TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM TRUNG TÂM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ - QUỐC PHÒNG BÁO CÁO HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT: Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ VẬN DỤNG TRONG CHÍNH SÁCH CÔNG Học kỳ 1A NH 2025 - 2026 Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Thùy Duyên Lớp: 24DQTA2 Nhóm: 07 STT Họ và tên SV MSSV 1 Đoàn Phú Quí 2281400917 2 Hồ Duy Vũ 2280603726 3 Phạm Trọng Thiện 2288506382 4 Võ Ngọc Thủy Tiên 2386100380 5 Nguyễn Thị Thanh Ngân 2383000591 6 Trương Huỳnh Tương Viên 24808600157 7 Đỗ Thị Thanh Phương 24802301205 8 Ngô Thị Mộng Tình 24801400301 9 Trần Đông Trúc 24801400322 10 Phạm Thị Thảo 24801400892 TP. Hồ Chí Minh, 2025 i LỜI CẢM ƠN Trước tiên, nhóm 07 xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh vì đã tạo điều kiện đưa môn học Triết học Mác – Lênin vào chương trình giảng dạy. Môn học này đã giúp chúng em có cơ hội tiếp cận những kiến thức nền tảng về thế giới quan và phương pháp luận khoa học, từ đó phát triển tư duy phản biện và khả năng nhận thức các quy luật vận động của xã hội. Những kiến thức này không chỉ có ý nghĩa trong học tập mà còn là công cụ hữu ích để chúng em phân tích và giải quyết các vấn đề phức tạp trong cuộc sống cũng như công việc tương lai. Tiếp theo, nhóm chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS. Nguyễn Thị Thùy Duyên. Cô đã truyền đạt kiến thức bằng cả tâm huyết và sự tận tình. Thời gian học môn Triết học Mác – Lênin cùng cô là một trải nghiệm quý giá, giúp chúng em không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn hiểu sâu sắc về cách thức vận dụng các nguyên lý Triết học vào việc nghiên cứu thực tế. Từ đó, chúng em có thể nhận thức đúng đắn hơn về nhiều vấn đề khác nhau, đưa ra những giải pháp khoa học và có hệ thống. Đây sẽ là hành trang vững chắc, là nền tảng tư duy để chúng em tự tin hơn trên con đường học tập và phát triển bản thân. Môn học này không chỉ bổ ích mà còn có tính thực tiễn cao, góp phần không nhỏ vào việc xây dựng nền tảng kiến thức vững vàng cho nhóm chúng em nói riêng và toàn thể sinh viên nói chung. Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn hạn chế và kinh nghiệm thực tế còn nhiều bỡ ngỡ, bài báo cáo học phần này chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót và những điểm chưa thực sự chính xác. Chúng em rất mong nhận được những lời nhận xét và góp ý quý báu từ cô để bài báo cáo được hoàn thiện hơn. Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn! ii LỜI CAM KẾT Nhóm em xin cam đoan bài Báo cáo Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Lực Lượng Sản Xuất và Quan Hệ Sản Xuất: Ý Nghĩa Phương Pháp Luận và Vận Dụng trong Chính Sách Công là thành quả của một quá trình học tập và nghiêm túc, độc lập dưới sự hướng dẫn của cô TS. Nguyễn Thị Thùy Duyên bộ môn Triết học Mác Lênin. Tất cả nội dung trong bài Báo cáo là sự nổ lực, cố gắng tìm kiếm, nghiên cứu chọn lọc, kết hợp các bài nghiên cứu và tạp chí uy tín, đó là sản phẩm do chính chúng em đã đạt được sau khoảng thời gian học tập và nghiên cứu. Các thông tin và minh chứng được trình bày trong bài báo cáo hoàn toàn dựa trên các nghiên cứu và các tạp đúng sự thật. Nếu có bất kì vướng mắc hay vấn đề nào phát sinh nhóm chúng em xin được chịu trách nhiệm trước hội đồng kỷ luật của khoa và nhà trường. Tp.Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 09 năm 2025. Trưởng nhóm Đoàn Phú Quí iii ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN STT Họ và tên Nhiệm vụ Tỷ lệ tham gia (%) Giám sát, phân công, kiểm 1 Đoàn Phú Quí duyệt, chỉnh sửa (Word, 10 Mindmap, PPT) Kiểm duyệt, chỉnh sửa, 2 Hồ Duy Vũ 3 Phạm Trọng Thiện Trình bày nội dung 10 4 Nguyễn Thị Thanh Ngân Trình bày nội dung 10 5 Trương Huỳnh Tương Viên Trình bày nội dung 10 6 Võ Ngọc Thủy Tiên Trình bày nội dung 10 7 Đỗ Thị Thanh Phương Trình bày nội dung 10 8 Ngô Thị Mộng Tình Trình bày nội dung 10 9 Trần Đông Trúc Trình bày nội dung 10 10 Phạm Thị Thảo Trình bày nội dung. 10 Mindmap, in báo cáo. Tổng cộng: 10 100% iv MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN .................................................................................................................i LỜI CAM KẾT ............................................................................................................. ii ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN ........................................................................................ iii PHẦN 1: TỔNG QUAN BÁO CÁO ............................................................................ 1 PHẦN 2: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT: Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ VẬN DỤNG TRONG CHÍNH SÁCH CÔNG. .................................................................................. 2 1. Cơ sở lý luận: Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất trong phép biện chứng duy vật lịch sử. ................................................................................................................................... 2 1.1. Khái niệm về lực lượng sản xuất. ................................................................................ 2 1.2. Khái niệm về quan hệ sản xuất .................................................................................... 2 2. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất .......................... 2 2.1. Lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất ........................... 2 2.2. Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lục lượng sản xuất ...................................... 3 2.3. Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 3 3. Ý nghĩa phương pháp luận. ................................................................................................ 3 4. Vận dụng trong chính sách công tại Việt Nam ................................................................. 4 4.1. Khái niệm về chính sách công ..................................................................................... 4 4.2. Vận dụng phân tích chính sách công thông qua Nghị định 110/2024/NĐ-CP về công tác xã hội ...................................................................................................................... 4 4.3. Vai trò của LLSX và QHSX trong chính sách công. ................................................... 5 4.4. Kết quả và ý nghĩa của Nghị định 110/2024/NĐ-CP về công tác xã hội .................... 5 4.5. Tại sao không thể tùy tiện trong xây dựng chính sách công? ...................................... 5 PHẦN 3: KẾT LUẬN .................................................................................................... 6 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 8 SƠ ĐỒ TƯ DUY ............................................................................................................ 9 1 PHẦN 1: TỔNG QUAN BÁO CÁO Trong tiến trình lịch sử nhân loại, sản xuất vật chất luôn giữ vai trò nền tảng quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội. Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác – Lênin đã khái quát quy luật cơ bản: quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đây là quy luật phổ biến, chi phối sự vận động, thay thế của các hình thái kinh tế – xã hội. Thực chất, lực lượng sản xuất (LLSX) là yếu tố năng động nhất, phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên của con người, còn quan hệ sản xuất (QHSX) là hình thức xã hội của quá trình sản xuất. Mối quan hệ biện chứng giữa chúng tạo thành động lực phát triển; sự không phù hợp tất yếu dẫn tới khủng hoảng và thay đổi. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã nhiều lần minh chứng tính đúng đắn của quy luật này. Trước Đổi mới, do áp đặt quan hệ sản xuất tập trung quan liêu bao cấp trong khi LLSX còn thấp kém, nền kinh tế rơi vào trì trệ. Từ năm 1986, nhờ điều chỉnh QHSX cho phù hợp hơn với thực trạng – thừa nhận kinh tế nhiều thành phần, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – Đảng ta đã giải phóng LLSX, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, đời sống nhân dân không ngừng cải thiện. Những bài học ấy khẳng định: trong hoạch định đường lối, chính sách, nếu duy ý chí hoặc nóng vội, chúng ta sẽ trả giá bằng sự trì trệ phát triển. Trong bối cảnh mới, cách mạng công nghiệp 4.0 cùng toàn cầu hóa đang tạo ra sự biến đổi sâu sắc của LLSX. Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn… đang định hình những phương thức sản xuất mới, đòi hỏi phải có những điều chỉnh căn bản trong QHSX, từ thể chế pháp luật đến chính sách công. Nếu không kịp thời đổi mới, QHSX lạc hậu sẽ trở thành “xiềng xích” kìm hãm sự phát triển, thậm chí làm đất nước bỏ lỡ thời cơ phát triển. Từ thực tiễn đó, vấn đề đặt ra mang tính cấp thiết: phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, rút ra ý nghĩa phương pháp luận đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời lý giải vì sao trong xây dựng chính sách công, không thể tùy tiện mà phải dựa trên cơ sở khoa học, khách quan và phù hợp thực tiễn. Đây cũng chính là luận đề trung tâm của bài viết, được tiếp cận trên cơ sở Triết học Mác – Lênin, Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. 2 PHẦN 2: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT: Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ VẬN DỤNG TRONG CHÍNH SÁCH CÔNG. 1. Cơ sở lý luận: Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất trong phép biện chứng duy vật lịch sử. 1.1. Khái niệm về lực lượng sản xuất. Theo Triết học duy vật lịch sử, lực lượng sản xuất là yếu tố cơ bản, là nguồn gốc của xã hội phát triển; bao gồm bề rộng (nguồn lực thiên nhiên, tư liệu sản xuất, lao động) và chiều sâu (khoa học – kỹ thuật, công nghệ, tổ chức lao động). Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, tri thức, dữ liệu, chuyển đổi số,… trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, không chỉ hỗ trợ mà thay đổi bản chất sản xuất. Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò của khoa học – kỹ thuật và công nghệ từ những năm đầu sau Giải phóng: Người yêu cầu phải “cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật” trong nông nghiệp, chăn nuôi, tạo ra động lực phát triển LLSX. Nhưng Người cũng cảnh báo rằng “muốn cơ giới hóa… còn mất hàng 15, 20 năm chứ không làm ngay một lúc được” – nhấn mạnh tính từng bước phù hợp với năng lực thực tiễn. 1.2. Khái niệm về quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất phản ánh cách thức con người tổ chức sản xuất, phân phối và sử dụng sản phẩm – bao gồm sở hữu, tổ chức lao động, phân phối lợi ích. Theo Kinh tế chính trị Mác-Lênin, QHSX có tính khách quan và tính ổn định tương đối, nhưng nó cần phải phù hợp với LLSX để không trở thành lực cản. Khi QHSX lỗi thời, nó sẽ gây ra mâu thuẫn nội tại tích tụ, đến một mức nào đó đòi hỏi cải cách hoặc cách mạng. Bên cạnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh đã xuyên suốt nhấn mạnh: chính sách xây dựng CNXH phải dựa theo trình độ phát triển thực tế của lực lượng sản xuất, tránh giáo điều và duy ý chí. 2. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 2.1. Lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của phương thức sản xuất, bao gồm con người lao động với kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng cùng tư liệu sản xuất (công cụ, đối 3 tượng lao động). Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ công cụ lao động và sự phát triển của khoa học – công nghệ. Theo quan điểm duy vật lịch sử, LLSX giữ vai trò quyết định đối với QHSX: Khi LLSX phát triển đến một trình độ nhất định, nó sẽ làm xuất hiện nhu cầu thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp; Nếu QHSX lạc hậu, kìm hãm sự phát triển của LLSX thì tất yếu sẽ nảy sinh mâu thuẫn, đòi hỏi cải biến hoặc thay thế; Mọi cuộc cách mạng xã hội về bản chất chính là sự thay thế một kiểu QHSX cũ bằng một QHSX mới, tiến bộ hơn, phù hợp hơn với trình độ của LLSX. 2.2. Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lục lượng sản xuất Mặc dù LLSX quyết định QHSX, nhưng QHSX cũng có tác động trở lại mạnh mẽ. Khi QHSX phù hợp với LLSX, nó sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, giải phóng tiềm năng của con người và khoa học – công nghệ. Ngược lại, QHSX lạc hậu, duy trì quan hệ sở hữu lỗi thời sẽ trở thành xiềng xích trói buộc, kìm hãm lực lượng sản xuất. Sự tác động này thể hiện cả ở lợi ích giai cấp: quan hệ sản xuất phù hợp với lợi ích tiến bộ của đông đảo quần chúng nhân dân thì sẽ trở thành động lực xã hội; nếu phục vụ lợi ích cục bộ, phản động thì sẽ dẫn đến mâu thuẫn gay gắt. 2.3. Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đây là quy luật phổ biến nhất của sự phát triển xã hội. Nó khẳng định: Sự vận động, thay đổi của QHSX không tùy tiện mà luôn phải tuân theo sự phát triển của LLSX. Mỗi khi LLSX đạt tới trình độ mới, tất yếu sẽ dẫn tới sự điều chỉnh của QHSX, từ sở hữu, quản lý cho đến phân phối sản phẩm. Quá trình này diễn ra thông qua mâu thuẫn, đấu tranh giai cấp và thường kết tinh thành các cuộc cách mạng xã hội. 3. Ý nghĩa phương pháp luận. Phải xuất phát từ LLSX để nghiên cứu bản chất, xu hướng vận động của xã hội. Không được duy ý chí, tuyệt đối hóa QHSX hay áp đặt mô hình chính trị – kinh tế xa rời thực tiễn. Đảng ta đã vận dụng quy luật này trong công cuộc đổi mới (1986), từ bỏ cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đây là sự điều chỉnh QHSX cho phù hợp 4 với trình độ LLSX, nhờ đó giải phóng tiềm năng sản xuất, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng. Trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng chính sách công phải dựa trên nguyên tắc: hợp quy luật, xuất phát từ thực tiễn, vì lợi ích nhân dân. Quy luật này định hướng con người phải coi trọng phát triển khoa học – công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, vì đó là nền tảng của LLSX. Đồng thời, phải thường xuyên đổi mới thể chế quản lý, chính sách phân phối công bằng, để QHSX không trở thành rào cản đối với LLSX. 4. Vận dụng trong chính sách công tại Việt Nam 4.1. Khái niệm về chính sách công Chính sách công là hệ thống các quyết định, quy định và giải pháp do Nhà nước ban hành nhằm giải quyết các vấn đề chung của xã hội, định hướng phát triển, bảo đảm công bằng, ổn định và tiến bộ. Nó phản ánh quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân, giữa quan hệ sản xuất (QHSX) với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX). Chính sách công là công cụ quan trọng để tổ chức xã hội, phân bổ nguồn lực và thể chế hóa đường lối của Đảng, từ đó tạo khuôn khổ pháp lý – xã hội phù hợp với yêu cầu phát triển. 4.2. Vận dụng phân tích chính sách công thông qua Nghị định 110/2024/NĐ-CP về công tác xã hội Nghị định số 110/2024/NĐ-CP ban hành ngày 30/8/2024, có hiệu lực từ ngày 15/10/2024. Mục đích: quy định quyền và nghĩa vụ của đối tượng công tác xã hội, quyền và nghĩa vụ của người hành nghề công tác xã hội; điều kiện đăng ký hành nghề; thực hành nghề; thủ tục cấp, cấp lại, thu hồi giấy chứng nhận hành nghề. Đối tượng áp dụng: người làm công tác xã hội, người hành nghề công tác xã hội; tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; gia đình, nhóm, cộng đồng thực hiện hoạt động liên quan công tác xã hội tại Việt Nam. Một số quy định nổi bật: Xác định đối tượng và phạm vi: người hành nghề, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. 5 Quyền và nghĩa vụ của người hành nghề: có quyền ký hợp đồng dịch vụ, được trả thù lao; đồng thời phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, bảo mật thông tin, cập nhật chuyên môn. Cơ chế quản lý: quy định việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận hành nghề; công khai danh sách để bảo đảm minh bạch. Các hành vi bị cấm: tiết lộ thông tin cá nhân, trục lợi, từ chối hỗ trợ trong tình huống khẩn cấp,… 4.3. Vai trò của LLSX và QHSX trong chính sách công. LLSX quyết định việc ra đời chính sách công: Khi lực lượng sản xuất phát triển, kéo theo nhu cầu bảo đảm an sinh, chăm sóc nhóm yếu thế, Nhà nước phải ban hành chính sách phù hợp. Sự xuất hiện của Nghị định 110 phản ánh đúng yêu cầu khách quan của xã hội hiện đại, khi nhu cầu dịch vụ công tác xã hội ngày càng lớn. QHSX tác động trở lại chính sách công: Chính sách công được ban hành sẽ điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ sản xuất. Nghị định 110 không chỉ bảo vệ đối tượng thụ hưởng mà còn tạo khuôn khổ pháp lý cho những người hành nghề, qua đó hình thành một quan hệ sản xuất mới trong lĩnh vực dịch vụ xã hội – công bằng, minh bạch, phù hợp xu hướng phát triển. 4.4. Kết quả và ý nghĩa của Nghị định 110/2024/NĐ-CP về công tác xã hội Thể chế hóa công tác xã hội: quy định rõ quyền, nghĩa vụ, điều kiện hành nghề. Nâng cao chất lượng dịch vụ: yêu cầu đào tạo, chuẩn mực đạo đức, cập nhật kiến thức. Bảo vệ quyền lợi người dân: đảm bảo công bằng, minh bạch, quyền lựa chọn dịch vụ. Tăng trách nhiệm & minh bạch: thủ tục cấp – thu hồi chứng nhận, công khai hành nghề. Phù hợp xu thế phát triển xã hội: đáp ứng nhu cầu an sinh, gắn với LLSX hiện đại 4.5. Tại sao không thể tùy tiện trong xây dựng chính sách công? Chính sách công là thể hiện khoảnh khắc quan hệ sản xuất (về sở hữu, phân phối, quản lý) trong một xã hội. Nếu tuỳ tiện xây dựng – nghĩa là không căn cứ vào thực trạng lực 6 lượng sản xuất, không khảo sát nhu cầu xã hội, không có cơ sở hiện trạng – thì dễ dẫn đến chính sách không khả thi, lãng phí tài nguyên hoặc tạo ra hệ lụy xã hội. Nghị định 110/2024/NĐ-CP là ví dụ tốt: nó được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của xã hội, có quy định rõ điều kiện chuyên môn, quyền & nghĩa vụ, quyền lợi & bảo vệ người dân, thể hiện sự phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất – bao gồm người làm công tác xã hội có chuyên môn, kiến thức, kỹ năng. Nếu làm một cách tùy tiện – giả sử bỏ qua quy định chuyên môn, bỏ qua đào tạo hoặc không có thủ tục rõ ràng – thì dịch vụ công tác xã hội có thể bị khai thác trục lợi, chất lượng thấp, quyền lợi của đối tượng bị xâm hại. Tóm lại, chính sách công là công cụ thiết yếu để đảm bảo tổ chức xã hội theo hướng công bằng, tiến bộ và phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nghị định 110/2024/NĐ-CP minh hoạ việc xây dựng chính sách mẫu mực: rõ ràng về quyền-nghĩa vụ, có điều kiện hành nghề, bảo vệ đạo đức nghề nghiệp, phù hợp với thực tiễn và nhu cầu xã hội. Từ đây chúng ta có thể rút ra được không thể tùy tiện trong xây dựng chính sách công: phải có căn cứ khoa học, khảo sát thực tế, phù hợp với khả năng (LLSX), có tính dự báo, khả thi và phải bảo đảm quyền lợi của người dân. Chỉ khi đó chính sách mới thực sự hiệu quả, bền vững và góp phần phát triển xã hội. PHẦN 3: KẾT LUẬN Qua việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX của Triết học Mác – Lênin, có thể khẳng định rằng chính sách công luôn phải xuất phát từ thực tiễn khách quan, gắn với quy luật phát triển của xã hội. Mọi sự tùy tiện, chủ quan trong hoạch định chính sách đều dẫn đến nguy cơ phá vỡ sự cân bằng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, kìm hãm tiến bộ xã hội. Phân tích Nghị định 110/2024/NĐ-CP cho thấy Nhà nước ta đã ban hành một chính sách công cụ thể, thiết thực, có căn cứ khoa học và thực tiễn, nhằm nâng cao hiệu quả công tác xã hội, bảo đảm an sinh và công bằng xã hội. Đây là minh chứng rõ nét cho việc chính sách công chỉ phát huy giá trị khi được xây dựng trên nền tảng lý luận khoa học và phù hợp với nhu cầu, điều kiện thực tiễn của đất nước. 7 Từ đó, có thể rút ra kết luận: không thể tùy tiện trong xây dựng chính sách công, bởi chính sách là công cụ điều tiết, định hướng phát triển quốc gia, gắn liền với lợi ích nhân dân và vận mệnh dân tộc. Nếu hoạch định chính sách đúng đắn, khoa học và khách quan chính là bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước theo con đường XHCN. Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0, nhiệm vụ cấp thiết là tiếp tục phát triển LLSX hiện đại, đồng thời từng bước hoàn thiện QHSX tiến bộ, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Đây là con đường duy nhất để thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. 8 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. GS.TS. Lê Hữu Nghĩa (2014, ngày 21 tháng 08). Giải quyết mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phải phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam. Tạp chí Cộng sản. 2. PGS.TS. Nguyễn Viết Thảo (2015, ngày 29 tháng 10). Xây dựng các quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp. Quân đội nhân dân. 3. GS.TS. Tô Lâm (2024, ngày 02 tháng 09). Chuyển đổi số - động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Tạp chí Cộng sản. 4. Lê Minh Trường (2023). Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất: Ví dụ và ý nghĩa. Truy cập tại: Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất: Ví dụ, ý nhĩa (ngày 11 tháng 09 năm 2025). 5. ThS. Lê Thị Sáu (2023). Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Khoa học chính trị. 6. TS. Hoàng Đình Cúc (2021, ngày 14 tháng 06). Tìm hiểu lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nền kinh tế tri thức. Tạp chí lý luận chính trị và truyền thông. 9 SƠ ĐỒ TƯ DUY
0
You can add this document to your study collection(s)
Sign in Available only to authorized usersYou can add this document to your saved list
Sign in Available only to authorized users(For complaints, use another form )