ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới bằng cách phá hủy môi trường sống vector.
Lượng mưa giảm ở vùng khô, vĩ độ thấp làm giảm mật độ côn trùng, giảm bệnh vector truyền. Nhiệt
độ tăng làm giảm tử vong, bệnh liên quan đến lạnh ở một số khu vực, tăng năng suất lao động ở
quốc gia nhiệt độ thấp. Tan chảy sông băng cung cấp thêm nước uống, tưới nông nghiệp. Nhiệt độ
ấm, CO2 cao thúc đẩy quang hợp, xanh hóa 25–50% diện tích đất có thảm thực vật trong 35 năm,
giảm nguy cơ bệnh liên quan đến lão hóa. Tuy nhiên, mưa axit làm giảm hấp thụ nitơ, khoáng chất
của cây trồng, gây mất cân bằng thực phẩm; mưa kéo dài làm chậm sản xuất. Thủy sản ở vĩ độ cao
có thể tăng năng suất do dịch chuyển địa lý tài nguyên.
5 Tác động của Các Yếu tố Kinh tế - Xã hội, Nhân khẩu học và Môi trường đối với Các Lộ
trình Các yếu tố phi khí hậu như tuổi tác, giới tính, mức độ kinh tế, địa vị xã hội, giáo dục, sử dụng
đất, vị trí, chính sách y tế công cộng, thái độ công chúng điều chỉnh lộ trình biến đổi khí hậu - sức
khỏe. Người cao tuổi, trẻ em dễ bị tổn thương trước nhiệt độ không tối ưu do khả năng điều hòa
nhiệt độ yếu; trẻ sơ sinh, trẻ em có khả năng kháng cự thấp với thảm họa, mầm bệnh, độc tố, suy
dinh dưỡng, và phơi nhiễm cao hơn trên mỗi đơn vị trọng lượng. Tình trạng kinh tế - xã hội thấp
làm người nghèo đối mặt rủi ro cao hơn, giảm tiếp cận thực phẩm, nước sạch, dịch vụ y tế, nơi trú
ẩn an toàn trước nhiệt độ cực đoan, lũ lụt, thảm họa tự nhiên. Phụ nữ dễ bị tổn thương hơn do trình
độ học vấn, vai trò xã hội, bất bình đẳng giới, đặc biệt ở quốc gia có khoảng cách giới lớn. Nông
dân, công nhân xây dựng có phơi nhiễm cao với nhiệt độ cực đoan. Thành phố, bờ biển, đồng bằng,
lưu vực đối mặt rủi ro từ sóng nhiệt, lũ lụt, bão, hạn hán, gây ô nhiễm không khí, bệnh truyền
nhiễm, mất an ninh lương thực, suy dinh dưỡng. Dân số toàn cầu tăng 29% từ 2011 đến 2050, làm
tăng nhu cầu thực phẩm, hoạt động nhân sinh, phát thải khí nhà kính, tác động sức khỏe con người.
6 Các Giải pháp Khả thi Biến đổi khí hậu đòi hỏi các chiến lược giảm thiểu phát thải khí nhà kính
và thích ứng để giảm tác động sức khỏe, môi trường, và kinh tế - xã hội.
6.1 Giảm thiểu Phát thải khí nhà kính đạt 52,4 gigatấn CO2 tương đương (59,1 GtCO2e, bao gồm
thay đổi sử dụng đất) vào năm 2019, với CO2 từ nhiên liệu hóa thạch đạt 38,0 GtCO2e (72,5%), chủ
yếu từ điện, công nghiệp, giao thông, tòa nhà. Nồng độ CO2, CH4, N2O tăng đáng kể, với CO2 cao
hơn 200 lần CH4 và 1200 lần N2O; lực bức xạ đạt 2,8 vào năm 2019, tăng 48,5% so với 1990, với
CO2 chiếm 74,3%, CH4 18,5%, N2O 7,2%. Giảm ô nhiễm không khí theo mục tiêu 2°C có thể
ngăn 0,79 triệu ca tử vong sớm vào năm 2050, với lợi ích vượt chi phí.
6.1.1 Giảm Phát thải do Con người Phát thải CO2 dự báo giảm năm 2020 do COVID-19, nhưng
cần tăng cam kết để đạt mục tiêu Thỏa thuận Paris dưới 2°C. Đốt nhiên liệu hóa thạch gây 6 triệu ca
tử vong mỗi năm do ô nhiễm không khí; loại bỏ dần nhiên liệu hóa thạch ngăn 3,61 triệu ca tử vong
dư thừa hàng năm. Than, dầu, khí đốt chiếm 85% phát thải CO2 từ điện, sưởi ấm, giao thông, công
nghiệp. Chuyển sang năng lượng sạch (mặt trời, gió, địa nhiệt, sóng), tăng đầu tư năng lượng sạch,
áp thuế sức khỏe vào giá năng lượng giảm phát thải. Giao thông chiếm 24% phát thải CO2; loại bỏ
động cơ đốt trong, giảm xe hơi cá nhân, khuyến khích đi bộ, đạp xe, giao thông công cộng, xây
dựng thành phố lấy con người làm trung tâm giúp giảm phát thải. Giảm sử dụng nhiên liệu hóa
thạch cắt giảm 1/3 CH4; cải thiện quản lý chăn nuôi, giảm lãng phí thực phẩm, áp dụng chế độ ăn
thực vật giảm CH4, N2O. Xử lý chất thải hiệu quả cũng giảm nồng độ CH4.
6.1.2 Hấp thụ hoặc Loại bỏ Khí Nhà kính trong Khí quyển bằng Biện pháp Nhân tạo Ước tính
61% lượng phát thải CO2 do con người trong giai đoạn 2010–2019 được hấp thụ bởi các bể tự nhiên
(35% bởi đất liền và 26% bởi đại dương). Rừng và không gian xanh là lực lượng chính hấp thụ CO2
trên đất liền. Tái trồng rừng tăng bể hấp thụ carbon, giảm nồng độ CO2 trong khí quyển, tương tự
như các đợt tảo nở hoa. Phát triển công nghệ lọc trực tiếp CO2 từ khí quyển cũng là giải pháp thực
tiễn.
6.1.3 Lợi ích Đồng thời của Các Hành động Giảm thiểu Khuyến khích đi xe đạp, đi bộ cải thiện
sức khỏe con người qua tăng hoạt động thể chất, giảm ô nhiễm không khí từ đốt nhiên liệu hóa
thạch, giảm tỷ lệ mắc bệnh hen suyễn, béo phì, lo âu do tiếng ồn giao thông. Thúc đẩy không gian
xanh dân cư hỗ trợ giảm thiểu khí hậu, tăng hoạt động thể chất, cải thiện sức khỏe tâm thần, giảm tử
vong do mọi nguyên nhân. Giá năng lượng tính chi phí chăm sóc sức khỏe giảm phát thải khí nhà
kính hơn 20%, giảm 33% ca tử vong do ô nhiễm không khí ngoài trời. Giảm tiêu thụ thịt, tăng thịt
nuôi cấy giảm thiếu hụt thực phẩm. Chuyển sang kịch bản RCP4.5 cứu khoảng 500.000 mạng sống
mỗi năm vào năm 2030.
6.2 Thích ứng Các chiến lược thích ứng bao gồm đánh giá định kỳ lỗ hổng sức khỏe, phát triển kế
hoạch thích ứng dựa trên bằng chứng, tăng cường khả năng phục hồi khí hậu, tính bền vững của hệ
thống y tế, và bảo vệ sức khỏe, thúc đẩy công lý khí hậu qua can thiệp đa lĩnh vực.
6.2.1 Phản ứng Chung Chiến lược thích ứng gồm bốn khía cạnh: 1) đánh giá định kỳ lỗ hổng sức
khỏe và khả năng thích ứng, 2) phát triển, triển khai kế hoạch thích ứng dựa trên bằng chứng, 3)
tăng cường khả năng phục hồi khí hậu, tính bền vững môi trường của cơ sở y tế, 4) bảo vệ sức khỏe,
thúc đẩy công lý khí hậu qua can thiệp đa lĩnh vực. Tích hợp mô-đun vào hệ thống cảnh báo sớm,
như dự báo thời tiết cực đoan, dự đoán bệnh liên quan đến khí hậu, ước tính rủi ro sức khỏe, đề xuất
phòng ngừa, cung cấp kế hoạch y tế, cứu hộ, và tái thiết sau thảm họa.
6.2.2 Các Hành động Cụ thể Hành động thích ứng thực hiện ở nhiều cấp độ. Ở cấp xã hội, hệ
thống y tế công cộng cung cấp hỗ trợ tài chính, giáo dục ứng phó thảm họa cho nhóm dễ bị tổn
thương. Ở cấp hành vi, cải thiện điều kiện sống giảm tác động thời tiết cực đoan; ví dụ, điều hòa
không khí tại viện dưỡng lão có thể giảm tử vong trong sóng nhiệt châu Âu 2003. Ở cấp vật lý, tăng
độ phủ cây xanh hấp thụ nhiệt, giảm bệnh bằng cách chặn tiếng ồn giao thông, làm mới không khí,
cung cấp khu vực thể thao. Thích ứng đô thị như mái nhà xanh, tường mát, vỉa hè mát kiểm soát khí
hậu đô thị; tại Sydney, nhiệt độ trong nhà tối đa của tòa nhà có mái, tường xanh là 27,7°C so với
34,6°C nếu không có. Ở Trung Quốc, mái nhà xanh, mát giảm nhiệt độ bề mặt mùa hè 0,74 K và
1,19 K. Đập, hồ chứa bảo vệ con người khỏi lũ lụt, bão ven biển, hỗ trợ nghề cá, chống hạn hán,
nâng cao sức khỏe và hệ sinh thái.
7 Kết luận Các dấu hiệu biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt, bao gồm nhiệt độ cực đoan, lũ lụt, bão,
và thảm họa tự nhiên, ảnh hưởng sức khỏe con người qua bệnh không lây nhiễm, bệnh truyền
nhiễm, chấn thương, rối loạn tâm thần, mất an ninh lương thực. Yếu tố kinh tế - xã hội, nhân khẩu
học, môi trường điều chỉnh lộ trình khí hậu - sức khỏe. Dù biến đổi khí hậu gây bất lợi toàn cầu,
một số khu vực được cải thiện hệ sinh thái. Hành động giảm thiểu, thích ứng ở nhiều cấp độ giảm
mối đe dọa sức khỏe, mang lại lợi ích đồng thời.
///////////////////////
1. Giới thiệu
Biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất của kinh tế và
chính trị thế giới. 97% các nhà khoa học đồng ý rằng vấn đề này tồn tại và đã trở nên trầm trọng hơn
trong 20 năm qua, trong thời kỳ cách mạng công nghiệp, dẫn đến việc thải ra khối lượng lớn các
chất độc hại vào khí quyển, nước và đất.
2. Nguyên nhân của biến đổi khí hậu
Hiện nay, các nhà khoa học coi biến đổi khí hậu của Trái Đất là một vấn đề toàn cầu của nhân loại.
Khí hậu trên Trái Đất đang thay đổi và điều này không thể phủ nhận.
Nguyên nhân tự nhiên của biến đổi khí hậu trên Trái Đất bao gồm ảnh hưởng của Mặt Trời. Bức
xạ mặt trời làm nóng bề mặt hành tinh của chúng ta không đồng đều (mạnh hơn ở vùng xích đạo),
do đó hình thành các luồng gió và dòng hải lưu. Nếu hoạt động mặt trời tăng lên, các cơn bão từ tính
và hiện tượng nóng lên xảy ra.
Các nguyên nhân tự nhiên khác của sự chuyển đổi khí hậu bao gồm sự dịch chuyển của quỹ đạo
hành tinh, các vụ phun trào núi lửa, chuyển động của các mảng lục địa và đại dương, cũng như sự
thay đổi trong từ trường Trái Đất. Một thực tế thú vị đã được ghi nhận về núi lửa: một vụ phun trào
núi lửa mạnh thường dẫn đến sự làm lạnh đột ngột ở khu vực đó trong vài năm. Mặc dù các vụ phun
trào núi lửa hiếm xảy ra, nhưng trong khoảng thời gian vài năm, chúng có thể đóng vai trò quan
trọng trong việc làm mát khí hậu và dẫn đến sự tuyệt chủng hoặc bảo tồn của toàn bộ các loài [2].
Không phải bí mật rằng trong một thời gian dài, các lục địa di chuyển nhờ các mảng kiến tạo. Do
đó, các biển và đại dương mới được tạo ra, các dãy núi sụp đổ hoặc hình thành: một bề mặt được tạo
ra, nơi khí hậu sau đó được hình thành. Ví dụ, Kỷ Băng hà, xảy ra khoảng 3 triệu năm trước và được
ghi vào lịch sử, đã kéo dài do chuyển động của các mảng Bắc và Nam Phi. Kết quả của sự va chạm
của chúng, Eo đất Panama được hình thành. Có thể eo đất này đã ngăn chặn sự trộn lẫn của nước
giữa hai đại dương (Đại Tây Dương và Thái Bình Dương), điều này, theo giả thuyết, đã khiến thời
kỳ băng hà kéo dài hơn. Những yếu tố này luôn góp phần vào các biến động chu kỳ.
Nguyên nhân nhân tạo, liên quan đến hoạt động của con người, đã được thêm vào các nguyên
nhân tự nhiên của biến đổi khí hậu. Chúng bao gồm, ví dụ, hiệu ứng nhà kính. Kể từ đầu thế kỷ 21,
tác động của hiệu ứng nhà kính lên hành tinh đã vượt quá ảnh hưởng của bức xạ mặt trời tới 8 lần về
cường độ [3].
Dưới đây là các vấn đề bổ sung ảnh hưởng đến khí hậu và môi trường mà con người vô ý tạo ra:
1. Đốt nhiên liệu. Lượng CO2 (carbon dioxide) đã tăng 10-15% trong vòng một trăm năm qua,
và 400 tỷ tấn carbon dioxide đã được thải ra chỉ riêng từ việc đốt nhiên liệu. Hàm lượng CO2
càng cao, Trái Đất càng ít tỏa nhiệt. Các lõi băng được lấy từ các giếng khoan tại trạm Vostok
và Mirny (Hình 1) ở Nam Cực cho thấy hàm lượng carbon dioxide trong khí quyển đang
tăng, điều này gây ra hiện tượng nóng lên và tăng độ tương phản nhiệt độ của thời tiết.
Hình 1. Nam Cực.
2. Các nguyên nhân khác của biến đổi khí hậu
2.1. Hạt bụi (Aerosols) Hạt bụi có thể xuất phát từ cả nguồn tự nhiên và nhân tạo. Chúng có thể
gây ra hạn hán ở một số khu vực, trong khi ở những khu vực khác, chúng dẫn đến sự suy giảm đáng
kể trong điều kiện thời tiết dưới dạng tuyết rơi, mưa và giảm nhiệt độ. Hạt bụi cũng ảnh hưởng đến
sự hình thành và phát triển của mây, từ đó tác động đến các quá trình thời tiết và khí hậu [3].
2.2. Ngành công nghiệp xi măng Sản xuất xi măng là một nguồn phát thải CO2 lớn, chiếm khoảng
2,5% lượng phát thải CO2 từ các quá trình công nghiệp (bao gồm cả năng lượng và các ngành công
nghiệp khác). Quá trình sản xuất xi măng, đặc biệt là trong giai đoạn nung clinker, giải phóng một
lượng lớn CO2, góp phần vào hiệu ứng nhà kính và nóng lên toàn cầu [3].
2.3. Sử dụng đất Tưới tiêu, phá rừng và nông nghiệp đang làm thay đổi căn bản môi trường. Thay
đổi trong cách sử dụng đất có thể ảnh hưởng đến khí hậu bằng cách thay đổi các đặc tính của bề mặt
Trái Đất, vốn không chỉ là nguồn nhiệt trực tiếp trong tầng đối lưu mà còn là một trong những
nguồn chính của hơi nước trong khí quyển. Không có gì ngạc nhiên khi sự thay đổi trong đặc điểm
bề mặt Trái Đất có thể làm thay đổi các đặc tính nhiệt động lực học và động lực học của khí quyển,
dẫn đến nhiều quá trình khí hậu bất lợi khác nhau. Sử dụng đất có thể ảnh hưởng đến các đặc điểm
của hệ thống khí hậu khu vực, chẳng hạn như nhiệt độ, lượng mưa và bay hơi nước
(evapotranspiration) [3].
2.4. Chăn nuôi gia súc Mặc dù mối quan hệ giữa sản xuất chăn nuôi và biến đổi khí hậu không rõ
ràng ngay từ đầu, nhưng nó thực sự tồn tại. Theo dữ liệu năm 2015, 85% diện tích rừng ở Amazon
bị chặt phá để làm đồng cỏ và đất nông nghiệp trồng đậu nành, thường được sử dụng làm thức ăn
chăn nuôi. Việc sản xuất thịt để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của con người đòi hỏi sử dụng một lượng
lớn tài nguyên. Dự kiến đến năm 2050, dân số thế giới sẽ tăng lên 9 tỷ người. Điều này có nghĩa là
để đáp ứng nhu cầu thịt của dân số, sản xuất thịt phải tăng, kéo theo lượng khí nhà kính tăng
(khoảng 46-50%), gây tác động bất lợi đến môi trường [4].
3. Hậu quả của nóng lên toàn cầu
Khi nói về biến đổi khí hậu toàn cầu, mọi người đều nghĩ đến một thực tế đáng sợ - nóng lên toàn
cầu. Dù nhiều người lo ngại về cụm từ này, các dữ liệu thực tế đã chứng minh điều đó. Nếu các
quốc gia không bắt đầu nghiêm túc giải quyết vấn đề bảo vệ môi trường, đến năm 2100, nhiệt độ
trên hành tinh có thể tăng từ 3,7 đến 4,8°C. Các nhà khí hậu học cảnh báo rằng những hậu quả
không thể đảo ngược đối với môi trường sẽ xảy ra khi nhiệt độ tăng vượt quá 2°C.
Sự tan chảy của băng vĩnh cửu là một dấu hiệu rõ ràng của nóng lên toàn cầu. Greenland mỗi năm
mất từ 250 đến 300 triệu tấn băng (Hình 2). Bề mặt đất hoặc nước lộ ra sau khi băng tan sẽ hấp thụ
nhiệt nhanh hơn do màu sắc tối hơn, làm gia tăng quá trình nóng lên.
Hình 2. Các khu vực được bao phủ bởi băng Bắc Cực trong mùa đông năm 1979 (trái) và 2003
(phải). Hình ảnh không gian được chụp vào cùng thời điểm trong năm.
Hậu quả của nóng lên toàn cầu (tiếp tục)
Sự gia tăng mực nước biển: Do sự tan chảy của các chỏm băng và sự giãn nở nhiệt của nước biển,
mực nước của Đại dương Thế giới sẽ tiếp tục dâng cao. Hiện tại, mực nước biển đã tăng khoảng 3
mm mỗi năm, và đến cuối thế kỷ 21, nó có thể tăng từ 0,3 đến 0,6 m hoặc hơn [5]. Sự gia tăng này
đe dọa các khu vực ven biển, gây ngập lụt, xói mòn và mất môi trường sống.
Điều kiện thời tiết cực đoan: Năm 2021 đã chứng kiến các điều kiện thời tiết cực đoan đáng chú ý.
Nhiều quốc gia như Canada, Nam Mỹ, Iran, Afghanistan, Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ phải đối mặt với
hạn hán nghiêm trọng. Đặc biệt, Đông Phi đã trải qua hạn hán kéo dài khoảng 40 năm [5]. Nhiệt độ
kỷ lục đã được ghi nhận ở một số khu vực trên thế giới, bao gồm: Thung lũng Chết (Death Valley) ở
California (54,4°C), British Columbia (46,6°C) và Sicily (48,8°C).
Lũ lụt nghiêm trọng: Các cư dân ở Tây Âu đã phải đối mặt với lũ lụt nghiêm trọng. Đức, tỉnh Hà
Nam (Henan) ở Trung Quốc, và khu vực đông nam Hoa Kỳ đã chịu thiệt hại lớn về người và tài sản
do các trận lũ lụt.
Tác động đến hệ sinh thái tự nhiên: Các hệ sinh thái tự nhiên cũng chịu ảnh hưởng không kém.
Chúng đặc biệt dễ bị tổn thương. Đến cuối thế kỷ này, từ 20 đến 90% các vùng đất ngập nước ven
biển và khoảng 70 đến 90% các rạn san hô có thể biến mất [6]. Sự mất mát này không chỉ ảnh
hưởng đến đa dạng sinh học mà còn đe dọa sinh kế của các cộng đồng phụ thuộc vào các hệ sinh
thái này.
Xu hướng nhiệt độ kỷ lục: Theo Báo cáo Tình trạng Khí hậu Toàn cầu Sơ bộ của Tổ chức Khí
tượng Thế giới (WMO) năm 2021, dựa trên dữ liệu từ chín tháng đầu năm 2021, bảy năm gần đây
đang trên đà trở thành những năm nóng nhất được ghi nhận (Hình 3). Điều này nhấn mạnh mức độ
nghiêm trọng và tốc độ nhanh chóng của quá trình nóng lên toàn cầu, đòi hỏi hành động khẩn cấp để
giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Hình 3. Chênh lệch nhiệt độ trung bình hàng năm trên toàn cầu so với thời kỳ tiền công nghiệp
(1850–1900) cho sáu tập dữ liệu nhiệt độ toàn cầu.
Hậu quả của việc không thể ngăn chặn sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu
Nếu không thể ngăn chặn sự gia tăng nhiệt độ của hành tinh, những hậu quả nghiêm trọng sau đây
có thể xảy ra
1. Thảm họa tự nhiên gia tăng: Các vùng khí hậu sẽ dịch chuyển, và thời tiết sẽ thay đổi mạnh
mẽ. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ lụt, hạn hán, mưa lớn và cháy rừng sẽ trở nên
thường xuyên hơn, gây ra thiệt hại lớn về môi trường và con người.
2. Một số quốc gia trở nên không thể sinh sống: Đến năm 2100, do độ ẩm cao và nhiệt độ
trung bình cao, một số khu vực trên Trái Đất có thể trở nên không thể sinh sống. Các quốc
gia đặc biệt có nguy cơ bao gồm Ả Rập Saudi, Qatar, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống
nhất, v.v., nơi điều kiện khí hậu khắc nghiệt sẽ khiến cuộc sống trở nên không bền vững.
3. Sự tuyệt chủng hàng loạt của động thực vật: Theo dự báo của các nhà khoa học, từ 3040% hệ sinh thái và các loài sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng do môi trường sống của chúng
thay đổi nhanh hơn khả năng thích ứng của chúng.
4. Nạn đói gia tăng: Nóng lên toàn cầu sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất cây trồng, đặc biệt
ở các quốc gia đang phát triển ở Mỹ Latinh, Châu Á và Châu Phi. Đến năm 2080, số người
đói có thể tăng thêm 600 triệu người do suy giảm sản lượng nông nghiệp.
5. Mực nước biển dâng cao: Theo cảnh báo của các nhà phân tích Liên Hợp Quốc, hàng triệu
người ở vùng ven biển có thể thiệt mạng do lũ lụt thường xuyên. Các quốc gia nằm trong
vùng nguy cơ bao gồm Bangladesh, Maldives, Hà Lan, v.v. Một số khu vực ở Nga, Ý, Hoa
Kỳ và Đức cũng có thể bị ngập lụt.
6. Gia tăng bệnh tật: Sự gia tăng lượng mưa có thể làm lây lan các bệnh lây truyền qua nước
như sốt rét. Nếu Trái Đất nóng lên, con người có thể đối mặt với nguy cơ cao hơn về ung thư
da, dị ứng, cũng như các vấn đề về hô hấp và tim mạch.
7. Thay đổi thời gian các mùa: Các mùa có thể trở nên dài hơn hoặc ngắn hơn. Ví dụ, mùa
xuân có thể đến sớm hơn 10 tháng so với trước đây, làm thay đổi chu kỳ tự nhiên.
8. Rối loạn chuỗi thức ăn: Các loài chim có thể di cư về phía nam sớm hơn, trong khi động vật
có thể ngủ đông lâu hơn, làm gián đoạn chuỗi thức ăn và gây ra những hậu quả sinh thái
không lường trước.
9. Dân số thế giới suy giảm: Có thể dân số toàn cầu sẽ giảm 75%, trong đó một nửa sẽ tử vong
do các thảm họa tự nhiên, và 25% do các bệnh tật liên quan đến biến đổi khí hậu.
10. Chất lượng không khí suy giảm: Hậu quả của nóng lên toàn cầu sẽ bao gồm không khí bẩn
và sương mù (Hình 4), làm trầm trọng thêm các vấn đề sức khỏe liên quan đến hô hấp và gia
tăng các bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí.
Những dự báo này nhấn mạnh sự cấp bách của việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu và thích ứng
với biến đổi khí hậu để giảm thiểu các tác động nghiêm trọng này. Các hành động như cắt giảm phát
thải khí nhà kính, chuyển đổi sang năng lượng tái tạo, bảo vệ hệ sinh thái và tăng cường khả năng
phục hồi khí hậu là cần thiết để bảo vệ sức khỏe con người và hành tinh.
Hình 4. Bão cát ở Dải Gaza
4. Các cách giải quyết vấn đề
Nguyên nhân chính của hiện tượng nóng lên toàn cầu hiện nay được cho là do phát thải khí nhà
kính, đặc biệt là carbon dioxide (CO2), vào khí quyển. Do đó, các nỗ lực chính cần tập trung vào
việc hạn chế phát thải này.
1. Giảm phát thải khí nhà kính:
o
Hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch: Giảm tỷ trọng của các nguồn năng lượng hóa
thạch như than đá và dầu mỏ trong cân bằng năng lượng toàn cầu là yếu tố quan trọng.
Việc chuyển đổi sang các nguồn năng lượng sạch và tái tạo như năng lượng mặt trời,
gió, thủy điện và địa nhiệt sẽ giúp giảm đáng kể lượng phát thải CO2 vào khí quyển.
Theo các nhà nghiên cứu, trong vòng 10 năm, lượng phát thải CO2 cần được giảm
một nửa (khoảng 45%) để đạt được các mục tiêu khí hậu toàn cầu.
o
Xây dựng các nhà máy năng lượng sạch: Việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân,
thủy điện, điện gió và điện mặt trời mới sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm
phát thải khí nhà kính. Những nguồn năng lượng này không chỉ bền vững mà còn
giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, vốn là nguồn phát thải CO2 chính (chiếm
85% phát thải CO2 do con người) [138].
2. Giảm sử dụng phương tiện giao thông phát thải cao:
o
Hạn chế các chuyến bay hàng không là một biện pháp quan trọng, vì chỉ một chuyến
bay khứ hồi xuyên Đại Tây Dương tiêu chuẩn đã thải ra khoảng 1,6 tấn CO2 [4]. Thay
vào đó, có thể khuyến khích sử dụng các phương tiện giao thông công cộng, đi bộ
hoặc xe đạp để giảm phát thải từ giao thông, vốn chiếm 24% lượng CO2 từ đốt nhiên
liệu [138]. Việc xây dựng các thành phố lấy con người làm trung tâm với hệ thống
giao thông công cộng thuận tiện và khả năng đi bộ cao cũng góp phần giảm thiểu tác
động khí hậu.
3. Hành động cá nhân để bảo vệ môi trường:
o
Mỗi cá nhân có thể góp phần ngăn chặn nóng lên toàn cầu bằng các hành động đơn
giản như:
Tận dụng ánh sáng tự nhiên: Sử dụng tối đa ánh sáng mặt trời để giảm tiêu
thụ điện năng.
Hạn chế tiêu thụ năng lượng: Giảm hoặc kiểm soát sự gia tăng tiêu thụ năng
lượng tổng thể, ví dụ bằng cách chuyển sang các nhà cung cấp năng lượng
xanh.
Trồng cây và bảo vệ rừng: Trồng nhiều cây trên đất của mình và theo dõi sự
phát triển của các cây hiện có. Rừng và không gian xanh là các bể hấp thụ
carbon tự nhiên quan trọng, hấp thụ 35% lượng CO2 do con người thải ra trong
giai đoạn 2010–2019 [139].
Thay đổi thói quen di chuyển: Ưu tiên đi bộ hoặc xe đạp thay vì sử dụng xe
hơi cá nhân để giảm phát thải khí nhà kính và cải thiện chất lượng không khí
[140].
4. Tăng cường khả năng phản xạ của Trái Đất:
o
Một phương pháp thú vị để ngăn chặn sự quá nhiệt của hành tinh là tăng khả năng
phản xạ của bề mặt Trái Đất. Ở một số quốc gia, việc sơn mái nhà màu trắng đã được
áp dụng để phản xạ ánh sáng mặt trời, giúp giảm nhiệt độ trong các thành phố vài độ
(Hình 5) [151, 152]. Các giải pháp như mái nhà xanh, tường mát và vỉa hè mát cũng
đã được chứng minh là hiệu quả trong việc kiểm soát khí hậu đô thị, giảm tác động
của các sự kiện nhiệt độ cực đoan [149, 150].
Hình 5. Sơn mái nhà màu trắng.
Tình hình mua sắm và tác động môi trường
Tình hình với việc mua sắm cũng rất đáng chú ý. Các sản phẩm mà toàn bộ dân số Trái Đất mua đều
để lại dấu chân carbon do cách chúng được sản xuất hoặc vận chuyển. Ví dụ, ngành may mặc chiếm
3% lượng phát thải carbon dioxide toàn cầu. Tương tự, các sản phẩm thực phẩm cũng có tác động
tương tự. Thông thường, thực phẩm được vận chuyển qua đại dương, dẫn đến nhiều “dặm thực
phẩm” (food miles). Vì vậy, lựa chọn tốt nhất là tiêu thụ các sản phẩm địa phương theo mùa để giảm
thiểu phát thải.
Giảm dân số để đối phó với biến đổi khí hậu: Việc có ít con hơn cũng là một ý tưởng tốt để góp
phần giảm thiểu biến đổi khí hậu. Trung bình, mỗi người tiêu thụ khoảng 5 tấn CO2 mỗi năm,
nhưng con số này khác nhau tùy thuộc vào quốc gia. Ngay cả trong một quốc gia, dấu chân carbon
từ những người giàu có, có khả năng tiếp cận nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn, thường lớn hơn nhiều
so với những người có thu nhập thấp.
Khái niệm kinh tế xanh: của các chính sách quốc gia bị đình trệ và tăng cường hợp tác quốc tế hỗ
trợ phát triển bền vững. Kinh tế xanh liên quan đến sự phát triển bền vững của nông nghiệp và sản
xuất công nghiệp “xanh”. Nền kinh tế này không chỉ mang lại lợi ích cho môi trường mà còn thúc
đẩy sự chuyển đổi xã hội và môi trường.
5. Kết luận
Biến đổi khí hậu và các quá trình sinh thái liên quan được theo dõi bởi các Viện Nghiên cứu Sinh
thái và Khí hậu, Sinh học và Khoa học Địa chất. Nhiệm vụ của họ bao gồm nghiên cứu các cơ chế
thích ứng của thực vật với biến đổi khí hậu và tác động của nó đến lớp phủ đất. Một ví dụ về tổ
chức chuyên thu thập dữ liệu khoa học khách quan là Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu
(IPCC).
Tôi tin rằng, với những vấn đề liên quan đến quá trình nóng lên toàn cầu, nhân loại sẽ chịu trách
nhiệm về môi trường xung quanh mình. Tôi biết rằng thiên nhiên không thể bị xem nhẹ. Tất cả
chúng ta đều sống dưới cùng một bầu trời, và để con cái chúng ta cùng các thế hệ tương lai có thể
tiếp tục sống, việc bảo vệ hệ sinh thái ngay hôm nay là điều cần thiết. Những bước nhỏ trên con
đường thay đổi để có một cuộc sống tốt đẹp hơn sẽ là một bước nhảy vọt cho nhân loại.
0
You can add this document to your study collection(s)
Sign in Available only to authorized usersYou can add this document to your saved list
Sign in Available only to authorized users(For complaints, use another form )