BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP. HỒ CHÍ MINH Ngô Hoài Quang Trung Giáo trình AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG DỆT, MAY Giáo trình dùng cho hệ đại học THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH- NĂM 2022 Ngô Hoài Quang Trung Giáo trình AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG DỆT, MAY Giáo trình dùng cho hệ đại học THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2022 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may LỜI NÓI ĐẦU Theo thống kê năm 2021 ngành sản xuất dệt may ở nước ta sử dụng lao động nhiều nhất trong các ngành kinh tế chiếm 25% lao động toàn ngành chế biến, chế tạo. Đây cũng ngành sản xuất có kim ngạch xuất khẩu cao ở nước ta. Do tập trung số lượng lớn lao động nên ngành dệt may tiềm ẩn nhiều nguy cơ bệnh nghề nghiệp. Bên cạnh đó nguy cơ cháy nổ luôn rình rập nếu xảy ra sẽ mang đến hậu quả nghiêm trọng. Sản xuất an toàn, hiệu quả là mong muốn của tất cả người lao động. Công tác giáo dục, huấn luyện an toàn lao động (ATLĐ), vệ sinh lao động (VSLĐ) là công việc ưu tiên và thường xuyên trong các doanh nghiệp sản xuất dệt – may. Trong giai đoạn học tập và nghiên cứu bậc Đại học, ngoài các kiến thức về Khoa học- kỹ thuật và công nghệ, An toàn lao động là môn học bắt buộc trong chương trình khung ngành Công nghệ Dệt, May. Với mục đích cung cấp kiến thức cơ bản về ATLĐ và VSLĐ cho người học, giáo trình “An toàn lao động trong dệt, may” được biên soạn phục vụ công tác giảng dạy cho sinh viên công nghệ dệt, may. Giáo trình gồm 7 chương như sau: Chương 1. Những vấn đề chung về công tác bảo hộ lao động Chương 2. Vệ sinh lao động Chương 3. Kỹ thuật an toàn điện Chương 4. Kỹ thuật an toàn hóa chất Chương 5. Kỹ thuật an toàn cơ khí và thiết bị chịu áp lực Chương 6. Kỹ thuật phòng cháy chữa cháy Chương 7. Quản lý An toàn lao động trong ngành dệt, may Các nội dung của An toàn lao động liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau: kiến thức khoa học – kỹ thuật cơ bản, tâm sinh lý học, kiến thức về pháp luật kể cả các kỹ năng thực tiễn v.v… Vì vậy việc biên soạn giáo trình không tránh khỏi thiếu sót, tác giả kính mong các đồng nghiệp và chuyên gia các lĩnh vực góp ý xây dựng để các lần hiệu chỉnh sau được hoàn thiện hơn. Mọi thắc mắc và đóng góp xin gởi về Khoa công nghệ may & Thời trang, trường Đại học công nghiệp thực phẩm số 140 Lê Trọng Tấn, P. Tây Thạnh, Q. Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh. Email: kcnmtt@hufi.edu.vn Thành phố HCM, ngày tháng Tác giả Ngô hoài Quang Trung Trang 1 năm 2022 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................................1 MỤC LỤC ......................................................................................................................2 CHỮ VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ ............................................................................3 DANH MỤC BẢNG BIỂU ........................................................................................... 4 DANH MỤC HÌNH ẢNH ............................................................................................. 5 CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC .....................................7 1.1. Các khái niệm ........................................................................................................... 7 1.2. Mục đích, ý nghĩa và tính chất của công tác bảo hộ lao động. ............................... 11 1.3. Công tác bảo hộ lao động ở nước ta. .................................................................... 144 1.4. Những nguyên nhân gây ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. ....................... 17 CHƯƠNG 2. KỸ THUẬT VỆ SINH LAO ĐỘNG. .................................................20 2.1. Vi khí hậu ................................................................................................................ 20 2.2. Tiếng ồn và rung động. ........................................................................................... 25 2.3. Chống bụi trong sản xuất ........................................................................................ 37 2.4. Thông gió trong công nghiệp .................................................................................. 40 2.5. Chiếu sáng trong sản xuất. ...................................................................................... 43 CHƯƠNG 3. KỸ THUẬT AN TOÀN ĐIỆN. .........................................................534 3.1. Những khái niệm cơ bản về an toàn điện................................................................ 54 3.2. Nguyên tắc phòng chống tai nạn điện ..................................................................... 60 CHƯƠNG 4. KỸ THUẬT AN TOÀN HÓA CHẤT ................................................66 4.1. Tác động hóa chất nguy hại. ................................................................................... 66 4.2. Biện pháp an toàn hóa chất. .................................................................................... 71 CHƯƠNG 5. KỸ THUẬT AN TOÀN CO KHÍ VÀ THIẾT BỊ CHỊU ÁP LỰC ..73 5.1. Kỹ thuật an toàn trong vận hành thiết bị cơ khí ...................................................... 73 5.2. Kỹ thuật an toàn đối với thiết bị chịu áp lực ........................................................... 84 CHƯƠNG 6. KỸ THUẬT PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY ...................................90 6.1. Mục đích của công tác PCCC. ................................................................................ 92 6.2. Văn bản PCCC của Nhà nước................................................................................. 92 6.3. Tính chất của công tác PCCC ................................................................................. 93 6.4. Các khái niệm ......................................................................................................... 94 6.5. Hệ thống phòng cháy và chống cháy. ..................................................................... 98 6.6. Các chất chữa cháy và dụng cụ chữa cháy ........................................................... 104 CHƯƠNG 7. QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH DỆT MAY. .................................................................................................110 7.1. Công tác huấn luyện an toàn lao động .................................................................. 110 7.2. Hội đồng bảo hộ lao động và Ban an toàn vệ sinh lao động ................................ 111 7.3. Chăm sóc sức khỏe và công tác sơ cứu tại nơi làm việc....................................... 117 7.4. Công thái học (Ergonomic) ................................................................................... 124 7.5. Ứng dụng 5S ....................................................................................................... 1241 7.6. SA-8000 ................................................................................................................ 124 TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................146 Trang 2 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may CHỮ VIẾT TẮT VÀ THUẬT NGỮ BHLĐ: Bảo hộ lao ATLĐ: An toàn lao động VSLĐ: Vệ sinh lao động BNN: Bệnh nghề nghiệp TNLĐ: Tai nạn lao động PCCC: Phòng cháy chữa cháy NSDLĐ: Người sử dụng lao động NLĐ: Người lao động ILO: International Labour Organization Trang 3 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2. 1 Các âm thanh tai nghe được. ................................................................... 26 Bảng 3. 1 Ngưỡng giá trị dòng điện Ing giới hạn gây tác hại lên cơ thể người. ....... 57 Bảng 3. 2 Điện áp và thời gian tiếp xúc cho phép. .................................................. 58 Bảng 3. 3 Tỉ lệ dòng điện qua tim. ........................................................................... 59 Bảng 3. 4 Ảnh hưởng của tần số dòng điện giật. ..................................................... 59 Bảng 5. 1 Ví dụ các nguy hiểm cơ khí ..................................................................... 74 Bảng 7. 1Ma trận rủi ro. ......................................................................................... 117 Bảng 7. 2 Yêu cầu về nguồn lực Y tế doanh nghiệp .............................................. 118 Bảng 7. 3 Quy định về các loại túi sơ cứu. ............................................................ 120 Bảng 7. 4 Quy định về túi sơ cứu. .......................................................................... 121 Bảng 7. 5 Phương tiện bảo vệ cá nhân ngành dệt, may. ........................................ 124 Trang 4 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 2. 1 Sự trao đổi nhiệt giữa người và môi rường……………………………..21 Hình 2. 2 Áp suất âm. .......................................................................................... ….27 Hình 2. 3 Cấu tạo tai. ............................................................................................... 28 Hình 2. 4 Nút tai giảm tiếng ồn. ............................................................................... 30 Hình 2. 5 Đường cong hình sin đặc trưng của rung động. ...................................... 32 Hình 2. 6 Sơ đồ hệ thống giảm rung: (a) chủ động và (b) bán chủ động. ............... 37 Hình 2. 7 Găng tay chống rung. .............................................................................. 37 Hình 2. 8 Các loại hệ thống hút bụi cục bộ ............................................................. 40 Hình 2. 9 Kết cấu nhà xưởng với hệ thống thông gió tự nhiên. ............................... 41 Hình 2. 10 Thông gió xuyên phòng. ......................................................................... 42 Hình 2. 11 Vị trí lắp đặt quạt hút .. .......................................................................... 43 Hình 2. 12 Độ chói trực tiếp và độ chói phản xạ. .................................................... 46 Hình 3. 1 Sự tiếp xúc điện trực tiếp. ........................................................................ 54 Hình 3. 2 Sự tiếp xúc điện gián tiếp. ........................................................................ 55 Hình 3. 3 Đường đi dòng điện giật. ......................................................................... 57 Hình 3. 4 Cách ly trạm biến áp. ............................................................................... 61 Hình 3. 5 Sơ đồ nối đất. ........................................................................................... 62 Hình 3. 6 Nối đất kết hợp cầu chì ngắt quá tải thiết bị............................................ 63 Hình 5. 1 Mối nguy do bị kẹt bởi không gian hẹp .................................................... 75 Hình 5. 2 Kích thước tối thiểu của không gian làm việc. ........................................ 76 Hình 5. 3 Bộ phần che chắn kim máy may. .............................................................. 79 Hình 5. 4 Cửa có khóa liên động trực tiếp............................................................... 80 Hình 5. 5 Khóa liên động cam. ................................................................................ 80 Hình 5. 6 Cơ cấu phòng ngừa áp dụng cho máy may. ............................................. 81 Hình 5. 7 Máy cắt cầm tay………………………………………………………………..82 Hình 5. 8 Máy cắt vòng….………………………………………………………………..83 Hình 5. 9 Máy may……….………………………………………………………………..84 Hình 5.10 Nồi hơi đốt vỏ trấu. ................................................................................. 88 Hình 5.11 Bàn ủi hơi cầm tay. ................................................................................. 90 Hình 5.12 Máy ủi-ép hơi nước. ................................................................................ 90 Hình 6. 1 Ba yếu tố sự cháy. .................................................................................... 94 Hình 6. 2. Dấu hiệu 4 yếu tố sự cháy. ...................................................................... 94 Hình 6. 3 Sơ đồ hệ thống báo cháy tự động. ............................................................ 99 Hình 6. 4 Số lượng và vị trí cửa thoát hiểm. .......................................................... 102 Hình 6. 5 Biển bào và đèn chiếu sáng từ bên ngoài. ............................................. 103 Hình 6. 6 Bình bọt chữa cháy................................................................................. 106 Hình 6. 7 Bình chữa cháy CO2. .............................................................................. 106 Hình 6. 8 Tủ chữa cháy. ......................................................................................... 107 Trang 5 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hình 7. 1 Tủ sơ cấp cứu. ........................................................................................ 120 Hình 7. 2 Phạm vi làm việc của cánh tay............................................................... 127 Hình 7. 3 Các vị trí làm việc tốt. ............................................................................ 128 Hình 7. 4 Kích thước ghế nghồi hợp lý. ................................................................. 129 Hình 7. 5 Tư thế nghồi làm việc hợp lý. ................................................................. 130 Hình 7. 6 Kệ, giá nhiều tầng. ................................................................................. 131 Hình 7. 7. Kệ, giá có bánh xe. ................................................................................ 132 Hình 7. 8 Xe đẩy đa năng. ...................................................................................... 132 Hình 7. 9 Giữ khoảng cách chân xa nhau khi nâng vật nặng. .............................. 133 Hình 7. 10 Tư thế nâng vật nặng qua khỏi vai. ...................................................... 134 Hình 7. 11 Phương tiện cơ giới trong sắp xếp kho. ............................................... 134 Hình 7. 12 Sử dụng xe đẩy vải. .............................................................................. 135 Hình 7. 13 Sử dụng găng tay bảo vệ. ..................................................................... 136 Hình 7. 14 Tư thế cơ thể và tay không tự nhiên. .................................................... 137 Hình 7. 15 Bàn máy may có bộ phận đỡ khuỷu tay. .............................................. 139 Hình 7. 16 Khu vực kiểm tra có đủ sáng. ............................................................... 140 Hình 7. 17 Thao tác ủi cong người. ....................................................................... 141 Hình 7. 18 Kê đủ thêm chiều cao cho người có tầm vóc thấp hơn. ...................... 141 Hình 7. 19 Phương tiện bảo vệ khi phun cát denim. .............................................. 142 Trang 6 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Chương 1 Những vấn đề chung về công tác bảo hộ lao động 1.1. Các khái niệm 1.1.1. Điều kiện lao động Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế, tự nhiên, thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, năng lực của người lao động và sự tác động qua lại giữa các yếu tố đó tạo nên điều kiện làm việc của con người trong quá trình lao động sản xuất. Để có thể làm tốt công tác bảo hộ lao động thì phải đánh giá được các yếu tố điều kiện lao động, đặc biệt là phải phát hiện và xử lý được các yếu tố không thuận lợi đe dọa đến an toàn và sức khoẻ người lao động trong quá trình lao động. Các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện lao động gồm: đối tượng lao động, tư liệu lao động. Đối tượng lao động và tư liệu lao động gọi chung là tư liệu sản xuất. Các yếu tố này kết hợp thành quá trình lao động để tạo ra của cải vật chất cần thiết cho xã hội. Trong quá trình sản xuất, lao động dù thủ công hoặc cơ khí, dù đơn giản hay phức tạp đều có thể phát sinh ra các yếu tố nguy hiểm và có hại. Các yếu tố này tác động vào cơ thể con người, có thể gây chấn thương, nhiễm độc, gây bệnh tật kết quả làm con người giảm khả năng lao động hoặc mất khả năng lao động. 1.1.2. Các yếu tố nguy hiểm và có hại thường gặp trong sản xuất ➢ Truyền động và chuyển động Các bộ phận truyền động máy (dây curoa, bánh răng, trục truyền) và sự chuyển động của bản thân máy có khả năng gây chấn thương khi bị quấn, kẹp, đè bất kỳ bộ phận nào của cơ thể đặc biệt là tóc hay chân. ➢ Vật rơi, vật đổ Vật rơi, vật đổ là kết quả của trạng thái vật chất không bền vững và không ổn định gây ra tác động vào con người sẽ gây hậu quả lớn (công trình xây dựng bị sập đổ, rơi; vật đang nâng hạ…) ➢ Vật văng bắn. Thường là các mảnh dụng cụ, vật gia công văng ra (mảnh đá mài, mảnh gỗ khi xẻ bằng máy cưa đĩa, phoi tiện…) hoặc đất đá văng bắn khi nổ mìn, có động năng lớn. ➢ Dòng điện Dòng điện với điện áp trên 1.000 Vol, khi tiếp xúc với con người sẽ gây ra cháy, bỏng lập tức. Dòng điện với điện áp nhỏ hơn 1.000 Vol khi tiếp xúc với cơ Trang 7 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may thể gây kích thích các tế bào khi tới một điện áp nào đó sẽ gây kích thích mạnh hệ thống cơ bắp, hô hấp, tim mạch. Trị số điện áp đủ lớn sẽ làm tê liệt toàn bộ các hệ thống hô hấp, tim mạch. Tuy vậy chưa thể khẳng định là con người sẽ chết vì nếu được kịp thời cấp cứu đúng phương pháp vẫn có thể cứu sống được. Như vậy điện áp an toàn là điện áp khi tiếp xúc với cơ thể con người sẽ không gây ra những ảnh hưởng đáng kể các hệ thống cơ bắp, hô hấp và tim mạch. Tuỳ theo môi trường làm việc người ta chia điện áp thành 3 cấp: hạ áp, trung áp và cao áp. ➢ Nguồn nhiệt. Các nguồn nhiệt trong sản xuất có thể là hơi nước, kim loại nóng chảy, ngọn lửa… Nguồn nhiệt không chỉ gây cháy bỏng cơ thể con người mà còn là nguồn gây ra cháy nổ. ➢ Cháy nổ. - Cháy là phản ứng hoá học xảy ra nhanh chóng, có kèm theo sự phát nhiệt và phát quang. Quá trình cháy chỉ xảy ra khi đã có ba điều kiện: chất cháy, nguồn nhiệt thích ứng, nguồn oxy đầy đủ. - Nổ hoá học là sự biến đổi về hoá học của các chất diễn ra trong một thời gian rất ngắn với một tốc độ rất lớn, nhiệt độ cao, áp lực lớn kèm theo tiếng nổ. Các chất nổ thường ở dạng khí, hơi và rắn. Mỗi chất nổ chỉ có thể nổ trong một tỷ lệ nồng độ nhất định, gọi là giới hạn nổ. Trong khoảng giới hạn đó thì hỗn hợp của chúng với oxy sẽ bị nổ ngay khi có lửa. Ví dụ C2H2 (Axêtylen) có giới hạn mở từ 2,5 – 80 trên một đơn vị thể tích. Nghĩa là trong một đơn vị thể tích khí C2H2 chiếm từ 2,5 – 80 thì hỗn hợp này sẽ nổ ngay tức khắc khi có mồi lửa. Các chất khi nổ hoá học sẽ tạo ra áp suất lớn, có thể công phá vật chất xung quanh nó. - Nổ vật lý là dạng nổ xảy ra khi các thiết bị có áp suất (nồi hơi, bình chịu áp lực) vượt quá giới hạn bền của vật liệu làm thiết bị. Nguyên nhân do sử dụng quá áp suất quy định hoặc độ bền của thiết bị không đủ lớn. - Vật liệu nổ. Chất nổ khi nổ sinh ra công rất lớn, phá huỷ và làm văng các vật chất ở tại đó, đồng thời gây sóng xung kích không khí và chấn động trên bề mặt đất trong phạm vi bán kính nhất định. Như vậy khi nổ chất nổ sẽ kèm theo 4 dạng nguy hiểm: - Phá huỷ vật chất tại chỗ. - Văng bắn. - Sóng xung kích không khí. - Chấn động. Trang 8 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Tuỳ theo khối lượng chất nổ, phương pháp nổ, dạng nổ mà mức độ nguy hiểm của từng dạng nguy hiểm nói trên sẽ gây tác động khác nhau (vật nổ trên mặt đất, vật nổ dưới sâu…) ➢ Chất độc công nghiệp: Trong quá trình sản xuất của các cơ sở sản xuất hóa chất như thuốc trừ sâu, sản xuất giấy v.v… ➢ Bụi công nghiệp Bụi là tập họp nhiều hạt có kích thước nhỏ bé tồn tại trong không khí dưới dạng bụi bay, bụi lắng. Bụi gây ra các bệnh về đường hô hấp, bệnh ngoài da, chấn thương mắt, bụi độc còn gây bệnh bụi phổi. Về kỹ thuật an toàn, bụi dẫn điện làm giảm tác dụng cách điện của thiết bị điện, bụi làm mài mòn máy móc thiết bị, bụi gây nguy hiểm và cháy nổ. ➢ Tiếng ồn và rung động: - Tiếng ồn: tập hợp các âm thanh khác nhau về cường độ và tần số không có nhịp gây cho con người cảm giác khó chịu. Tiếng ồn nói chung là những âm thanh gây khó chịu cho con người khi làm việc và nghỉ ngơi. Dưới tác dụng của tiếng ồn có tần số cao làm giảm độ nhạy của thính giác, nếu kéo dài làm kích thích mạnh hệ thần kinh trung ương từ đó tác động lên các cơ quan khác của cơ thể làm độ phản xạ giảm, dễ nhầm lẫn khi thao tác kỹ thuật, ngoài ra còn gây rối loạn mạch máu, nhịp tim và dạ dày. Các yếu tố nguy hiểm và có hại luôn tiềm ẩn các nguy cơ trong bất cứ ngành sản xuất công nghiệp nào. Hậu quả của nó có thể gây chấn thương khi xảy ra TNLĐ hoặc tác động lâu dài gây ra các chứng BNN cho người lao động. 1.1.3. Tai nạn lao động. Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra do các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong lao động gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong trong quá trình lao động. TNLĐ xảy ra khi thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (trong giờ làm việc, chuẩn bị hoặc thu dọn sau khi làm việc). Tai nạn lao động tại nơi làm việc là một sự cố đột ngột do nguyên nhân bên ngoài dẫn đến thương tật hoặc tử vong và diễn ra tại các thời điểm sau: - Trong khi người lao động thực hiện các nhiệm vụ thường nhật của mình hoặc các yêu cầu của cấp trên. - Trong khi người lao động thực hiện các hoạt động vì lợi ích của người sử dụng lao động. Trang 9 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Trong khi người lao động trên đường đi thực hiện nhiệm vụ lao động, bao gồm cả việc đi lại giữa địa điểm kinh doanh của người sử dụng lao động và nơi thực hiện nhiệm vụ. Vì vậy các trường hợp tai nạn xảy ra đối với người lao động khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi làm việc về nơi ở và khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết mà luật lao động và nội quy lao động của cơ sở cho phép (như nghỉ giải lao, ăn cơm giữa ca, ăn bồi dưỡng, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh) đều được xác định là tai nạn lao động. Tất cả các nhiệm vụ lao động trên phải được thực hiện ở địa điểm và thời gian hợp lý. Một tai nạn diễn ra trong quá trình thực hiện các hoạt động không liên quan đến nhiệm vụ lao động không được coi là một tai nạn lao động. 1.1.4. Bệnh nghề nghiệp. - Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động tới người lao động. - Bệnh mắc phải do tiếp xúc với các yếu tố có hại trong công việc. Bệnh nghề nghiệp nói chung có thể được phân thành bốn nhóm chính, đó là: Bệnh nghề nghiệp do yếu tố vật lý. Nhóm bệnh nghề nghiệp này do phải tiếp xúc với các hiện tượng vật lý, chẳng hạn như tiếng ồn, bức xạ và rung động, cùng với nhiệt độ và áp suất khắc nghiệt, ánh sáng không đủ và các hạt trong không khí, chẳng hạn như bụi. Tiếp xúc với những rủi ro vật lý có thể dẫn đến một loạt các tình trạng, bao gồm cả thính giác do tiếng ồn gây ra mất mát, đột quỵ nhiệt, bệnh bức xạ, bệnh giảm áp, bệnh bụi phổi, ngón tay trắng do rung và đục thủy tinh thể nhiệt. Bệnh nghề nghiệp do hóa chất. Nhóm bệnh nghề nghiệp này do tiếp xúc với các chất hóa học được phân loại là 'độc hại', 'ăn mòn', "có hại" và "kích thích" có thể dẫn đến tử vong hoặc ung thư nghề nghiệp. Viêm da là một dấu hiệu thường thấy của việc tiếp xúc với các hóa chất độc hại. Bệnh nghề nghiệp do yếu tố sinh học. Một số loại công việc, ví dụ như trong nông nghiệp và bệnh viện, phòng thí nghiệm, có thể khiến mọi người có nguy cơ tiếp xúc với vi khuẩn, vi rút và các vi sinh vật có hại khác. Một số bệnh mắc phải, chẳng hạn như bệnh than và brucellosis, có thể truyền từ động vật sang người (vi rút từ động vật). Ergonomic (Công thái học): Ảnh hưởng đến những người có vị trí công việc được thiết kế không hợp lý. Các chuyển động quá mức và lặp đi lặp lại của các khớp, có thể dẫn đến mệt mỏi thị giác, mệt mỏi, căng thẳng về thể chất và tinh thần. Điều này có thể dẫn đến các bệnh lý như chuột rút của người thường xuyên cầm viết, các rối loạn nhịp đập, Trang 10 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may sưng khuỷu tay và sưng cổ tay, nhóm các rối loạn được gọi là 'rối loạn chi trên liên quan đến công việc' hoặc chấn thương căng thẳng lặp đi lặp lại. Các bệnh phát sinh từ các hoạt động thủ công, chẳng hạn như thoát vị đĩa đệm (đĩa đệm bị trượt), căng cơ và dây chằng v.v… - Danh mục các loại bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động – Thương binh Xã hội ban hành sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động. Văn bản chính thức là Thông tư liên tịch số 08/1998/TTLT-BYT-BLÐTBXH ngày 20/4/1998 của Liên Bộ Y tế - Lao động, Thương binh & Xã hội. 1.2. Mục đích, ý nghĩa và tính chất của công tác bảo hộ lao động. Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần cho xã hội. Trong hoạt động sản xuất thì con người vừa là đối tượng lao động vừa là chủ thể của hoạt động này. Lao động có năng suất, hiệu quả, chất lượng là nhân tố quyết định cho cho sự phát triển bền vững của mọi hình thái xã hội. Điều này không tách rời cách thức lao động an toàn. Trong quá trình lao động người lao động luôn đối mặt với các yếu tố nguy hiểm, có hại, nhất là lao động trong các ngành sản xuất công nghiệp là một lĩnh vực đa ngành phức tạp về mặt kĩ thuật, luôn chứa đựng nhiều yếu tố nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe người lao động. Các nền sản xuất phát triển quy mô về trang bị kĩ thuật, về quá trình công nghệ luôn kèm theo yếu tố nguy hiểm và có hại. Chính vì lẽ đó, pháp luật đã quy định và điều chỉnh các chính sách bảo hộ lao động nhằm bảo vệ con người trong quá trình lao động là chủ thể và động lực của mọi hoạt động xã hội. 1.2.1. Mục đích Mục đích của bảo hộ lao động là thông qua các biện pháp về khoa học kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong quá trình sản xuất; tạo nên một điều kiện lao động thuận lợi và ngày càng được cải thiện để ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. BHLĐ trước hết là phạm trù sản xuất, do yêu cầu của sản xuất và gắn liền với quá trình sản xuất nhằm bảo vệ yếu tố năng động, quan trọng nhất của lực lượng sản xuất là người lao động, bảo vệ người lao động vừa là đối tượng vừa là chủ thể nguồn nhân lực tham gia vào quá trình sản xuất. BHLĐ là công tác cần thiết nhằm phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và từng bước cải thiện điều kiện lao động. Công tác BHLĐ tốt sẽ tiết kiệm được tiền bạc do tăng năng suất lao động, giảm chi phí giải quyết hậu quả, tai nạn, bệnh tật, sự cố… Làm tốt công tác BHLĐ sẽ tăng được tín nhiệm của khách hàng và mở rộng thị trường để phát triển sản xuất. Trang 11 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 1.2.2. Ý nghĩa 1.2.2.1. Ý nghĩa chính trị. Bảo hộ lao động là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Trong từng thời kỳ, Đảng và Nhà nước đã có chính sách Bảo hộ lao động thiết thực nhằm bảo vệ người lao động, xác định BHLĐ là nhiệm vụ không thể thiếu được trong các dự án, thiết kế, triển khai sản xuất. Thực hiện công tác BHLĐ nói chung, kỹ thuật an toàn nói riêng biểu hiện bản chất ưu việt của chế độ XHCN là quý trọng lao động, coi người lao động là vốn quý nhất. 1.2.2.2. Ý nghĩa xã hội. Bảo hộ lao động trước hết là phạm trù sản xuất, do yêu cầu của sản xuất và gắn liền với quá trình sản xuất nhằm bảo vệ yếu tố năng động, quan trọng nhất của lực lượng sản xuất là người lao động. An toàn lao động vừa là yêu cầu thiết thân của sản xuất đồng thời là yêu cầu, là nguyện vọng chính đáng của người lao động. Tai nạn lao động, sự cố thiết bị… không xảy ra thì xã hội sẽ giảm được những tổn thất. 1.2.2.3. Ý nghĩa về kinh tế. Thực hiện các biện pháp kĩ thuật an toàn theo đúng quy phạm, tiêu chuẩn, quy trình sẽ bảo đảm cho thiết bị máy móc nhà xưởng sử dụng được lâu hơn. không bị sự cố hư hỏng, sẽ nâng cao năng suất sử dụng thiết bị bảo vệ được tài sản cố định, đồng thời cũng tránh được những tai nạn lao động đáng tiếc. Khi tai nạn lao động xảy ra dù nhẹ hay nặng đều gây thiệt hại đáng kể (người lao động nghỉ do tai nạn, tiền thuốc, tiền bồi dưỡng…) Sự cố thiết bị có thể gây ngưng sản xuất làm ảnh hưởng tới kế hoạch sản xuất. Trong phạm vi thế giới, đối với các nước nhập khẩu là yêu cầu quan trọng và người tiêu dùng (vấn đề bảo đảm vệ sinh an toàn lao động đối với sản phẩm), yêu cầu các sản phẩm không những có chất lượng mà còn phải được sản xuất trong một môi trường bảo đảm an toàn sức khỏe cho người lao động. Vì thế công tác bảo hộ lao động giữ một vị trí quan trọng liên quan và gắn bó mật thiết với mọi lĩnh vực của nền kinh tế nói chung và cuộc sống của mỗi con người trong xã hội nói riêng. 1.2.3. Tính chất của công tác bảo hộ lao động 1.2.3.1. Tính chất pháp luật Những quy định và nội dung về BHLĐ được thể chế hoá thành những luật lệ, chế độ chính sách, tiêu chuẩn và được hướng dẫn cho mọi cấp mọi ngành, mọi tổ chức và cá nhân nghiêm chỉnh thực hiện. Những chính sách, chế độ, quy phạm, tiêu chuẩn, được ban hành trong công tác bảo hộ lao động là luật pháp của Nhà nước. Trang 12 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Tính chất pháp luật thể hiện ở các quy định cụ thể về kĩ thuật (quy phạm, tiêu chuẩn, quy trình về kĩ thuật an toàn) về tổ chức, trách nhiệm, về thể lệ, chế độ bảo hộ an toàn lao động. Những quy định trên bắt buộc mọi người có trách nhiệm phải tuân theo nhằm bảo vệ người lao động và tài sản của xã hội. Mọi vi phạm dẫn đến tai nạn lao động, sự cố thiết bị đều là những hành vi vi phạm pháp luật về bảo hộ lao động. Các quy phạm và tiêu chuẩn kĩ thuật an toàn có tính bắt buộc không thể châm chước hoặc hạ thấp các yêu cầu và biện pháp đã quy định, đòi hỏi phải được thi hành nghiêm túc, do ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng con người và tài sản 1.2.3.2. Tính chất khoa học kĩ thuật: Mọi hoạt động của bảo hộ lao động nhằm loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại, phòng tai nạn và các bệnh nghề nghiệp... đều xuất phát từ những cơ sở của khoa học kỹ thuật. Các hoạt động điều tra khảo sát phân tích điều kiện lao động, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố độc hại đến con người để đề ra các giải pháp chống ô nhiễm, giải pháp đảm bảo an toàn đều dựa trên các cơ sở khoa học kỹ thuật. Sự vận dụng khoa học kỹ thuật vào công tác bảo hộ lao động ngày càng nhiều dẫn đến thay đổi về bản chất của lao động. Những nguy hiểm độc hại dần dần được giảm nhẹ và loại trừ. Để có các biện pháp an toàn lao động đầy đủ, loại trừ tai nạn lao động, người ta phải tiến hành nghiên cứu các quá trình phát sinh, các yếu tố nguy hiểm có hại và sự tác động của chúng đối với con người. Đồng thời phải đưa ra các biện pháp về tổ chức thực hiện. Những công việc phức tạp đó phải được tiến hành trên cơ sở của nhiều môn khoa học. Vì vậy, công tác bảo hộ lao động mang tính chất khoa học tổng hợp. 1.2.3.3. Tính quần chúng: Bảo hộ lao động là hoạt động hướng về cơ sở sản xuất và con người, trước hết là người trực tiếp lao động. Nó liên quan với quần chúng lao động, bảo vệ quyền lợi và hạnh phúc cho mọi người, mọi nhà, cho toàn xã hội. Vì thế bảo hộ lao động luôn mang tính quần chúng. Quần chúng lao động là người trực tiếp thực hiện quy trình, quy phạm và các biện pháp kĩ thuật an toàn. Vì vậy chỉ có quần chúng tự giác thực hiện mới ngăn ngừa được tai nạn lao động và sự cố thiết bị. Hàng ngày, hàng giờ người cán bộ công nhân trực tiếp làm việc tiếp xúc với quá trình sản xuất với thiết bị máy móc và đối tượng lao động. Như vậy chính họ là người có khả năng phát hiện các yếu tố nguy hiểm và có hại trong sản xuất, đề xuất các biện pháp giải quyết hoặc tự mình giải quyết. Trang 13 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 1.3. Công tác bảo hộ lao động ở nước ta. 1.3.1. Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác bảo hộ lao động. Xuất phát từ sự phân tích ý nghĩa, lợi ích và yêu cầu khách quan của công tác BHLĐ, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra các chủ trương đúng đắn và đặt công tác bảo hộ lao động thành chính sách lớn trong từng thời kỳ. Nhất là trong công cuộc đổi mới hiện nay, Nhà nước đã ban hành hệ thống pháp luật hoàn thiện và đầy đủ về chính sách bảo hộ lao động. 1.3.1.1. Bộ luật lao động * Bộ Luật Lao Động 1994. Bộ Luật lao động của nước CHXHCN Việt Nam được Quốc hội khóa 9 thông qua ngày 23/06/1994. Ngày 5-7-1994 Chủ tịch nước đã công bố Bộ luật này và có hiệu lực bắt đầu từ ngày 01/01/1995. Trong đó, chương IX là chương An toàn, Vệ sinh lao động gồm 14 điều (Từ điều 95 đến điều 108). Ngoài ra, còn có các điều khác liên quan đến ATVSLĐ như: - Điều 29, Chương IV: quy định hợp đồng lao động ngoài nội dung khác phải có nội dung điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động. - Điều 39, Chương IV: quy định người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi người lao động bị ốm đau hay bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của thầy thuốc. - Điều 46, Chương V: quy định một trong những nội dung chủ yếu của thỏa ước tập thể là ATLĐ, vệ sinh lao động. - Điều 68, Chương VII: quy định rút ngắn thời gian làm việc đối với những người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. - Điều 69, Chương VII: quy định giới hạn số giờ làm thêm trong một ngày và trong một năm. - Điều 71, Chương VII: quy định thời gian nghỉ phép năm đối với những người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. - Điều 74, Chương VII: quy định các hình thức xử lý người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong đó có vi phạm nội dung ATVSLĐ - Điều 84, Chương VIII: quy định thời gian nghỉ phép năm đối với những người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. - Điều 113, Chương X: quy định không được sử dụng lao động nữ làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Trang 14 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Điều 143, mục 1 ChươngXII: quy định việc trả lương chi phí cho người lao động trong thời gian điều trị do bị tai nạn, hoặc bệnh nghề nghiệp - Điều 143, mục 2 ChươngXII: quy định chế độ tử tuất, trợ cấp thêm một lần cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp * Bộ luật lao động điều chỉnh, bổ sung. - Ngày 02/04/2002 Quốc hội đã có Luật Quốc hội số 35/2002 về sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật lao động. - Ngày 11/04/2007 Chủ tịch nước đã công bố luật số 02/2007/L-CTN về luật sửa đổi bổ sung điều 73 của Bộ luật lao động. Theo đó từ ngày 10/3 Âm lịch năm 2007 người lao động được nghỉ thêm 01 ngày nhằm ngày Giỗ tổ Hùng Vương. Như vậy tổng các ngày nghỉ lễ, tết trong năm là 9 ngày. - Bộ luật lao động điều chỉnh năm 2012 số 10/2012/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2012. 1.3.1.2. Một số luật khác và văn bản liên quan đến An toàn vệ sinh lao động và Bảo hộ lao động - Luật bảo vệ môi trường năm 2005 (thay thế luật bảo vệ môi trường 1995) chương V có đề cập đến vấn đề đáp ứng cảnh quan môi trường bảo vệ sức khỏe người lao động. Cơ sở sản xuất phải có giải pháp giảm thiểu bụi, khí thải, khí độc ra môi trường xung quanh và người lao động. - Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân (1989) với các điều 9,10,14 đề cập đến vấn đề vệ sinh trong sản xuất, bảo quản và vận chuyển hóa chất, vệ sinh các chất thải trong công nghiệp và trong sinh hoạt, vệ sinh lao động. - Luật công đoàn năm 1990 quy định trách nhiệm và quyền công đoàn trong công tác bảo hộ lao động. Phối hợp nghiên cứu ứng dụng khoa học BHLĐ, xây dựng tiêu chuẩn quy phạm ATLĐ, VSLĐ; tuyên truyền giáo dục BHLĐ cho người lao động, tham gia điều tra tai nạn lao động tại cơ sở. Một số văn bản pháp quy Nhà nước liên quan đến công tác an toàn vệ sinh lao động. - Nghị Định 06/CP, ngày 20/01/1995 V/v quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động về An toàn lao động, Vệ sinh Lao động - Thông tư liên bộ số 20/TT-LB ngày 24/9/1992 của Liên Bộ LĐ-TB và XH,Y tế về quy định chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật trong điều kiện có yếu tố độc hại. - Nghị định số 12/CP ban hành ngày 26/1/1995 của Chính phủ về việc ban hành điều lệ bảo hiểm xã hội. - Nghị định số 38/CP ngày 25/6/1996 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động. Trang 15 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Nghị định của Chính phủ số 26/CP ngày 24/6/1996 quy định xử phạt vi phạm môi trường. - Thông tư số 13/BYT ngày 21/10/1996 của Bộ y tế hướng dẫn thực hiện quản lý VSLĐ quản lý sức khỏe người lao động và bệnh nghề nghiệp. - Thông tư số 22/TT-LĐTBXH của Bộ Lao động thương binh và xã hội hướng dẫn việc khai báo, đăng ký và xin cấp giấy phép sử dụng các loại máy, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ. - Thông tư số 11/LĐTBXH/TT ngày 7/4/1997 hướng dẫn áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội đối với người làm nghề hoặc công việc thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm. 1.3.1.3. Luật An toàn, vệ sinh lao động Luật An toàn, vệ sinh lao động được Quốc hội thông qua ngày 25 tháng 06 năm 2015. Kể từ thời điểm này luật được áp dụng phổ biến trong công tác BHLĐ thay vì Luật lao động với một số lý do như sau: Thứ nhất, nội dung ATVSLĐ được quy định trong Bộ luật lao động phân tán tại nhiều văn bản pháp luật khác như Luật bảo hiểm xã hội, Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa... gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng Thứ hai, việc đưa vào sản xuất và sử dụng các máy, công nghệ, vật liệu mới ngoài những mặt tích cực, còn tiềm ẩn những nguy cơ về ATVSLĐ, nếu người lao động không được huấn luyện thích ứng, đòi hỏi phải có hướng dẫn kịp thời; Thứ ba, theo Bộ luật lao động 2012, tất cả những tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất đều phải tuân theo quy định của pháp luật về ATVSLĐ. Nói cách khác ở đâu có việc làm, có người lao động thì ở đó cần được bảo đảm về ATVSLĐ. Vì vậy, đối tượng điều chỉnh của công tác ATVSLĐ được nghiên cứu hướng đến không chỉ áp dụng với khu vực có quan hệ lao động mà cả những người không có quan hệ lao động; Thứ tư, chính sách hiện hành về ATVSLĐ chưa thu hút và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội đầu tư cho công tác ATVSLĐ cũng như phát triển các dịch vụ trong lĩnh vực này; Thứ năm, chính sách bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mới quy định việc giải quyết hậu quả thông qua chi trả chế độ cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà chưa quy định về việc phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chia sẻ rủi ro với người sử dụng lao động khi xảy ra các vụ tai nạn lao động nghiêm trọng. Trong khi công tác phòng ngừa tại nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được đặt lên hàng đầu, đang là xu thế chung, là chuẩn mực quốc tế cũng như yêu cầu nội luật hóa các Công ước của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) mà Việt Nam là thành viên. Trang 16 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 1.4. Những nguyên nhân gây ra tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. 1.4.1. Những nguyên nhân chung 1.4.1.1. Sự tiêu hao sức lao động và mệt mỏi trong lao động. Trong quá trình lao động sản xuất hàng hóa, con người sử dụng sức lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Sức lao động sẽ suy giảm theo thời gian trong ngày dẫn đến chất lượng lao động suy giảm theo. Chính điều này là nguy cơ tiềm ẩn xảy ra tai nạn lao động. Các hình thức tiêu hao sức lao động: Lao động thể lực: tính chất lao động thể lực thể hiện ở mức vận cơ. - Lao động não lực: tính chất lao động não lực thể hiện ở mức suy nghĩ, phân tích, tính toán. - Lao động căng thẳng, thần kinh tâm lý: tính chất lao động căng thẳng thần kinh tâm lý có liên quan đến tác động đều đều, đơn điệu, ráo riết, gây những kích thích hưng phấn quá mức ở một giác quan nhất định như thị giác, thính giác hoặc gây mệt mỏi thần kinh tâm lý. Mệt mỏi trong lao động Mệt mỏi là trạng thái mất cân bằng sinh lý tạm thời của cơ thể, nó được coi như hiện tượng bắt đầu có những rối loạn các phản ứng sinh lý, sinh hoá của cơ thể trong lao động song nếu được nghỉ ngơi sẽ trở lại bình thường không để lại di chứng gì. Trạng thái mệt mỏi được biểu hiện bằng dấu hiệu khó chịu, uể oải, chức năng sinh lý mất cân bằng, năng suất lao động giảm dễ xảy ra tai nạn lao động. Mệt mỏi các giác quan do những biến đổi cục bộ ở bộ não không có ý nghĩa toàn thân như: nhìn lâu mỏi mắt, vận cơ tĩnh đơn điệu, viết nhiều mỏi tay... Trạng thái mệt mỏi này dễ cải thiện khi ta thay đổi vận động sang bộ phận khác. Mệt mỏi toàn thân thường gặp trong lao động thể lực nặng mà cơ thể phải huy động khối lượng cơ hoạt động nhiều. Ví dụ: mang, vác, chạy, nhảy... Mệt mỏi não lực: là hiện tượng giảm khả năng hoạt động của tín hiệu thứ hai làm cho khả năng tư duy bị suy giảm. Các triệu chứng thông thường là nhức đầu, chóng mặt, mất ngủ, trương lực cơ giảm, suy nhược mạch, suy nhược thần kinh thực vật... Mệt mỏi tâm sinh lý, tinh thần: thường gặp ở những lao động kỹ thuật phức tạp đòi hỏi sự căng thẳng về tâm lý khách quan, trách nhiệm. Ví dụ: lái xe, đánh máy chữ, trực vô tuyến, ra đa. 1.4.1.2. Các nguyên nhân về tổ chức. - Bố trí thời gian làm việc không hợp lý: thời gian làm việc liên tục quá lâu, không nghỉ. Trang 17 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Bố trí công việc không hợp lý như: cường độ lao động quá cao không phù hợp với tình trạng sức khỏe của người lao động. Sự hoạt động quá khẩn trương làm căng thẳng các hệ thống cơ thể và các giác quan. - Bố trí chế độ làm việc, nghỉ ngơi không hợp lý. - Bố trí vị trí làm việc không hợp lý như: tư thế gò bó, không thoải mái, cúi lom khom, vặn mình… - Công cụ lao động không phù hợp với cơ thể và trọng lượng, hình dáng, kích thước. Nói chung hao phí lao động quá mức sẽ gây đến kết quả là cơ thể bị mệt mỏi, năng suất lao động giảm, thao tác kĩ thuật sai sót, nhầm lẫn. 1.4.1.3. Nguyên nhân liên quan đến quá trình sản xuất. - Các yếu tố vật lý: vi khí hậu, bức xạ điện từ, bức xạ cao tầng, tiếng ồn, bụi và chất độc trong sản xuất. - Các yếu tố vi sinh vật: vi khuẩn, vật vi khuẩn, nấm mốc gây bệnh. - Chất độc Các hoá chất công nghiệp và chất độc khác thường ở dạng lỏng, rắn, khí. Hoá chất và chất độc có thể xâm nhập vào cơ thể theo 3 đường: hô hấp, tiêu hoá và qua da. Tuỳ theo chất độc và liều lượng đi vào cơ thể mà có thể gây ra độc cấp tính hoặc mãn tính. - Nguyên nhân về điều kiện Kỹ thuật và An toàn, Vệ sinh lao động: + Bố trí hệ thống chiếu sáng không hợp lý + Làm việc ngoài trời với thời tiết xấu nóng về mùa hè, lạnh về mùa đông + Thiếu hệ thống thông gió, chống bụi, chống tiếng ồn, hút khí độc. + Thiếu trang bị phòng hộ lao động Từ những vấn đề đã nêu ra ta thấy tất cả các yếu tố nguy hiểm và các yếu tố có hại đều phát sinh từ các quy trình sản xuất, từ tư liệu lao động và đối tượng lao động và bất kỳ quá trình sản xuất nào cũng đều có thể tồn tại yếu tố này và yếu tố khác. Chúng tác động nên con người gây tai nạn lao động và sự cố thiết bị. 1.3.2. Các biện pháp đề phòng tác hại nghề nghiệp. a. Biện pháp kỹ thuật công nghệ Bằng cách cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cơ khí hóa, tự động hóa, hạn chế dùng hoặc thay thế các chất có độc tính cao. b. Biện pháp kỹ thuật vệ sinh: Trang 18 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Lắp đặt hoặc thay thế hệ thống thông gió, chiếu sáng, hút bụi v.v… để cải thiện điều kiện làm việc. c. Biện pháp phòng hộ cá nhân: Trang bị bảo hộ lao động gồm dụng cụ, thiết bị và quần áo tùy thuộc vào ngành sản xuất đặc thù. d. Biện pháp tổ chức lao động khoa học: Bằng cách thực hiện phân công lao động một cách hợp lý phù hợp với đặc điểm sinh lý của người lao động. e. Biện pháp y tế bảo vệ sức khỏe Bao gồm các công tác kiểm tra sức khỏe người lao động. Theo dõi sức khỏe người lao động thường xuyên và liên tục. Tiến hành giám định khả năng lao động và hướng dẫn tập luyện để phục hồi lại khả năng lao động cho những người bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp và bệnh mãn tính. Thường xuyên kiểm tra VSATLĐ, cung cấp đầy đủ nước uống, thức ăn đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Trang 19 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Chương 2 Kỹ thuật vệ sinh lao động. 2.1. Vi khí hậu 2.1.1. Khái niệm Vi khí hậu Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp của nơi làm việc bao gồm các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm không khí, bức xạ nhiệt và tốc độ chuyển động của không khí. Tất cả các thông sô vật lý này phải bảo đảm ở giới hạn nhất định để phù hợp với sinh lý lao động của con người (nhiệt độ 25 – 300, độ ẩm 75 – 80%, tốc độ chuyển động của không khí nơi làm việc 3m/giây…). Tuy nhiên điều kiện vi khí hậu trong sản xuất phụ thuộc vào tính chất của quá trình công nghệ và khí hậu địa phương. Các thông số vật lý của không khí tại nơi làm việc quá cao đều gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và khả năng lao động. 2.1.1.1. Nhiệt độ môi trường làm việc Nhiệt độ của không khí ảnh hưởng rất nhiều đến sự thoải mái. Nhiệt độ cao có thể gây rối loạn chức năng tâm sinh lý nghiêm trọng. Khi nhiệt độ môi trường tăng các triệu chứng sau có thể xuất hiện: sự không hài lòng, thiếu tập trung vào các hoạt động làm việc, gia tăng số lần mắc lỗi và giảm khéo léo trong các công việc đòi hỏi sự chính xác. Khi nhiệt độ tăng trên 30°C, rối loạn chức năng sinh lý xảy ra, bao gồm mất cân bằng chất lỏng- điện giải, quá tải lên tim và hệ tuần hoàn, và mệt mỏi đáng kể có thể dẫn đến đến suy kiệt sức lao động. 2.1.1.2. Vận tốc không khí Tiêu chuẩn cho phép vận tốc không khí tại nơi làm việc không vượt quá 3m/s, với vận tốc 5m/s gây kích thích bất lợi cho sức khỏe. Vận tốc không khí tại nơi làm việc được tạo ra từ hệ thống thông gió. Sự chênh lệch nhiệt độ trong phòng dẫn đến hiện tượng đối lưu là chuyển động không khí tự nhiên. Ngoài ra, sự chuyển động không khí còn được tạo ra bới các quạt thông gió. 2.1.1.3. Độ ẩm tương đối của không khí Độ ẩm tương đối của không khí ảnh hưởng đến sự thoải mái của người lao động. Ảnh hưởng của nó là lớn hơn trong nhiệt độ không khí cao hơn, nghĩa là, ở các giá trị cao hơn chuẩn cho phép sự thoải mái nhiệt, nó tạo ra sự đổ mồ hôi nhiều (ASHRAE 2005; S´liwowski 2000). Độ ẩm tương đối cao cản trở quá trình tản nhiệt từ bề mặt da và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn. Độ ẩm tương đối thấp trong phòng có thể gây khô da và màng nhầy mũi. Nó cũng có thể gây đau cổ họng và đau đầu và góp phần vào ô nhiễm không khí. Trang 20 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ không khí của môi trường ảnh hưởng đến cảm giác nhiệt của cơ thể người. 2.1.2. Ảnh hưởng của vi khí hậu 2.1.2.1. Sự cân bằng nhiệt độ. Quá trình trao đổi chất của cơ thể tạo ra nhiệt nội sinh, trong khi nhiệt ngoại sinh có nguồn gốc từ bên ngoài. Năng lượng sinh ra để một người thực hiện công việc là một ví dụ về yếu tố nội sinh. Các yếu tố ngoại sinh bao gồm khả năng chống truyền nhiệt qua quần áo và các thông số không khí chẳng hạn như nhiệt độ không khí, nhiệt độ bức xạ trung bình, áp suất hơi nước và vận tốc không khí. Tất cả những yếu tố này ảnh hưởng đến tốc độ tỏa nhiệt của cơ thể vào môi trường để duy trì thân nhiệt (tức là duy trì thân nhiệt ở mức tương đối ổn định 37 ± 0,3 ° C; Fanger đã phát triển phương trình cân bằng nhiệt và sau nhiều lần sửa đổi, hình thức của nó như sau: M-W = (C + R + Esk) + (Cres + Eres) + (Ssk + Scr) Hình 2.1 Sự trao đổi nhiệt giữa người và môi trường. Trong đó: Trang 21 (2.1) Giáo trình An toàn lao động trong dệt may M là tốc độ sinh nhiệt chuyển hóa (tính bằng Watt trên mét vuông [W/m2]), W là tốc độ hoàn thành công cơ học (W/m2), C + R là tốc độ thất thoát nhiệt đối lưu và bức xạ từ da (tổn thất nhiệt cảm nhận được; W/m2), Esk là tỷ lệ tổn thất nhiệt do bay hơi mồ hôi từ da (mất nhiệt tiềm ẩn; W /m2), Cres là tỷ lệ mất nhiệt đối lưu do hô hấp (W/m2), Eres là tỷ lệ mất nhiệt do bay hơi từ hô hấp (W/m2), Ssk là tốc độ lưu giữ nhiệt trên da (W/m2), Scr là tốc độ lưu giữ nhiệt trong cơ thể (W/m2) Ngoài các biến được trình bày trong phương trình cân bằng nhiệt, có nhiều các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng nhiệt và sự thoải mái tại nơi làm việc. Chúng được chia thành hai loại chính: a- Thông số môi trường: - Nhiệt độ không khí - Vận tốc không khí - Độ ẩm tương đối - Bức xạ nhiệt. b- Thông số cá nhân: - Cách nhiệt của quần áo. - Tỷ lệ trao đổi chất. - Độ tuổi. 2.1.2.2. Tác động của vi khí hậu. Nhìn chung người lao động làm việc thời gian dài trong điều kiện vi khí hậu lạnh và ẩm có thể mắc bệnh thấp khớp, viêm đường hô hấp trên, viêm phổi và làm cho bệnh lao nặng thêm. Vi khí hậu lạnh và khô làm cho rối loạn vận mạch thêm trầm trọng, gây khô niêm mạc, nứt nẻ da. Vi khí hậu nóng ẩm làm giảm khả năng bay hơi mồ hôi, gây ra rối loạn thăng bằng nhiệt, làm cho mệt mọi xuất hiện sớm, nó còn tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển, gây các bệnh ngoài da. Tác động đến hệ thống tuần hoàn Phản ứng cơ bản của cơ thể con người đối với môi trường nóng là giãn mạch, gia tăng lưu lượng máu đến da từ 5% (trong điều kiện thoải mái về nhiệt) lên đến 20% (trong môi trường rất nóng). Khi đó, cơ thể có thể truyền nhiều nhiệt hơn lên bề mặt da. Đồng thời, cơ thể kích thích các tuyến mồ hôi và tiết mồ hôi trên bề mặt da (Kociuba-Us´ciłko 2004; Krause 2000). Tiếp xúc lâu với môi trường nóng Trang 22 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may vượt quá khả năng thích ứng của cơ thể con người và có thể dẫn đến các phản ứng bất lợi như tăng nhịp tim (lên trên 140 nhịp mỗi phút), hạ huyết áp sau và cuối cùng là thiếu máu cục bộ ở các cơ quan nội tạng và suy sụp hệ tuần hoàn (Gwóz´ dz´ 2004). Trong môi trường lạnh, căng thẳng dẫn đến co mạch làm giảm lưu lượng máu dưới da và một số vùng của cơ thể, đặc biệt là vùng quanh miệng. Máu được dẫn đến các mạch máu nằm sâu hơn trong cơ thể, làm tăng lượng máu trung tâm và đôi khi gây ra sự gia tăng áp lực máu. Tác động tuyến mồ hôi. Khi nhiệt độ môi trường tăng, mồ hôi được tiết ra khắp cơ thể để tăng khả năng làm mát bằng cách bay hơi. Tuy nhiên, thể tích của chất lỏng cơ thể giảm do mất nhiệt. Để duy trì sự cân bằng chất lỏng-điện giải, mồ hôi tiết ra không nên vượt quá giá trị giới hạn 5% khối lượng cơ thể. Tác động cơ xương. Cơ thể con người phản ứng với môi trường lạnh bằng cách run rẩy và không sinh nhiệt. Các cơ xương phản xạ kích thích làm tăng tốc độ trao đổi chất, tạo nguồn nhiệt cho cơ thể con người. Do đó, sự căng thẳng của các cơ tăng lên, gây ra sự run tạo một nguồn nhiệt. Lượng nhiệt tạo ra bởi phản ứng này phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường và thời gian ảnh hưởng của nó. Trong điều kiện khắc nghiệt, tỷ lệ trao đổi chất cơ bản có thể tăng lên 4 hoặc thậm chí 5,5 lần. Rối loạn nhiệt Điều kiện nhiệt độ xung quanh khắc nghiệt và sự suy giảm cơ chế tạo nhiệt của cơ thể có thể gây mất nhiệt quá mức. Điều này dẫn đến việc làm mát cơ thể (giảm thân nhiệt) hoặc mất nhiệt không đủ dẫn đến quá nóng. Trong điều kiện lạnh, thân nhiệt giảm xuống dưới 35°C dẫn đến giảm hiệu suất làm việc, giảm sức co cơ và rối loạn thể chất và hành vi như là thời gian đáp ứng kéo dài. Hạ thấp nhiệt độ cơ thể giảm 10°C sẽ làm giảm độ chính xác của các chuyển động và làm cho việc duy trì thăng bằng trở nên khó khăn. Người làm việc trong những môi trường như vậy dần dần trở thành đờ đẫn và cơ chế bản năng tự sinh tồn của họ bị xáo trộn (Gwóz´ dz´Năm 2004). Hạ thân nhiệt dẫn đến giảm cung lượng tim và giảm thể tích gây đột quỵ. Sức đề kháng toàn thân mạch máu tăng lên. Khi nhiệt độ cơ thể giảm xuống 280 C, nguy cơ rung cơ thất tim dẫn đến dễ bị kích thích. Thân nhiệt giảm hơn nữa xuống 230 – 250 C có thể gây rối loạn chức năng của hệ thống tuần hoàn và hô hấp, mất ý thức, gan và thận suy, và mất cân bằng chất lỏng - điện giải trong cơ thể Trong môi trường nóng, khi mà lượng nhiệt được cơ thể hấp thụ hoặc tạo ra vượt quá lượng nhiệt mất đi, xảy ra hiện tượng tăng thân nhiệt. Những người mất Trang 23 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may nước bị rối loạn chức năng tiết mồ hôi có thể bị đột quỵ do nóng, có thể tử vong do sốc nhiệt ở nhiệt độ 42° C - 43° C. Sự mất cân bằng chất điện giải dẫn đến rối loạn chức năng của tiêu hóa và co rút các cơ xương. Tăng thân nhiệt có thể xảy ra ngay cả khi bài tiết mồ hôi đủ. Nó gây ra sự thờ ơ, mệt mỏi, thay đổi hành vi và sinh lý, và trong những trường hợp nghiêm trọng, tử vong do trụy tim mạch. Các nghiên cứu cho thấy rằng ở 40% nhân viên văn phòng, nhiệt độ cơ thể tăng lên chỉ 1°C đã gây ra sự gia tăng tới 60% số sai lầm mắc phải. Trong một trường hợp khác, số vụ tai nạn lao động xảy ra trong môi trường nóng bức tăng 18% –24% khi so sánh với môi trường nhiệt tiêu chuẩn. Công nhân giảm khả năng tập trung, sự khéo léo và phối hợp khi thực hiện các nhiệm vụ đòi hỏi độ chính xác. 2.1.3. Các biện pháp phòng chống vi khí hậu. 2.1.3.1. Biện pháp kỹ thuật: - Áp dụng tiến bộ khoa học để điều khiển từ xa, quan sát từ xa, tự động hóa các quá trình sản xuất nếu giới hạn cho phép của năng lượng tiêu hao là vượt quá tiêu chuẩn. - Cách nhiệt cho các thiết bị tỏa nhiều nhiệt. Lắp đặt hệ thống điều hòa nhiệt độ, đảm bảo thông thoáng nơi làm việc. Các giải pháp cho môi trường nóng bao gồm: + Đảm bảo công nhân thích nghi với nhiệt độ và lượng nước thất thoát được thay thế. + Cung cấp bổ sung nước muối (chế độ ăn kiêng ít natri) và cân bằng chất điện giải do đổ mồ hôi. + Thường xuyên thay quần áo bảo hộ lao động để loại bỏ nguy cơ nhiễm trùng da, vì vải cứng với muối tiết ra mồ hôi có thể làm hỏng lớp biểu bì (Krause 2000). + Kiểm tra y tế với công nhân và bắt buộc mặc quần áo bảo hộ. Đo lường khả năng tối đa hóa việc sử dụng oxy mỗi phút (Krause 2000), cho phép họ lựa chọn quần áo bảo hộ cá nhân phù hợp để làm việc. Các cuộc kiểm tra y tế nên thực hiện hàng năm. Các giải pháp cho môi trường lạnh bao gồm: + Cung cấp đồ uống nóng (trừ đồ uống có chứa caffein) và các bữa ăn nóng, nhiều calo. + Thay quần áo ướt bên trong do các thông số cách nhiệt của chúng giảm. 2.1.3.2. Biện pháp tổ chức. - Lập thời gian biểu cho các công đoạn sản xuất có tỏa nhiều nhiệt rải ra trong một ca sản xuất, bổ sung chế độ ăn uống, trang bị thêm bảo hộ lao động. Trang 24 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Làm việc theo nhóm gồm ít nhất hai người để đảm bảo sự giám sát lẫn nhau. - Đảm bảo tuân thủ các giới hạn thời gian làm việc và chu kỳ nghỉ ngơi trong công việc như đã đề cập trong các tiêu chuẩn. - Có thể cho người lao động nghỉ ngơi trong môi trường nắng nóng bằng cách giao nhiệm vụ với cường độ hoặc tải trọng thấp hơn so với nhiệm vụ công việc. - Đào tạo về các nguy cơ đối với sức khỏe do nhiệt gây ra. Tập huấn nên bao gồm các bài thuyết trình về các triệu chứng của căng thẳng nhiệt (say nắng, tê cóng, hạ thân nhiệt, v.v.), thông tin về ảnh hưởng tiềm tàng của thuốc về cảm giác nhiệt và hiệu quả của điều hòa phản ứng nhiệt, cũng như hướng dẫn sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân thích hợp. Giới thiệu hệ thống giám sát và kiểm soát để đảm bảo rằng người lao động thực hiện các khuyến nghị thích hợp. 2.2. Tiếng ồn và rung động. 2.2.1. Tiếng ồn 2.2.1.1. Khái niệm tiếng ồn Tiếng ồn là tập hợp các âm thanh khác nhau về cường độ và tần số không có nhịp gây cho con người cảm giác khó chịu, là sự dao động của áp suất không khí làm phát sinh các sóng áp suất xuyên qua bầu khí quyển. Khi truyền qua không khí, chúng sẽ tương tác theo nhiều cách khác nhau với môi trường xung quanh chúng. Tiếng ồn thường được gán cho các âm thanh không mong muốn hiện diện trong môi trường làm việc. Đăc trưng của tiếng ồn là áp suất âm và cường độ âm. Mô tả toán học về cách âm thanh hoạt động khi nó tương tác với chất rắn các đối tượng có thể rất phức tạp. Tuy nhiên, có thể mô tả đầy đủ về hành vi của âm thanh trong các tình huống đơn giản, được lý tưởng hóa và sử dụng chúng để xây dựng các tình huống thực tế hơn. Loại sóng âm thanh đơn giản nhất là âm thuần được mô tả theo toán học là dạng sóng hình sin- chuyển động theo một hướng mà không lan ra khi nó di chuyển ra khỏi nguồn. Vì vậy cách hiển thị âm thanh dễ dàng hơn bằng một biểu đồ của áp suất so với khoảng cách (áp suất âm). Ngay cả đối với âm thanh khá lớn, sự thay đổi áp suất thực tế là khá nhỏ. - Tần số sóng âm (Hz): là số lượng bước sóng/ một giây. Đơn vị của tần số là Hertz kí hiệu Hz. Âm cao có tần số cao, âm thấp sẽ có tần số thấp. Âm được coi là có thể nghe được đối với con người khi nằm trong khoảng từ 20 đến 20 000 Hz (hoặc 20 kHz). Khi con người già đi, họ mất đi khả năng nghe tần số cao. Trang 25 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Bảng 2.1. Các âm thanh tai nghe được. Tần số Ý nghĩa 20 Hz Thường được coi là tần số âm thanh thấp nhất 100 Hz Tiếng ồn chính phát ra từ một máy biến áp 30–4000 Hz Âm thanh phím đàn piano 250–1000 Hz Âm thanh giọng hát nữ 125–6000 Hz Dải tần số có trong giọng nói (giọng nam) 200–8000 Hz Dải tần số có trong giọng nói (giọng nữ) 20 000 Hz Thường được coi là tần số âm thanh cao nhất Mỗi sóng âm ở một tần số nhất định có một bước sóng tương ứng. Bước sóng là khoảng cách giữa các cực đại liên tiếp của một sóng và được tính bằng mét. Trong điều kiện bình thường, âm thanh nghe được có thể có bước sóng thay đổi từ vài cm đến vài mét. Ví dụ: ở 1 kHz, bước sóng sẽ là khoảng 34 cm. Ở tần số 100 Hz, bước sóng khoảng 3,4 m. Bước sóng và tần số của một sóng cụ thể liên quan với nhau bởi một phương trình: v=f * λ (2.2) Trong đó v là vận tốc sóng truyền đi (khoảng 340 ms-1 trong không khí ở nhiệt độ phòng); f là tần số; và λ là bước sóng. Phương trình trên có thể được viết lại thành (2.3) Các đại lượng đặc trưng của âm thanh gồm: - Áp suất âm (p): là áp suất dư trong trường âm, đơn vị của áp suất như: atmotphere, bar. - Cường độ âm (I): Là năng lượng sóng âm truyền vuông góc qua một diện tích có đơn vị là 1cm2 trong một giây. Đơn vị là w/cm2. Gọi I0 là cường độ âm vừa đủ có thể nghe được (gọi là cường độ âm chuẩn). - Mức cường độ âm: Thực tế để đo âm thanh người ta không dùng đơn vị đo lường là cường độ âm tuyệt đối mà sử dụng giá trị tương đối là tỷ số giữa nó với cường độ âm chuẩn khi đó logarit cơ số 10 được sử dụng: Trang 26 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may L = 10 lg I I0 (2.4) Trong đó: L- mức cường độ âm I – cường độ âm I0 – cường độ âm chuẩn ( I 0 = 10−12 W / m2 ) Trong hệ SI, đơn vị đo mức cường độ âm là Ben (B), tuy nhiên trong thực tế, người ta thường dùng đơn vị dexiben(dB) do giá trị của đại lượng này khá nhỏ. Hình 2.2. Áp suất âm 2.2.1.2. Phản ứng của cơ thể người đối với tiếng ồn. Tai là cơ quan thính giác của con người rất nhạy cảm. Nó cũng dễ bị tổn thương khi tiếp xúc vật lý. Tai nằm bên trong hộp sọ ở cuối một ống ngắn gọi là ống thính giác hoặc ống xương. Tiêu biểu, ở người lớn, dài khoảng 25–30 mm và có đường kính thay đổi giữa 5 và 8 mm. Bộ phận ống tai là một bộ phận thiết yếu của cơ quan thính giác. Khi nó bị chặn bởi ráy tai hoặc bằng nút tai, độ nhạy của tai có thể giảm đáng kể. Khi nó hoạt động bình thường, nó sẽ truyền sóng âm qua toàn bộ dải âm thanh và có xu hướng khuếch đại ở một mức độ nào đó những âm thanh có tần số trong vùng 3 kHz. Phần ống tai kết thúc tại màng nhĩ, hay còn gọi là tai trống. Đây là một lớp màng kéo dài qua đầu bên trong của ống tai và nó có xu hướng rung động để đáp ứng sóng áp suất truyền dọc theo nó. Màng nhĩ là mốc ranh giới giữa bên tai ngoài và tai giữa (Hình 2.3). Khoảng không ở giữa là một khoang chứa đầy không khí chứa ba Trang 27 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may xương nhỏ: xương đe, xương búa và xương bàn đạp. Chúng kết hợp cùng nhau để tạo thành một bộ đòn bẩy, với một đầu của búa tiếp xúc với trống tai. Khi trống tai rung động để phản ứng với sóng âm thanh truyền đến tai. Sự rung động này được truyền cho búa. Ở đầu kia của chuỗi, xa phần cuối của cái kiềng nằm trên cửa sổ hình bầu dục mà tạo thành ranh giới với tai trong. Mặc dù tai giữa thường được cách ly với bầu khí quyển, nhưng ống tai trong đươc nối với cổ họng, và ống này được mở ra khi nuốt cho phép áp suất bên trong tai giữa cân bằng với áp suất khí quyển bên ngoài. Hình 2.3. Cấu tạo tai. Khả năng nghe được âm thanh: Cách con người nhận thức và phản ứng với âm thanh là một chủ đề cần nghiên cứu. Đây là khía cạnh của tâm lý âm học, liên quan đến cách thức âm thanh ảnh hưởng đến thính giác và do đó có liên quan trực tiếp đến việc đánh giá tiếng ồn nơi làm việc. Dải tần số mà con người có thể nghe được thường được coi là từ 20 Hz đến 20 kHz (tức là 20.000 Hz). Tuy nhiên, đây là một sự đơn giản hóa bởi hai lý do: - Có rất nhiều sự khác biệt giữa các cá nhân. - Tai của mỗi người không nhạy cảm như nhau với tất cả các tần số. Ở tần số 1 kHz, một người trẻ trung bình có thể phát hiện ra âm thanh ở 0 decibel. Sự nhạy cảm của con người với các âm thanh có tần số khác nhau đã được nghiên cứu rộng rãi. 2.2.1.3. Phân loại tiếng ồn: a- Phân loại theo đặc tính: Trang 28 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Tiếng ồn cơ khí: sinh ra do sự chuyển động của các chi tiết hay bộ phận máy móc hoặc do quá trình gia công như rèn, dập … - Tiếng ồn khí động: sinh ra khi không khí, hơi chuyển động ở vận tốc cao như động cơ phản lực, máy nén khí, máy hơi nước v.v… - Tiếng nổ hoặc xung: sinh ra khi động cơ đốt trong làm việc. b- Phân loại theo dải tần số: - Tiếng ồn tần số cao: f > 1000 Hz. - Tiếng ồn tần số trung bình: f = 300 ÷ 1000 Hz. - Tiếng ồn tần số thấp: f < 300 Hz. Một số trị số gần đúng về mức ồn của một số nguồn: - Tiếng ồn va chạm (Xưởng rèn, đúc, gò - tán): 98 ÷ 117 dB - Tiếng ồn cơ khí (Máy tiện, bào, khoan): 93 ÷ 108 dB - Tiếng ồn khí động (Mô tô, máy bay phản lực): 105 ÷ 135 dB 2.2.1.4. Ảnh hưởng của tiếng ồn. Nếu cần ngăn ngừa tổn thương thính giác bằng cách hạn chế tiếp xúc với tiếng ồn nghề nghiệp, và cần thiết có một số hiểu biết nhất định về các mối quan hệ giữa mức áp suất âm thanh, tần số, thời gian tiếp xúc và mức độ thiệt hại gây ra. Tuy nhiên, khi xác định rằng có rủi ro đối với thính giác, để áp dụng mọi biện pháp hợp lý để ngăn chặn. Trong những năm 1960, rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để thiết lập mối quan hệ giữa tiếp xúc với tiếng ồn và thính giác do tiếng ồn gây ra. Vào thời điểm đó, tương đối dễ dàng tìm thấy những người đã từng làm việc tiếp xúc với mức ồn ổn định trong một thời gian dài. Những tác động do tiếng ồn quá mức có thể kể đến như sau: - Giảm thính lực do tiếng ồn. - Tiếng ồn tác động đến thần kinh trung ương ngay ở mức thấp 50 – 70 dB gây ra sự mệt mỏi nhất là đối với người lao động trí óc. - Tiếng ồn thay đổi hệ thống tim mạch, rối loạn nhịp tim. Tác dụng lâu dài có thể gây ra chứng đau dạ dày và cao huyết áp. - Độ nhạy cảm của thính giác giảm, ngưỡng nghe tăng lên. 2.2.1.5. Các biện pháp giảm tiếng ồn. Các phương pháp hiện đại để ngăn ngừa, loại bỏ hoặc hạn chế tiếp xúc với tiếng ồn là dựa trên việc áp dụng đồng thời các giải pháp kỹ thuật, hành chính và tổ chức, được lựa chọn dựa trên phân tích chi tiết về âm thanh điều kiện tại các máy có tiếng ồn quá mức. a- Các giải pháp kỹ thuật quan trọng nhất để hạn chế tiếng ồn bao gồm: Trang 29 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Sử dụng các quy trình công nghệ ít tiếng ồn. - Cơ giới hóa và tự động hóa các quy trình công nghệ bao gồm cả điều khiển từ xa và các thiết bị điều khiển tự động đối với máy ồn. - Xây dựng và ứng dụng các máy móc, thiết bị có độ ồn thấp hoặc không ồn. - Bố trí hợp lý của nhà máy và sự thích nghi của các phòng, có tính đến khía cạnh âm học. - Sử dụng các thiết bị kiểm soát tiếng ồn như bộ giảm thanh, thùng loa, màn hình và vật liệu và hệ thống hấp thụ âm thanh. - Sử dụng cách âm liên quan đến cấu trúc (bộ cách âm rung và nền móng cách âm của máy móc và thiết bị) b- Phòng chống ồn bằng phương tiện cá nhân: Giảm tiếng ồn bằng các dụng che chắn để hạn chế mức âm và rung động quá lớn đến tai. Sử dụng thiết bị bảo vệ thính giác là cách đơn giản và nhanh chóng nhất để bảo vệ thính giác cơ quan chống lại các tác động của tiếp xúc với tiếng ồn. Tuy nhiên, các thiết bị bảo vệ thính giác nên chỉ được sử dụng nếu tất cả các phương pháp tổ chức và kỹ thuật hiện có để hạn chế tiếng ồn ở nơi làm việc đã được áp dụng và vẫn vượt quá giá trị cho phép của tiếng ồn. Thiết bị bảo vệ thính giác gồm bịt tai và nút tai. Bịt tai có thể được đeo riêng biệt hoặc cố định vào mũ bảo hiểm. Nút tai có thể dùng một lần hoặc tái sử dụng. Các thiết bị bảo vệ thính giác được lựa chọn thích hợp sẽ bảo vệ cơ quan thính giác để Mức âm thanh không được vượt quá 80 dB. Thiết bị bảo vệ thính giác cho những nơi làm việc cụ thể được chọn dựa trên mức áp suất âm thanh trong quãng tám các dải tần số hoặc các mức âm thanh đo được tại các nơi làm việc. Ngoài việc lựa chọn thích hợp các thiết bị bảo vệ thính giác, người sử dụng lao động phải tập huấn cho nhân viên về cách sử dụng hợp lý các thiết bị bảo vệ này theo thông tin do nhà sản xuất cung cấp. Thông tin này bao gồm hướng dẫn cách lắp đặt đối với những người cần bảo vệ thính giác và các khuyến nghị liên quan đến thời lượng và phương pháp sử dụng và bảo quản chúng. Hình 2.4. Nút tai giảm tiếng ồn. Trang 30 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 2.2.2. Rung động 2.2.2.1. Khái niệm rung động Rung động là những dao động cơ học, sinh ra bởi sự dịch chuyển có chu kỳ đều đặn hoặc thay đổi của vật thể quanh vị trí của nó. Các máy, thiết bị, công cụ sử dụng các nguồn động lực khác nhau, khi làm việc đều phát sinh các dao động cơ học dưới dạng rung động. Khi máy móc và động cơ làm việc không chỉ sinh ra các dao động âm tai nghe được mà còn sinh ra các dao động cơ học dưới dạng rung động các vật thể và các bề mặt xung quanh. Các tham số vật lý của rung động có thể được đo lường và ảnh hưởng của chúng đến các đặc tính sinh học tâm sinh lý của con người được xác định bằng các nghiên cứu. Đôi khi rung động là nguồn thông tin phong phú về tình trạng kỹ thuật của thiết bị và máy móc ở nơi làm việc. Dưới góc độ an toàn lao động và bảo vệ sức khỏe, tác động rung động là một tập hợp các hiện tượng quan sát được tại các máy, tạo thành sự truyền năng lượng từ nguồn rung động đến cơ thể con người thông qua các bộ phận tiếp xúc khác nhau với nguồn dao động khi thực hiện nhiệm vụ công việc. Các đại lượng rung động liên quan gồm có: độ dịch chuyển (biên độ), vận tốc và gia tốc. Một thuật ngữ khác được áp dụng cho các mối nguy về âm thanh rung là tiếng ồn. Tín hiệu rung động thường là các dao động chu kỳ phức tạp bao gồm nhiều dao động điều hòa cơ bản. Tín hiệu rung có thể chứa một thành phần duy nhất của một tần số cụ thể (dao động hình sin); tuy nhiên, trong thực tế, rung động thường bao gồm nhiều thành phần hình sin hoặc thậm chí là một tổng của số vô hạn của chúng. Giá trị trung bình của một tín hiệu cho trước a (t) được xác định bởi biểu thức: (2.4) trong đó T là chu kỳ dao động tính bằng giây. Các đặc điểm của tín hiệu âm rung được thể hiện trong như hình 2.4. Trong đo lường ảnh hưởng sự rung động, gia tốc rung động là yếu tố quan trọng. Dễ dàng thấy rằng đối với dao động hình sin đơn giản, gia tốc rung động cũng có dạng hình sin và giá trị của gia tốc tức thời của dao động được biểu thị bằng biểu thức sau: (2.5) Trang 31 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Trong đó: apeak : giá trị gia tốc tối đa (cao điểm) tính bằng mét trên giây bình phương (m/s2), t: thời gian tính bằng giây, T: chu kỳ dao động tính bằng giây, và f =1/T : tần số tính bằng hertz. Hình 2.5. Đường cong hình sin đặc trưng của rung động. Các thông số rung động có thể được đo bằng cách sử dụng gia tốc kế có thể đo được giá trị về gia tốc, vận tốc hoặc dịch chuyển. Có nhiều loại gia tốc kế và liên kết thiết bị đo có sẵn có thể cho phép đọc tín hiệu tương tự hoặc kỹ thuật số hoặc có thể được đưa vào hệ thống phân tích trên máy tính. Đối với âm thanh, thành phần rung động sẽ được đo ở các tần số cụ thể hoặc hơn một dải tần số Phân tích phổ rung động được thực hiện để đánh giá tác động của rung động đối với cơ thể con người. Phản ứng của cơ thể con người đối với rung động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cả thành phần phổ của tín hiệu rung động được ghi lại tại một trạm làm việc nhất định. 2.2.2.2. Ảnh hưởng của rung động Tác động của rung động đối với cơ thể con người là hiệu ứng rung động cơ học truyền từ hệ thống dao động sang cơ thể con người có thể có tác động tiêu cực đến các hệ thống và cơ quan riêng lẻ, hoặc nó có thể gây ra rung toàn bộ cơ thể hoặc các bộ phận và cấu trúc tế bào của nó. Tiếp xúc lâu dài với rung động có thể dẫn đến nhiều rối loạn và gây ra bệnh lý mãn tính và không thể phục hồi những thay đổi; những thay đổi này phụ thuộc vào loại rung động mà một cá nhân tiếp xúc — rung toàn bộ cơ thể hoặc bàn tay. Tiếp xúc nghề nghiệp lâu dài với rung động có thể dẫn đến nhiều rối loạn và gây ra những thay đổi bệnh lý vĩnh viễn. Loại thay đổi và tốc độ của chúng sự phát triển phụ thuộc rất nhiều vào cách thâm nhập vào con người cơ thể người. Về vấn đề này, có thể phân biệt hai loại rung động cơ học: Rung toàn bộ cơ thể Trang 32 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Rung động toàn thân ảnh hưởng đến cơ thể con người nói chung, xuyên qua chân, xương chậu, lưng hoặc hai bên. Hậu quả tiêu cực của việc tiếp xúc nghề nghiệp với rung động toàn thân là chủ yếu liên quan đến • Hệ thống xương khớp Trong hệ thống xương, những thay đổi bệnh lý xuất hiện chủ yếu ở đoạn thắt lưng của cột sống, và ít thường xuyên hơn ở đoạn cổ tử cung. Hội chứng đau cột sống dẫn đến từ những thay đổi bệnh lý xảy ra ở những người tiếp xúc nghề nghiệp với rung động toàn bộ cơ thể đã được công nhận là một bệnh nghề nghiệp - giống như rung hội chứng do rung tay và cánh tay - ở một số quốc gia, chẳng hạn như Bỉ và nước Đức. • Cơ quan nội tạng Rối loạn cơ quan nội tạng do rung toàn bộ cơ thể chủ yếu là do sự kích thích cộng hưởng của các cơ quan riêng lẻ (tần số dao động tự nhiên của hầu hết các các cơ quan nằm trong khoảng từ 2 đến 18 Hz). Điều này gây ra những thay đổi bất lợi trong hoạt động của các cơ quan thuộc hệ thống tiêu hóa, chủ yếu là dạ dày và thực quản; tuy nhiên, các bài kiểm tra được tiến hành trên các nhóm lớn tiếp xúc nghề nghiệp với biểu hiện rung toàn bộ cơ thể các rối loạn cũng được tìm thấy, ví dụ, trong cơ quan tiền đình ốc tai, các cơ quan lồng ngực, hệ thống sinh sản nữ và khoang mũi họng. Các nhóm người lao động chính tiếp xúc với rung động toàn thân là người lái xe ô tô, người lái xe điện, người điều khiển động cơ, người điều khiển máy xây dựng, máy làm đường. Trong những trường hợp, rung động được truyền đến cơ thể từ ghế xe qua khung xương chậu, mặt sau và hai bên. Tuy nhiên, những nghề nghiệp tiếp xúc với rung động toàn thân thường ảnh hưởng đến những người xử lý thiết bị cố định và máy móc hoạt động trong các khu vực làm việc ở vị trí đứng. Trong những trường hợp như vậy, rung động xâm nhập vào cơ thể thông qua các chân từ đế rung của máy. Tác dụng của những các dao động tương tự như các dao động được truyền bởi ghế ngồi. Tác dụng sinh học của rung tay và rung toàn thân đối với cơ thể con người thường đi kèm với các hiệu ứng chức năng, bao gồm những điều sau: - Thời gian đáp ứng chuyển động kéo dài. - Thời gian phản hồi trực quan kéo dài. - Rối loạn phối hợp cử động. - Mệt mỏi quá mức. - Kích thích. - Rối loạn giấc ngủ. Những thay đổi bất lợi về chức năng dẫn đến giảm hiệu quả và chất lượng của công việc được thực hiện, đôi khi khiến bạn không thể làm việc được. Bởi vì rung Trang 33 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may động cơ học và các tác động của nó là phổ biến trong môi trường làm việc, nó cần được đo lường để đánh giá rủi ro nghề nghiệp và để giảm mức độ rủi ro Rung tay tác động lên cơ thể con người thông qua các chi trên. Tiếp xúc với rung động truyền đến cơ thể qua các chi trên làm rung tay hoặc rung cánh tay. Hậu quả của rung tay và rung cánh tay chủ yếu dẫn đến những thay đổi bệnh lý như: - Hệ thống tuần hoàn. - Hệ thần kinh. - Hệ thống xương. Nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra mối quan hệ nhân quả chặt chẽ giữa những thay đổi của bệnh lý trong các hệ thống với điều kiện làm việc này. Do đó, một loạt các thay đổi này, được gọi là hội chứng rung động, được coi là một bệnh nghề nghiệp ở nhiều nước. Hình thức mạch máu của hội chứng rung là thường xuyên nhất và được đặc trưng bởi những thay đổi chủ yếu trong tuần hoàn máu ngoại vi dưới dạng rối loạn co cứng mạch kịch phát của chi trên (ngón tay trắng). Co thắt mạch kịch phát là được biểu thị bằng một hoặc nhiều đầu ngón tay tái đi. Dạng hội chứng rung động này là thường bị nhầm lẫn với bệnh Raynaud. Rối loạn co cứng mạch thường đi kèm với rối loạn thần kinh và thay đổi cơ xương. Những thay đổi trong hệ thần kinh do tiếp xúc với cánh tay rung động chủ yếu bao gồm cảm giác tê, dị cảm, mất cảm giác về nhiệt độ và các vấn đề liên quan như tê hoặc ngứa ran các đầu ngón tay. Nếu tiếp tục tiếp xúc với rung động, những thay đổi này sẽ phát triển thêm, làm giảm khả năng làm việc và các chức năng sống khác. Những thay đổi về xương khớp ở bàn tay chủ yếu là do rung tay của tần số dưới 30 Hz. Chúng bao gồm sự biến dạng của không gian khớp, vôi hóa của viên nang khớp, và những thay đổi trong màng xương và xương dệt, dẫn đến sự xuất hiện của các nang đặc trưng trong các xương nhỏ, đặc biệt là ở cổ tay. Người vận hành các công cụ rung bằng tay là nhóm chính tiếp xúc với rung động cánh tay. Gia tốc rung thường được đo để đánh giá ảnh hưởng của rung động cơ học lên cơ thể con người; nó cung cấp đặc trưng tốt nhất của các khía cạnh liên quan đến năng lượng của quá trình rung động. Giá trị này là một trong số các giá trị được chấp nhận liên quan đến tiếp xúc rung động hàng ngày (8 giờ), và được xác định là yếu tố trong các quy định của pháp luật trong nước và quốc tế để bảo vệ sức khỏe người lao động. - Rung động gây ra ảnh hưởng giống như tiếng ồn, tác động đến hệ thần kinh trung ương và hệ thống tim mạch. Ngoài ra, nó còn gây rối loạn tuyến giáp trạng, tuyến sinh dục và viêm khớp. Trang 34 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 2.2.2.3. Các biện pháp chống rung động - Máy móc phải được thiết kế và chế tạo để rung động chúng tạo ra đạt đến mức thấp nhất giảm thiểu rủi ro. Áp dụng tiến bộ kỹ thuật để tính toán và các phương tiện sự sẵn có để giảm rung động, đặc biệt là tại nguồn. - Các hướng dẫn phải cung cấp thông tin sau liên quan đến các rung động được máy móc truyền tới hệ thống tay hoặc toàn bộ cơ thể: - Tổng giá trị rung mà hệ thống tay phải chịu, nếu vượt quá 2,5 m/ s2; nếu giá trị này không vượt quá 2,5m/s2, thì giá trị này phải quan tâm. - Giá trị rms cao nhất của gia tốc có trọng số mà toàn bộ cơ thể phải chịu không vượt quá 0,5m /s2; nếu giá trị này vượt quá 0,5m/s2, phải được quan tâm. Các phương pháp phòng ngừa, loại bỏ và hạn chế tiếp xúc với rung động nói chung có thể được chia thành các biện pháp kỹ thuật và biện pháp tổ chức. Các biện pháp kỹ thuật bao gồm: - Loại bỏ hoặc hạn chế rung động tại nguồn. - Giới hạn các rung động dọc theo đường lan truyền của nó. - Tự động hóa các quy trình công nghệ và điều khiển rung động từ xa. - Kiểm soát rung động chủ động. - Cách âm các thiết bị gây ồn. Dùng biện pháp điều khiển tự động từ xa để điều khiển các thiết bị gây ồn. Giảm tiếng ồn và rung động tại nơi phát sinh Thay đổi cấu trúc bên trong của nguồn rung động: rung động có thể xảy ra do cấu tạo máy móc hoặc cơ chế bị lỗi hoặc không chính xác. Ví dụ, độ nhám bề mặt thô, dẫn đến sự mất cân bằng của các bộ phận quay và tăng mức độ rung tỷ lệ với tần số quay (tốc độ quay). Lắp ráp không đúng các bộ phận liên kết. Rung động của toàn bộ máy có thể giảm bằng cách giảm khe hở xuống mức tối thiểu, cải thiện cân bằng, - Độ rung tại nguồn có thể bị giảm bằng cách thay đổi cấu trúc của chúng như lắp ráp thích hợp hoặc cố định máy vào sàn nhà (kỹ thuật nền móng). Các nền móng phức tạp về động lực phải được thiết kế; có thể thay đổi tần số cộng hưởng do khối lượng của chúng tăng lên khi chúng được cố định chắc chắn vào máy (tức là nguồn rung động). - Sử dụng khe co giãn ngăn cách nền móng của máy móc và thiết bị với khu vực xung quanh. - Sử dụng các dạng vật liệu chống rung khác nhau (thảm, vòng đệm, thiết bị cách ly rung động đặc biệt) và thiết bị bảo vệ cá nhân như chống rung găng tay có thể làm giảm độ rung dọc theo đường lan truyền của nó. Trang 35 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Tự động hóa các quy trình công nghệ và điều khiển từ xa các nguồn rung động cho phép người vận hành tránh xa các khu vực tiếp xúc với rung động cơ học và do đó làm giảm các mối đe dọa đối với sức khỏe do rung động. - Thêm vào hệ thống bổ sung: một hệ thống bổ sung được áp dụng khi tần số của nguồn dao động gần bằng tần số cộng hưởng của nó. Khối lượng bổ sung này có thể làm thay đổi đáng kể tần số rung động, giảm đáng kể mức rung động. Các biện pháp tổ chức được xem là hiệu quả nhất để kiểm soát rung: - Ngay từ đầu lập tổng thể mặt bằng nhà máy cần phải nghiên cứu các biện pháp quy hoạch chống tiếng ồn và rung động hạn chế lan truyền rung động và tiếng ồn. - Tính toán khoảng cách hợp lý giữa các phân xưởng và trồng cây xanh để hạn chế tiếng ồn. - Sử dụng máy móc thiết bị có chất lượng cao, sửa chữa kịp thời các máy móc thiết bị hư hỏng. Không sử dụng thiết bị cũ đã lạc hậu. Kiểm soát chủ động độ rung Giảm rung động các thiết gây rung động bằng cách bọc cao su, vòng phớt, amiăng, mattit đặc biệt. sử dụng giảm chấn đàn hồi như lò xo. Các loại này là Hệ thống thụ động để giảm rung kém hiệu quả hơn trong dải tần số thấp, ở tần số băng thông rộng và khi điều kiện hoạt động của thiết bị cao có thể thay đổi. Hệ thống chủ động có thể được sử dụng như một giải pháp thay thế trong những tình huống như vậy. Hệ thống Tích cực được trang bị thêm các nguồn điện bên ngoài được điều khiển để cung cấp hoặc hấp thụ năng lượng tại các điểm cụ thể của thiết bị rung. Chúng bao gồm cảm biến phản xạ, hệ thống điều khiển và các thành phần được điều khiển (khí nén, thủy lực, điện, điện từ, áp điện, v.v.). Hệ thống giảm rung được trang bị với các nguồn năng lượng được kiểm soát bổ sung có thể được chia thành: - Hệ thống chủ động. - Hệ thống bán tự động. - Hệ thống kết hợp. Trong các hệ thống chủ động (Hình 2.5a), các nguồn năng lượng bên ngoài được áp dụng. Chúng có một công suất lớn để tạo ra lực bổ sung, đảm bảo bù trực tiếp cho các kích thích nhiễu loạn. Trong các hệ thống bán hoạt động (Hình 2.5b), rung động được loại bỏ bởi các thành phần thụ động và các nguồn năng lượng bên ngoài công suất thấp được sử dụng để thay đổi Trang 36 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hình 2.6. Sơ đồ hệ thống giảm rung: (a) chủ động và (b) bán chủ động. c/ Phòng chống rung động bằng phương tiện cá nhân Đối với các công việc thường xuyên làm việc trong môi trường rung động với cường độ rung lớn, các trang bị thiết bị chống rung động được sử dụng. - Sử dụng đệm đàn hồi, ủng để chống rung. - Găng tay chống rung. Hình 2.7. Găng tay chống rung. 2.3. Chống bụi trong sản xuất 2.3.1. Định nghĩa. Bụi là tập hợp nhiều hạt có kích thước lớn nhỏ khác nhau tồn tại lâu trong không khí dưới dạng bụi bay bay hay bụi lắng và các hệ khí dung nhiều pha như hơi, khói, mù. Bụi phát sinh tự nhiên do gió bão, động đất, núi lửa nhưng quan trọng hơn là trong sinh hoạt và sản xuất của con người như từ các quá trình gia công, chế biến, vận chuyển các nguyên vật liệu rắn. Bụi là một trong những tác nhân gây hại đáng kể nhất có trong môi trường làm việc. Con người tiếp xúc với bụi có thể gây ra tổn thương cơ học cho niêm mạc hoặc da, phản ứng và bệnh dị ứng, bệnh bụi phổi và ung thư. Các nhà máy sản xuất và cửa hàng dịch vụ thải ra lượng bụi độc hại lớn nhất đến môi trường làm việc; nồng độ và tác hại của chúng đối với sức khỏe con người phụ thuộc vào các quy trình làm việc. Mặc dù nồng độ bụi trong không khí văn phòng là thấp hơn nhiều so với trong các cơ sở công nghiệp, nồng độ và sự phân bố kích thước hạt vẫn còn có ý nghĩa trong bối cảnh của 'hội chứng bệnh tật do xây dựng”. Trang 37 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Các nghiên cứu gần đây nhất tập trung vào tác hại của bụi chứa các hạt rất nhỏ, tức là các hạt có kích thước nanomet. Những hạt này được phát ra trong các quá trình đã được sử dụng trong một thời gian dài, chẳng hạn như hàn, đốt dầu động cơ diesel và hút thuốc. Ngày nay, chủ yếu tập trung vào tác hại của các hạt mới tạo ra có kích thước dưới 100 nm được phát ra trong quá trình sản xuất hoặc ứng dụng chúng trong các quy trình công nghệ nano. Những hạt này có thể gây ra phản ứng viêm trong phế nang và dẫn đến máu đông. Các hạt nano xâm nhập vào cơ thể con người chủ yếu qua đường hô hấp nhưng chúng cũng có thể được tìm thấy trong gan. Bụi thải ra tại các máy móc có thể có nhiều đặc tính khác nhau tùy thuộc vào nguồn phát sinh. Mức độ tiếp xúc của con người và sự lựa chọn của tập thể và cá nhân thiết bị bảo vệ có thể được ước tính dựa trên các thông số sau: • Nồng độ bụi (nồng độ của các phần nhỏ kích thước khác nhau của bụi rất nhỏ) • Kích thước hạt (bụi thô, trung bình và phân tán mịn). • Hình dạng hạt (bụi dạng sợi và không sợi. • Thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể (ví dụ như silica tinh thể hoặc silica bất định).. • Tính chất dễ nổ của bụi (ví dụ như bụi gỗ hoặc bụi bột mì), Các nguồn phát thải bụi tại nơi làm việc bao gồm: • Quy trình công nghệ (trong các không gian sản xuất điển hình). • Máy móc và thiết bị xử lý. • Không khí được cung cấp từ bên ngoài bằng bộ thông gió cưỡng bức hoặc bằng cách xâm nhập (trong không gian sản xuất, không gian văn phòng hoặc trong 'phòng sạch') • Quy trình công nghệ nano (trong các phòng mà các hạt nano được tạo ra hoặc được sử dụng để sản xuất) 2.3.2. Phân loại a- Theo nguồn gốc: Bụi kim loại (Mn, Si, rỉ sắt …); bụi cát; bụi gỗ; bụi động vật: bụi lông; bụi xương; bụi thực vật: bụi bông, bụi gai; bụi hóa chất: bột phấn, bột hàn the, bột xà phòng, vôi … b- Theo kích thước hạt: - Bụi bay có kích thước từ 0,001 ÷ 10 µm. - Bụi mù có kích thước từ 0,1 ÷ 10 µm. Trang 38 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Khói chúng có kích thước từ 0,001 ÷ 0,1 µm. Chuyển động Brown trong không khí. - Bụi lắng có kích thước hạt > 10 µm. 2.3.3. Tác hại của bụi. Bụi có tác hại đến mắt, da, hô hấp, tiêu hóa. - Bệnh phổi nhiễm bụi thường gặp ở công nhân khai thác, chế biến, vận chuyển quặng đá, - Bệnh silicose là bệnh do nhiễm bụi silic ở thợ đúc, thợ khoan đá, thợ mỏ - Bệnh đường hô hấp: viêm mũi, viêm họng, viêm phế quản v.v… - Bệnh ngoài da do bụi dính bám vào da gây viêm da, bịt kín lỗ chân lông làm ảnh hưởng đến sự bài tiết của cơ thể và gây ra lở loét. - Bệnh đường tiêu hóa: các hại bụi có sắc cạnh có thể làm tổng thương niêm mạc dạ dày gây rối loạn tiêu hóa - Chấn thương mắt: bụi kiềm, axít có thể gây bỏng giác mạc, giảm thị lực. 2.3.4. Các biện pháp phòng chống bụi. a- Biện pháp kỹ thuật: - Cơ khí hóa và tự động hóa quá trình sản xuất gây bụi để công nhân không phải tiếp xúc với bụi. - Biện pháp công nghệ như vận chuyển bằng hơi, máy hút. Làm sạch bằng nước thay vì bằng cát. - Cô lập không gian cho thiết bị gây bụi hoặc dây chuyền sản xuất. - Lắp đặt hệ thống thông gió, hút bụi trong phân xưởng gây bụi. Hệ thống thông gió cục bộ (Local exhaust ventilation- LEV) được sử dụng, được kết nối với hệ thống hút bụi hoặc thiết bị lọc – thông gió. Các loại hệ thống LEV theo mức độ bao bọc của nguồn phát thải ô nhiễm. Mỗi hệ thống LEV phải được đi kèm với một hệ thống thông gió cơ học chung. Loại hệ thống LEV phụ thuộc vào cả vị trí của nguồn phát thải và loại bụi thải ra. Hướng và vận tốc phân tán bụi cũng có ý nghĩa. b- Biện pháp y tế: - Khám và kiểm tra sức khỏe định kỳ, phát hiện sớm để chữa trị và phục hồi khả năng lao động. - Dùng các phương tiện cá nhân: quần áo bảo hộ, khẩu trang, mặt nạ v.v… Trang 39 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may (a) Hệ thống mở, (b) hệ thống hút kín (c) hệ thống hút trong vỏ bọc kín. Hình 2.8. Các loại hệ thống hút bụi cục bộ. 2.4. Thông gió trong công nghiệp 2.4.1. Mục đích thông gió trong công nghiệp. Môi trường không khí có tính chất quyết định đối với việc tạo ra cảm giác dễ chịu, không bị ngột ngạt nóng bức, hay quá lạnh. Trong môi trường sản xuất luôn bị ô nhiễm bởi hơi ẩm, bụi bẩn phát sinh trong quá trình sản xuất, các chất khí do hô hấp và bài tiết của cơ thể như CO2, NH3, CO, NO2, các hơi acid và bazơ. Thông gió trong công nghiệp có nhiệm vụ sau: - Thông gió chống nóng: Mục đích đưa không khí mát, khô ráo vào nhà và đẩy không khí nóng ẩm ra ngoài tạo điều kiện vi khí hậu tối ưu. - Thông gió khử bụi và hơi độc: Các hệ thống hút không khí ô nhiễm đưa ra ngoài đồng thời đưa không khí sạch vào lại để cải thiện môi trường không khí. 2.4.2. Các phương pháp thông gió 2.4.2.1. Thông gió tự nhiên. Trang 40 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Là sự lưu thông không khí từ bên ngoài vào nhà và từ trong nhà thoát ra ngoài nhờ yếu tố nhiệt thừa và gió tự nhiên. Dựa vào sự đối lưu của không khí người ta thiết kế nhà xưởng sao cho sự đối lưu có thể xảy ra và thiết kế các cửa để gió ra vào hoặc có cửa cánh chớp để điều tiết lượng gió. a- Thông gió tự nhiên từ áp lực nhiệt Thông gió tự nhiên từ áp lực nhiệt chính là cách đối lưu không khí trong phòng. Đối lưu không khí sẽ được tạo ra nhờ vào sự chênh lệch của áp suất không khí. Gió được đưa vào bên trong ngôi nhà chính là sự dịch chuyển của các luồng không khí từ nơi có áp suất cao đến nơi có áp suất thấp. Trong một không gian xác định (một tòa nhà, một công trình kiến trúc) do có con người và máy móc hoạt động ở bên trong sản sinh ra nhiệt. Lượng nhiệt này sẽ truyền sang không khí làm tăng nhiệt độ của không khí trong phòng. Không khí có nhiệt độ cao sẽ giãn nở, trở nên nhẹ hơn và bay lên trên cao – tạo nên một vùng có khí áp thấp. Hình 2.9. Kết cấu nhà xưởng với hệ thống thông gió tự nhiên. b- Thông gió tự nhiên dựa vào áp lực gió Đây là giải pháp thông gió được đánh giá khá tốt. Bởi khi tính toán thông gió tự nhiên người ta nhận thấy việc thông gió bằng cách sử dụng áp lực nhiệt chỉ tạo ra được tốc độ gió khoảng 0,3m/s. Với tốc độ gió này chưa đủ để tạo ra cảm giác có sự thay đổi nhiệt. Còn khi sử dụng phương pháp áp lực gió sẽ tạo được tốc độ gió trong khoảng 0,5 – 2m/s. Thông gió tự nhiên dựa vào áp lực gió chính là thông gió xuyên phòng. Tốc độ và lưu lượng gió của phương pháp này cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi hệ thống cửa hút và cửa thoát gió. Trang 41 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hình 2.10. Thông gió xuyên phòng. 2.4.2.2. Thông gió nhân tạo Dùng hệ thống cơ học để thổi không khí di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác. Trong thực tế thường có 2 hệ thống hút vào và hút ra. Hút cơ khí Hút không khí bị ô nhiễm, hút nhiệt, hút bụi từ các nguồn phát sinh để đưa ra khỏi phòng để đảm bảo điều kiện vệ sinh cho môi trường gọi là hút cơ khí. Thổi cơ khí Thổi không khí trong sạch vào nhà tại các vị trí cần thiết và biết trước để tăng cường hiệu quả làm mát cho người công nhân. Hệ thống thông gió cơ học rất đơn giản này hút không khí từ không gian thông gió với ống dẫn và quạt (Hình 2.11). Mục đích của hệ thống là để hút các chất gây ô nhiễm càng gần nguồn càng tốt. Để bảo vệ quạt và giữ cho ống dẫn sạch sẽ, người ta có thể lắp một bộ lọc ngược dòng của quạt. Không khí ô nhiễm bên trong được thay thế bằng không khí ngoài trời, áp suất bên trong thấp hơn bên ngoài nhưng không đáng kể. Trong một số trường hợp, không khí xâm nhập bằng cách thấm qua các lỗ hổng của tường tòa nhà. Tuy nhiên, khuyến nghị cửa hút gió được lắp đặt ở những vị trí thích hợp trên tường nhà xưởng, để không khí đi vào được hướng đến nơi cần thiết. Trang 42 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Quạt Không gian thông gió Cửa không khí bên ngoài vào Hình 2.11. Vị trí lắp đặt quạt hút. Hệ thống điều hoà không khí Trong hệ thống thông gió cơ khí có đầy đủ các thiết bị để xử lý không khí đảm bảo yêu cầu của con người và yêu cầu công nghệ gọi là hệ thống điều hoà không khí. Các thiết bị đó bao gồm: thiết bị lọc bụi, thiết bị sấy nóng, làm lạnh, làm ẩm không khí v.v… 2.5. Chiếu sáng trong sản xuất. Chiếu sáng là việc sử dụng ánh sáng (bức xạ thị giác) để làm cho địa điểm, vật thể và môi trường xung quanh có thể nhìn thấy được. Ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ và độ tin cậy của tầm nhìn và xác định hình thức, hình dạng, màu sắc và các đặc điểm của bề mặt (ví dụ: kết cấu) của các đối tượng được nhìn thấy. Chiếu sáng có ba chức năng chính: - Đảm bảo an toàn cho người trong môi trường làm việc. - Đảm bảo các điều kiện thích hợp để thực hiện các nhiệm vụ trực quan. - Hỗ trợ tạo môi trường phát sáng thích hợp Ánh sáng là rất quan trọng để tối đa hóa hiệu suất thị giác và hiệu quả công việc trực quan, đồng thời, giảm thiểu mệt mỏi thị giác và rủi ro của những sai lầm trong nhận thức. Ánh sáng làm cho con người nhìn thấy và phân biệt giữa các vật, các tín hiệu lao động cũng như trong sinh hoạt nhằm giúp con người xử lý nhanh và chính xác các tình huống ở xung quanh. Trong sản xuất ánh sáng cũng ảnh hưởng đến tới năng suất lao động. Trong khi lao động, khu vực làm việc phải được chiếu sáng thích hợp để tránh mệt mỏi thị giác dễ dẫn đến thao tác kỹ thuật thiếu chuẩn xác làm chất lượng sản phẩm kém, dễ gây tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Trang 43 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 2.5.1. Các khái niệm về ánh sáng a- Ánh sáng thấy được Ánh sáng thấy được là các bức xạ photon có bước sóng trong khoảng λ = 380 ÷ 760 µm, ứng với các dải màu: tím, lam, xanh, lục, vàng, da cam, hồng, đỏ. Ví dụ bước sóng λ = 380 ÷ 450 µm mắt người cảm giác màu tím; bước sóng λ = 620 ÷ 760 µm mắt người cảm giác màu đỏ. b- Quang thông Quang thông biểu thị năng lượng sáng phát ra trong 1 giây của nguồn sáng. Ký hiệu quang thông: Ф, đơn vị Lumen (Lm). Để so sánh ta có quang thông của dây tóc bóng đèn sợi nung 100w là 1.500 Lm; quang thông của bóng đèn dây tóc sợi nung 60 w là 850 Lm. c- Cường độ sáng: Quang thông của một nguồn sáng bất kỳ không đồng đều theo mọi phương. Do đó, để đặc trưng cho cho quang thông phát theo một phương người ta dùng đại lượng cường độ sáng I. Cường độ sáng theo phương n gọi là In là mật độ quang thông bức xạ theo phương n đó. Công thức tính cường độ sáng: In = d d (2.6) Đơn vị đo là Candela (cd) d- Độ rọi Độ rọi là đại lượng để đánh giá độ sáng của bề mặt chiếu sáng. Độ rọi tại một điểm M trên bề mặt được chiếu sáng là mật độ quang thông của luồng ánh sáng chiếu đến tại điểm đó. Cụ thể là lượng quang thông chiếu trên một đơn vị diện tích của bề mặt được chiếu sáng. - Ký hiệu E, đơn vị Lux (Lx). Công thức tính: EM = d dS (2.7) Trong đó: EM - độ rọi tại điểm M, dФ là lượng quang thông chiếu đến điểm M, dS là vi phân diện tích của điểm M. Trang 44 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Con người khi nhìn thấy các vật rõ nhất và dễ nhất tướng ứng với ánh sáng có độ rọi (đơn vị là lux) nhất định. Ánh sáng có độ rọi quá yếu hoặc quá lớn đều có thể gây ra các bệnh lý cho cơ quan thị lực. Một số ví dụ về độ rọi trên mặt đất: vào giữa trưa trời không mây: 100.000 Lx; đêm trăng tròn không mây: 0,25 Lx; ban đêm với hệ thống chiếu sáng công cộng 10 ÷ 30 Lx. Tiêu chí mức độ chiếu sáng phù hợp, độ rọi tối thiểu nên khoảng 1 cd/m2. Giá trị này có thể thu được trong điều kiện ánh sáng bình thường. Khi mức chiếu sáng trên mặt phẳng ngang là khoảng 20 lx, là giá trị chiếu sáng thấp nhất có thể chấp nhận được cho dành cho công việc (theo tiêu chuẩn EN 12464-1 2004). Để nhìn thấy các đặc điểm của khuôn mặt con người mà không có nỗ lực nào, độ rọi khoảng 20 cd/m2 và nền không phải là màu đen hoặc tối. Điều này có nghĩa rằng chiếu sáng trên mặt phẳng thẳng đứng phải ít nhất 100 lx và trên mặt phẳng ngang khoảng gấp đôi lớn hơn. Do đó, cần phải có ít nhất 200 lx trong các khu vực làm việc liên tục, bất kể công việc nào. e- Độ chói Độ chói thể hiện mức độ sáng của bề mặt chiếu sáng tính bằng mật độ quang thông phát ra trên một đơn vị diện tích của bề mặt đó theo một hướng xác định đến một quan sát viên. Độ chói phụ thuộc vào tính phản quang của vật chất và vị trí người quan sát. Ký hiệu: L, đơn vị: cd/m2 đọc là nit, viết tắt nt. Một số ví dụ về độ chói: - Độ chói nhỏ nhất mà mắt người nhận biết được: 10-6 nt - Độ chói của mặt trời giữa trưa: 2.109 nt - Độ chói của dây tóc bóng đèn: 106 nt - Độ chói của đèn neon: 103 nt Sự kiểm soát ánh sáng chói Chói mắt gây cảm giác khó chịu hoặc giảm khả năng nhận biết chi tiết, đối tượng hoặc cả hai. Nguyên nhân là do phạm vi độ sáng không phù hợp hoặc sự tương phản quá lớn về không gian hoặc thời gian. Các loại ánh sáng chói sau đây được phân biệt dựa trên các điều kiện nhất định (Hình 2.12): - Chói trực tiếp gây ra bởi một vật sáng ở trong hoặc gần với hướng của đối tượng đang được xem xét. - Chói phản xạ là do phản xạ nhỏ của các vật thể sáng trong bóng các bề mặt. Trang 45 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hình 2.12. Độ chói trực tiếp và dộ chói phản xạ. Ba loại ánh sáng chói có thể được phân biệt bởi tác dụng của chúng: 1. Ánh sáng chói gây khó chịu và không thoải mái nhưng không làm giảm tầm nhìn của các chi tiết hoặc vật thể. Nó tăng lên theo thời gian nhưng biến mất ngay lập tức sau khi loại bỏ nguồn chói sáng (ví dụ: đèn đã được tắt). 2. Ánh sáng chói làm suy giảm khả năng thị giác trong một thời gian ngắn nhưng đáng chú ý mà không nhất thiết gây khó chịu. 3. Chói lóa là một ánh sáng chói mạnh, ngắn, nhưng đáng chú ý, trong đó không có thể nhìn thấy gì. Đây là một loại ánh sáng cực đoan. 2.5.2. Quan hệ giữa chiếu sáng và mắt người. Sự nhìn rõ của mắt liên quan đến yếu tố sinh lý của mắt, phân biệt giữa thị giác ban ngày và thị giác ban đêm. Thị giác ban ngày liên hệ đến sự kích thích các tế bào hữu sắc. Khi độ rọi E đủ lớn > 10 lux thì các tế bào hữu sắc cho mắt cảm giác màu sắc và phân biệt chi tiết của vật quan sát. Thị giác ban đêm liên hệ đến sự kích thích các tế bào vô sắc. Khi độ rọi E= 0,01 lux. Với điều kiện này các tế bào vô sắc làm việc. Quá trình thích nghi Khi chuyển từ độ rọi lớn qua độ rọi nhỏ thì tế bào vô sắc chưa hoạt động cực đại mà cần có thời gian quen dần. Tương tự như vây khi quá trình ngược lại. Thời gian này gọi là thời gian thích nghi của mắt. Tốc độ phân giải và khả năng phân giải của mắt: Trang 46 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Quá trình nhận biết một vật của mắt không xảy ra cùng một lúc mà phải qua một thời gian nào đó. Tốc độ phân giải phụ thuộc vào độ chói và độ rọi trên một vật. Độ tương phản giữa vật quan sát và nền Là tỷ lệ độ chói giữa vật quan sát và độ chói của nền, biểu thị bằng hệ số tương phản C sau: C= L0 − Lb Lb (2.8) Trong đó: L0 là độ chói của vật; Lb là độ chói của nền Khi một vật sáng đặt trên nền có độ sáng ít hơn, giá trị C > 0 và biến thiên từ 0÷ +∞. Ngược lại vật tối đặt trên nền sáng giá trị C biến thiên từ 0 ÷ -1. Giá trị C nhỏ nhất mà mắt người quan sát được vật là C = 0,01 2.5.3. Các yếu tố nguy hiểm khi ánh sáng không phù hợp như một trong môi trường làm việc. 2.5.3.1. Mệt mỏi thị giác Các yếu tố có thể gây mệt mỏi thị giác có thể được chia thành bên ngoài (môi trường) và các yếu tố bên trong (hệ thống thị giác). Các yếu tố bên ngoài bao gồm những yếu tố sau: - Độ rọi quá thấp hoặc quá cao. - Chói. - Độ tương phản độ sáng cao và độ tương phản màu trong trường trực quan hoặc không sự tương phản. - Nhấp nháy. - Sử dụng đồng thời ánh sáng tự nhiên và nhân tạo trong một quang phổ không điều chỉnh phù hợp với ánh sáng ban ngày. - Vị trí không chính xác của khu vực làm việc trực quan so với vị trí của bộ đèn. Các yếu tố bên trong bao gồm: - Các tật khúc xạ chưa được điều chỉnh hoặc sửa chữa không đầy đủ - Rối loạn điều tiết thị lực và hội tụ. - Rối loạn thị lực hai mắt. - Những căn bệnh về mắt. Trang 47 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Những căn bệnh khác. Mệt mỏi thị giác xảy ra khi hệ thống thị giác bị căng thẳng và có thể được biểu hiện dưới dạng sau đây: - Các triệu chứng về mắt (đau, mỏi, ngứa, khô, rát mắt). - Các triệu chứng thị giác (mờ, chồng hình). - Các triệu chứng toàn thân (nhức đầu, mệt mỏi). - Thay đổi nhất thời các chức năng thị giác, chẳng hạn như giảm biên độ về chỗ ở và khoảng cách xa hơn về điểm hội tụ gần Những người có bất kỳ yếu tố bên trong nào ở trên sẽ cảm thấy mệt mỏi hơn về thị giác nhiều hơn thường xuyên so với những người không có yếu tố bên trong. Làm việc trong điều kiện ánh sáng không thích hợp trong thời gian dài làm suy yếu hệ thống thị giác và rối loạn khúc xạ có thể xuất hiện hoặc trở nên nghiêm trọng hơn. 2.5.3.2. Tai nạn nghề nghiệp Phân tích các vụ tai nạn lao động gián tiếp do chiếu sáng sai cho thấy nguyên nhân chính là khả năng hiển thị kém do thiếu sáng và chói. Khả năng hiển thị kém cũng có thể là kết quả của hiện tượng nhấp nháy, hiệu ứng nhấp nháy hoặc hiển thị màu kém, làm giảm khả năng phân biệt tín hiệu an toàn màu sắc. Tuy nhiên, ít có các vụ tai nạn liên quan đến những các thông số chiếu sáng. Tầm nhìn kém như một nguyên nhân gián tiếp của các vụ tai nạn được phân tích là do: - Không đủ mức độ rọi hoặc độ đồng đều của độ rọi trong khu vực làm việc, gây khó khăn cho việc phát hiện mối nguy hiểm (nhóm tai nạn I) - Thiết bị chiếu sáng trong tình trạng kém hoặc thiếu thiết bị, do đó người thực hiện hoạt động không cải thiện được điều kiện làm việc (nhóm tai nạn II) - Chiếu sáng không chính xác trong môi trường dễ nổ (nhóm tai nạn III) - Ánh sáng không chính xác trong không gian làm việc và nơi có xe cộ qua lại (tai nạn nhóm IV). 2.5.4. Kỹ thuật chiếu sáng. 2.5.4.1. Chiếu sáng tự nhiên. Ánh sáng mặt trời là ánh sáng có sẳn trong tự nhiên thích hợp và có tác dụng tốt về mặt sinh lý của con người. Tiện ích của việc chiếu sáng tự nhiên thay thế chiếu sáng bằng điện vào ban ngày. Tuy nhiên, ánh sáng mặt trời không ổn định vì phụ thuộc vào thời tiết và điều kiện bố trí. Độ rọi của ánh sáng mặt trời thay đổi theo thời gian trong ngày, theo tháng, theo năm. Ngoài ra, nó còn thay đổi theo địa lý, theo thời tiết, khí hậu. Vì vậy ánh sáng trong phòng cũng bị thay đổi theo. Trang 48 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hệ thống chiếu sáng mặt trời là các cửa lấy sáng. Tuy nhiên, cửa sổ nên được thiết kế tốt để tránh ánh sáng chói. Nên sử dụng các giá ánh sáng để cung cấp ánh sáng tự nhiên không có ánh sáng chói. Khi thiết kế chiếu sáng tự nhiên cần tính toán cửa lấy sáng đầy đủ và phân bố đều. Bên cạnh đó còn tính toán đến điều kiện thông gió, thoát nhiệt. Hướng cửa chọn hướng Bắc – Nam, cửa chiếu sáng đặt về hướng hướng Bắc. Cửa thông gió mở rộng về hướng Nam và có kết cấu che chắn và điều chỉnh được mức độ sáng. 2.5.4.2. Chiếu sáng nhân tạo (chiếu sáng điện) Ánh sáng của bóng đèn điện có ưu điểm dễ điều chỉnh lượng sáng và không phụ thuộc vào thời tiết như ánh sáng tự nhiên, tuy nhiên rất tốn kém do lượng tiêu thụ điện năng. Phương thức chiếu sáng: - Phương thức chiếu sáng chung: trong toàn phòng có hệ thống chiếu sáng từ trên xuống cho độ chói và độ rọi nhất định trong toàn bộ mặt phẳng lao động. - Phương thức chiếu sáng cục bộ: chia không gian của phòng ra thành nhiều không gian nhỏ có chế độ chiếu sáng riêng. - Phương thức chiếu sáng hỗn hợp: kết hợp giữa chiếu sáng chung và chiếu sáng cục bộ Phân loại đèn chiếu sáng: - Theo kiểu dáng và cấu tạo: Đèn hở (chụp đèn hở), đèn kín (chụp đèn hình cầu bằng thủy tinh hoặc nhựa xuyên sáng); Đèn chống bụi, đèn chống ẩm, đèn chống cháy nổ. - Theo mục đích chiếu sáng: chiếu sáng trong nhà, chiếu sáng ngoài trời, chiếu sáng đặc biệt. Các lọai thiết bị chiếu sáng: Các thiết bị chiếu sáng có nhiệm vụ sau: - Phân bố ánh sáng phù hợp với mục đích chiếu sáng. - Bảo vệ mắt trong khi làm việc không bị chói lóa. - Bảo vệ nguốn sáng: không bị va chạm, mưa, gió, nắng, bụi. * Phương thức chiếu sáng: - Phương thức chiếu sáng chung: trong toàn phòng có hệ thống chiếu sáng từ trên xuống cho độ chói và độ rọi nhất định trong toàn bộ mặt phẳng lao động. - Phương thức chiếu sáng cục bộ: chia không gian của phòng ra thành nhiều không gian nhỏ có chế độ chiếu sáng riêng. Trang 49 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Phương thức chiếu sáng hỗn hợp: kết hợp giữa chiếu sáng chung và chiếu sáng cục bộ Các loại đèn chiếu sáng: Đèn sợi tóc nung nóng Dựa vào nguyên lý phát quang của vật rắn khi bị nung nóng đến 5000C. Đèn dây tóc nung sáng có chứa nhiều thành phần màu đỏ và vàng gần với quang phổ của màu lửa nên rất phù hợp với sinh lý con người. Mặt khác đèn nung nóng dễ sử dụng và bảo quản, phát quang ổn định không phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường. Đèn có nhiều loại và có công suất từ 1 ÷ 1500 w. Đèn nung nóng có thể phát sáng khi khi điện áp thấp hơn điện áp định mức của nó nên còn được dùng để chiếu sáng sự cố và chiếu sáng an toàn. Đèn hơi thủy ngân Đèn hơi thủy ngân là kiểu đèn cổ nhất. Mặc dù có tuổi thọ cao và chi phí ban đầu thấp, đèn có hiệu suất kém (30 đến 65 lumen trên watt, chưa kể thất thoát chấn lưu) và phát ra ánh sáng màu xanh yếu. Có lẽ vấn đề quan trọng nhất liên quan đến đèn hơi thủy ngân là làm sao thay thế chúng bằng những loại đèn huỳnh quang có hiệu suất và độ hoàn màu tốt hơn. Đèn hơi thủy ngân loại rõ, phát ra ánh sáng màu xanh da trời-xanh lá cây, gồm có ống hồ quang với các điện tử Vonfram ở cả hai đầu. Những chiếc đèn này có hiệu suất thấp nhất trong các loại đèn, quang thông giảm nhanh và chỉ số hoàn màu thấp. Do những đặc điểm này nên các nguồn sáng khác đã thay thế đèn hơi thủy ngân trong chiếu sáng sản xuất. Đèn huỳnh quang Đèn huỳnh quang phát quang theo nguyên lý phóng điện trong chất khí. Ưu điểm của đèn huỳnh quang là có hiệu suất phát sáng cao, thời gian sử dụng dài vì thế nó có hiệu quả kinh tế hơn đèn nung sáng 2 ÷ 2,5 lần. Đèn huỳnh quang cho quang phổ phát xạ gần giống ánh sáng ban ngày. Nhược điểm của đèn huynh quang là phát quang không ổn định khi nhiệt độ không khí thay đổi và khi điện áp thay đổi, thậm chí không phát quang khi điện áp quá thấp. Ngoài ra, đèn huỳnh quang có giá thành cao, sử dụng phức tạp hơn. Đèn huỳnh quang compact Loại đèn huỳnh quang compact xuất hiện gần đây đã mở ra một thị trường hoàn toàn mới của nguồn sáng huỳnh quang. Những chiếc đèn này cho phép thiết kế bộ đèn nhỏ hơn nhiều, có thể cạnh tranh với loại đèn nóng sáng và đèn hơi thủy ngân trên thị trường. Đèn LED Đèn LED là loại đèn mới nhất bổ sung vào danh sách các nguồn sáng sử dụng năng lượng hiệu quả. Trong khi đèn LED phát ra ánh sáng nhìn thấy được ở dải quang phổ rất hẹp, chúng có thể tạo ra "ánh sáng trắng”. Điều này được thực hiện Trang 50 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may nhờ đèn LED xanh có phủ một lớp photpho. Đèn LED có tuổi thọ từ 40.000 đến100.000 giờ tùy thuộc vào màu sắc. Đèn LED đã được sử dụng trong nhiều ứng dụng chiếu sáng, bao gồm biển báo lối thoát, đèn tín hiệu giao thông, đèn dưới tủ, và nhiều ứng dụng trang trí khác. Mặc dù còn mới mẻ, công nghệ đèn LED đang phát triển nhanh và đầy hứa hẹn trong tương lai. Với đèn tín hiệu giao thông, một thị trường có ưu thế mạnh cho đền LED, tín hiệu đèn đỏ bao gồm 196 đèn LED chỉ tiêu thụ 10W trong khi đèn nóng sáng sẽ tiêu thụ 150W. Các ước tính khác nhau về khả năng tiết kiệm năng lượng rơi vào khoảng từ 82% đến 93%. Các sản phẩm LED xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau bao gồm cả đèn thanh, bảng điều khiển LED, thường chỉ sử dụng 1-5W mỗi đèn báo hiệu, đem lại hiệu quả tiết kiệm đáng kể so với đèn nóng sáng với lợi thế tuổi thọ lâu hơn, giúp giảm yêu cầu bảo trì. Tính toán chiếu sáng điện: - Chọn cách bố trí đèn theo hàng dọc hoặc hàng ngang của phòng. - Xác định tỷ số L/Hc. Trong đó L là khoảng cách treo đèn; Hc là độ cao treo đèn tính từ bề mặt làm việc cho giá trị này từ 1,4 – 2 (bố trí hình chữ nhật) ta tính được trị số L - Xác định chỉ số phòng i: i= S H c ( a + b) (2.9) Trong đó a, b là kích thước phòng - Xác định hệ số sử dụng η: Với I ≥0,8, chọn = 0, 05 − 0,36 Với i ≤ 2, chọn = 0, 08 − 0, 47 - Xác định trị số quang thông của một đèn theo công thức sau: = E.S .K .Z n. Trong đó: E- Độ rọi theo tiêu chuẩn Nhà nước quy định (lux) S- Diện tích cần chiếu sáng (m2). K- Hệ số dự trữ Z- Tỷ số giữa độ rọi etb và emin lấy từ 1,5 – 1,25 n- Số đèn chiếu sáng Trang 51 (2.10) Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 2.5.5. Quản lý môi trường – Tiêu chuẩn ISO 14000. Các kỹ thuật vệ sinh lao động tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động môi trường sản xuất nhằm giảm thiểu các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe cho người lao động là một mặt của vấn đề môi trường, mặt khác các sản phẩm may mặc được đem ra thị trường không chỉ đảm bảo chất lượng mà còn phải thân thiện với môi trường, có như vậy thì doanh nghiệp mới tạo dựng được giá trị bền vững. Tiêu chuẩn ISO 14001:2015 bao gồm các tiêu chí về các khía cạnh về: hệ thống quản lý môi trường, nhãn sinh thái, đánh giá vòng đời sản phẩm và xác định các tác động của hoạt động sản xuất, kinh doanh tới môi trường. Thông qua việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, ISO 14001 giúp các doanh nghiệp dệt may cắt giảm bớt chi phí phát sinh, tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm giá thành và tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm. Một doanh nghiệp dệt may đạt chứng nhận ISO 14001 sẽ là một doanh nghiệp uy tín và có trách nhiệm xã hội trong mắt khách hàng và đối tác kinh doanh, nhờ vậy mà sản phẩm của doanh nghiệp cũng sẽ được ưu tiên lựa chọn. Khái quát về ISO 14001. Tiêu chuẩn ISO 14001 là tiêu chuẩn quốc tế dành riêng cho hệ thống quản lý môi trường cho mọi doanh nghiệp và tổ chức. Đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất mong muốn giải quyết các khía cạnh ô nhiễm môi trương có liên quan đến hoạt động sản xuất của mình. Tiêu chuẩn ISO 14001:2015 bao gồm các yêu cầu có tính định giúp cho doanh nghiệp quản lý môi trường đạt được hiệu quả tối ưu nhất. Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001 là một phần của hệ thống quản lý chung bao gồm cơ cấu tổ chức, các hoạt động lập kế hoạch, trách nhiệm, qui tắc, thủ tục, quá trình và nguồn lực để xây dựng và thực hiện, xem xét và duy trì chính sách môi trường. Lợi ích ISO 14001. Sử dụng ISO 14001: 2015 mang lại nhiều lợi ích cho các tổ chức có hệ thống quản lý môi trường. Các tổ chức áp dụng tiêu chuẩn này sẽ đạt các lợi ích sau: - Nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. - Giảm thiểu lãng phí. - Giảm chi phí. - Đảm bảo rằng tác động môi trường đang được đo lường. - Đạt được lợi thế cạnh tranh trong thiết kế chuỗi cung ứng. - Tăng cơ hội kinh doanh mới. - Đáp ứng các nghĩa vụ pháp lý. - Tăng sự tin tưởng của các bên liên quan và khách hàng. Trang 52 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Cải thiện tác động môi trường tổng thể. - Quản lý các nghĩa vụ môi trường với sự nhất quán. Trang 53 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Chương 3 Kỹ thuật an toàn điện 3.1. Những khái niệm cơ bản về an toàn điện Điện năng có lợi ích to lớn đối với nền kinh tế và trong sinh hoạt con người. Điện năng là nguồn năng lượng chủ yếu trong các ngành sản xuất công nghiệp cũng như nông nghiệp. Ngoài ra, điện năng làm cho sự tiện nghi trong sinh hoạt và tăng chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, các yếu tố nguy hiểm khi sử dụng điện luôn tiềm tàng. Mức độ nguy hiểm tai nạn điện rất cao, có thể dẫn đến tử vong. Tai nạn có nguyên nhân từ điện là tai nạn thường gặp nhất và đứng thứ tư trong danh sách các tai nạn lao động chết người. Các hậu quả của điện giật rất thương tâm, thường dẫn đến tử vong. 3.1.1. Điện giật Điện giật là kích thích vật lý xảy ra khi có dòng điện chạy qua cơ thể con người. Sự phân bố của dòng điện chạy qua cơ thể là một hàm của lực cản của các đường khác nhau mà dòng điện chạy qua. Chấn thương cuối cùng liên quan đến điện giật thường được xác định bằng con đường quan trọng nhất được gọi là mạch xung kích. Các triệu chứng có thể bao gồm cảm giác ngứa ran nhẹ, co thắt cơ dữ dội, tim rối loạn nhịp tim, hoặc tổn thương mô. 3.1.2. Sự tiếp xúc với dòng điện Trong khi làm việc với máy móc hoặc sử dụng các dụng cụ điện con người có thể chạm vào dòng điện bởi 2 cách: tiếp xúc trực tiếp và tiếp xúc gián tiếp. Sự tiếp xúc trực tiếp có thể xảy ra trong quá trình tương tác giữa người với thiết bị điện cụ thể với các trường hợp sửa chữa điện trong trạng thái dòng điện sống. Trường hợp còn lại sự tiếp xúc gián tiếp trong khi vận hành máy móc. Hình 3.1. Sự tiếp xúc điện trực tiếp. Trang 54 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may An toàn điện được thực hiện bằng cách áp dụng một cách có hệ thống các biện pháp bảo vệ chống lại sự tiếp xúc trực tiếp. Bảo vệ chống lại sự tiếp xúc trực tiếp, còn được gọi là bảo vệ cơ bản. Bên cạnh đó hệ thống bảo vệ chống lại sự tiếp xúc gián tiếp, còn được gọi là bảo vệ lỗi, được thực hiện bởi sự tự động ngắt kết nối cung cấp điện. An toàn điện trong sản xuất công nghiệp chính là hệ thống bảo vệ chống tiếp xúc gián tiếp. Hình 3.2. Sự tiếp xúc điện gián tiếp. 3.1.3. Điện trở cơ thể người: Thân thể người có da, thịt, xương, máu và dây thần kinh tạo thành. Trong đó, lớp da ngoài cùng có điện trở lớn nhất do lớp sừng trên da. Điện trở người rất không ổn định và phụ thuộc vào trạng thái sức khỏe của cơ thể và phụ thuộc vào môi trường xung quanh. Khi lớp da ngoài cùng còn nguyên vẹn, khô ráo sạch sẽ thì điện trở của người khoảng từ 8.000 ÷ 12.000 Ω, khi lớp da bị bóc hoặc bị ẩm ướt điện trở sẽ giảm xuống còn 10 – 20%. Điện trở người giãm tỷ lệ với thời gian tác dụng của dòng điện. Con người được coi là một vật dẫn điện mà được bao bọc chung quanh bởi một lớp điện môi là da, do đó con người dễ bị điện giật khi chạm phải điện. 3.1.4. Các chấn thương có nguyên nhân từ điện Như chúng ta đã biết điện năng là nguồn năng lượng vạn năng nhưng cũng rất nguy hiểm đối với con người, phần lớn các tai nạn điện xảy ra do người chạm phải vật có điện, mức tổn thương nặng hay nhẹ tùy thuộc vào các yếu tố như trị số dòng điện qua người, thời gian tiếp xúc đường đi của dòng điện qua người… a- Điện giật Trang 55 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Khi bị điện giật có thể bị tử vong do tác động của dòng điện lên có thể: - Co các cơ lồng ngực. Nếu thời gian điện giật kéo dài ảnh hưởng đến hô hấp làm ngạt thở. - Tê liệt tức thời trung tâm thần kinh dẫn đến suy hô hấp. - Loạn nhịp tim và gây ra rung tâm thất. Điều này dẫn đến tuần hoàn máu bị dừng lại. - Xuất huyết, phá hủy mô và tế bào. b- Bỏng điện Chấn thương do các tia lửa điện. Các tia lửa điện thường cháy sâu làm tổn thương mô dẫn đến vết thương lâu lành. c- Ngã do điện giật Người lao động khi bị điện giật có thể bị co cơ, phản xạ, mất thăng bằng và ngã từ vị trí này đến vị trí khác. Nguy hiểm nhất là ngã từ trên cao xuống có thể gây chấn thương rất nặng. 3.1.5. Ảnh hưởng của trị số dòng điện qua người Dòng điện chính là nhân tố vật lý trực tiếp gây tổn thương khi bị điện giật. Các yếu tố như điện trở người và điện áp chỉ là các đại lượng làm thay đổi trị số dòng điện mà thôi. Theo định luật Ohm trị số dòng điện được xác định bởi biểu thức: (3.1) Trong đó: I- trị số dòng điện có đơn vị Ampe (A); E- hiệu điện thế đơn vị Vol (V) và R- điện trở đơn vị Ohm (Ώ). Khi người tiếp xúc với một cơ cấu dẫn điện có mang điện áp U thì sẽ có một dòng điện chạy qua người. Ví dụ một người công nhân đã tiếp xúc với mạch 220 V khi một máy khoan điện bị ngắn mạch trong nội bộ. Ngắn mạch bên trong gây ra điện áp 220 V trên cơ thể của người lao động từ từ tay đến chân (hình 3.3). Điều này tạo ra một dòng điện chạy qua người lao động xuống đất và trở lại đến nguồn. Tổng dòng điện trong trường hợp này được cho bởi công thức (3.2) (Trong đó: R1- điện trở người; R2-điện trở đất) Trang 56 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hình 3.3. Đường đi dòng điện giật. Bảng 3.1. Ngưỡng giá trị dòng điện Ing giới hạn gây tác hại lên cơ thể người. Trị số dòng điện (mA) Điện trở xoay chiều ở 50 – 60 Hz Điện một chiều 0,6 – 1,5 - Bắt đầu có cảm giác, tay run - Chưa có cảm giác gì 5 – 10 - Cả bàn tay giật - Chưa có cảm giác gì 12 – 15 - Khó rút tay ra khỏi điện, ngón tay, bàn tay và cánh tay đau nhiều, trạng thái này chịu được từ 5 – 10 giây 20 – 25 - Bàn tay tê liệt, rất đau, khó thở chịu - Càng nóng hơn, bắp thịt không quá 5 giây tay hơi co lại Trang 57 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 50 - 80 - Tê liệt cơ quan hô hấp, bắt đầu rung - Bắp thịt co lại, khó thở, động các tâm thất của tim rung lên 90 - 110 - Tê liệt hô hấp, các tâm thất rung động - Tê liệt hô hấp mạnh, tê liệt tim 110 trở lên - Tê liệt hô hấp và tim khi thời gian tác - Tê liệt hô hấp và tim dụng quá 0,1 giây Qua trị số trên ta thấy dòng điện xoay chiều nguy hiểm hơn dòng điện một chiều và trị số dòng điện an toàn đối với con người. Điện xoay chiều: I nhỏ hơn 10mA Điện một chiều: I nhỏ hơn 50mA 3.1.6. Ảnh hưởng của thời gian điện giật Thời gian tác động của dòng điện lên cơ thể gây ra các biểu hiện hình thái khác nhau. Dòng điện tác dụng càng lâu thì điện trở người càng giảm xuống do da bị đốt nóng. Khi thời gian tác dụng ngắn thì mức độ nguy hiểm phụ thuộc vào nhịp tim. Mỗi chu kỳ của nhịp tim khoảng 1 giây. Trong chu kỳ của nhịp tim có thời gian nghỉ khoảng 0,1 giây. Ở thời gian nghỉ này tim rất nhạy cảm với dòng điện. Nếu thời gian tác dụng của dòng điện lớn hơn 1 giây có khả năng trùng vào thời điểm nghỉ của tim. Thí nghiệm cho thấy khi mặc dù có dòng điện lớn qua tim nhưng không trùng với thời gian nghỉ của tim thì khả năng nguy hiểm giảm đáng kể. Theo Ủy ban điện quốc tế - IEC, thời gian tiếp xúc cho phép của dòng điện theo bảng sau: Bảng 3.2. Điện áp và thời gian tiếp xúc cho phép. Điện áp tiếp xúc (V) Thời gian tiếp xúc (s) <50 <120 >5 50 120 5 75 140 1 90 160 0,5 110 175 0,2 150 200 0,1 220 250 0,05 280 310 0,03 Trang 58 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 3.1.7. Đường đi của dòng điện qua người Tùy theo đường đi của dòng điện qua người mà mức độ nguy hiểm khác nhau, chủ yếu là do phần trăm tỷ lệ dòng điện qua tim. Bảng 3.3. Tỉ lệ dòng điện qua tim. Đường đi của dòng điện qua người % dòng điện qua tim Từ tay qua tay 3,3 Từ tay phải qua chân 6,7 Từ tay trái qua chân 3,7 Từ chân qua chân 0,4 3.1.8. Ảnh hưởng của tần số dòng điện Tần số dòng điện giật càng cao thì điện trở người càng cao do đó mức độ nguy hiểm càng giàm. Bảng 3.4. Ảnh hưởng của tần số dòng điện giật. Tần số Hệ thống Ứng dụng Tác hại DC–10 kHz Tần số thấp Điện thương mại, chữa Gia nhiệt Joule; phá hủy bệnh mô mềm; điện kích điện thế màng tế bào thích xuyên da 100 kHz100 MHz Tần Radio 100 MHz100 GHz Vi sóng Lò vi sóng Cơ thể trở thành chất điện môi làm nóng 1013–1014 Hz Hồng ngoại Gia nhiệt; CO2 lasers Cơ thể trở thành chất điện môi làm nóng số Liệu pháp điện; đốt điện 1014–1015 Hz Ánh sáng Thiết bị laser quang học thấy được 1015 Hz trở lên Gia nhiệt Joule; sự phát nhiệt điện môi của protein Tổn thương võng mạc; phản ứng quang hóa Bức xạ ion Xạ trị; X-quang; Liệu Tạo ra các gốc tự do hóa pháp tia cực tím Trang 59 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 3.1.9. Hồ quang điện Đối với điện áp cao (lớn hơn 1.000V) khi người đến gần chưa chạm vào vật mang điện thì hồ quang điện đã phóng vào người, và bị một dòng điện chạy qua người, nếu không tách ra được nguồn điện, hồ quang phóng kéo dài làm người vừa bị cháy, vừa bị điện giật dẫn đến tử vong. 3.2. Nguyên tắc phòng chống tai nạn điện 3.2.1. Các mối nguy hiểm Tiếp xúc trực tiếp mạng điện hạ thế - Vô ý va chạm vào đường dây tải điện. - Dây bị đứt rơi chạm vào người. - Chất bọc cách điện dây bị tróc, hở hoặc không còn tính cách điện nữa. - Các mối nối không được bọc cách điện. - Không đảm bảo được khoảng cách an toàn. Tai nạn do dùng sai quy cách kỹ thuật - Mắc đèn chiếu sáng dùng dây trung tính cắm xuống đất hoặc buộc vào các bộ phận kim loại như hàng rào… - Đứng trên dụng cụ bằng kim loại để sửa điện như thang nhôm, ghế sắt… - Cầu dao điện thiếu nắp đậy kín, không có bao che. - Động cơ điện không có hộp đậy đầu dây. - Bảng điện để hở. - Lắp đặt khí cụ ngắt điện ở vị trí nguy hiểm. - Lắp đặt đường dây tạm thời thiếu an toàn. 3.2.2. Các biện pháp phòng chống tai nạn điện Để bảo vệ an toàn khi sử dụng điện, người ta áp dụng các biện pháp cơ bản sau đây: sử dụng dòng điện ở mức an toàn; che chắn các thiết bị có điện áp cao nguy hiểm; bảo vệ nối đất, có các thiết bị tự động, dùng các phương tiện phòng hộ… 3.2.2.1. Điện áp an toàn. Trong nhiều trường hợp khó dự đoán trị số dòng điện qua người vì phụ thuộc vào các điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, do vậy trong thực tế người ta dùng trị số điện áp để xác định giới hạn an toàn cho người sử dụng gọi là điện áp an toàn. - Điện áp 36V đối với nơi làm việc khô ráo, mát mẻ, nền nhà làm bằng vật liệu không dẫn điện, không có bụi dẫn điện. Trang 60 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Điện áp 24V ứng với nơi làm việc bẩn, ẩm ướt, có bụi dẫn điện, sàn thao tác vật liệu dẫn điện. - Điện áp 12V ứng với nơi làm việc có hai hay nhiều yếu tố đã nói trên, hoặc làm việc trong thùng kín. Theo TCVN điện áp an toàn là 42 V đối với dòng điện xoay chiều và 50 V đối với dòng điện 1 chiều. Đối với các đèn xách tay lưu động hoặc các dụng cụ cầm tay sử dụng điện được quy định điện áp an toàn sau: - Ở nơi ẩm ướt hoặc môi trường kim loại dẫn điện: điện áp 12V - Ở nơi khô ráo bình thường: 36V Khi sử dụng máy hàn điện thì điện áp của máy hàn khi không tải không được vượt quá 80V. Nhưng khi sử dụng hàn nơi ẩm ướt thì điện áp trên là điện áp nguy hiểm nhất là khi thay que hàn cần thật cẩn thận và phải dùng các bảo hộ cách điện. Trong một số trường hợp phải sử dụng biến áp cách ly để hạ thấp điện áp sử dụng. 3.2.2.2. Che chắn cơ khí Để bảo vệ an toàn đối với người, người ta dùng những che chắn bảo vệ gồm các máy có điện áp nguy hiểm hoặc cách ly chúng bằng một khoảng cách an toàn. Lập vùng nguy hiểm riêng có rào ngăn và biển báo hiệu trong trường hợp điện trung thế để mọi người đều biết và phải cẩn thận khi đến gần hoặc tiếp xúc. Hình 3.4. Cách ly trạm biến áp. Trang 61 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 3.2.2.3. Bảo vệ bằng nối đất Máy móc khi vận hành bình thường thì các bộ phận thường không mang điện áp. Trường hợp có sự cố điện va chạm vỏ xảy ra thì toàn khối máy sẽ mang điện áp nguy hiểm. Người chạm phải sẽ là cầu nối mang điện từ vỏ máy qua người đến đất dẫn đến bị điện giật. Hoặc trong trường hợp cách điện bị hư hỏng, bị đánh thủng cũng vậy. Để tránh tình trạng trên người ta nối vỏ máy với đất bằng một dây dẫn điện với hệ thống nối đất. Hệ thống nối đất gồm dây dẫn điện có điện trở nhỏ và thanh hoặc cọc nối đất. Những bộ phận sau đây cần phải được nối đất: - Vỏ các máy phát điện, động cơ điện, máy biến thế và các thiết bị điện. - Các bộ phận chuyển động của thiết bị điện. - Các cuộn thứ của máy biến thế. - Các khung của tủ điện, tủ phân phối điện. - Các kết cấu kim loại của thiết bị phân phối điện. Dây nối đất lớn để đảm bảo ổn định về cơ và nhiệt ứng với quy định cho từng loại thiết bị sử dụng điện, với R = 0,5 Ω. Nối đất theo sơ đồ dưới đây được coi là an toàn nhất: Vỏ thiết bị Hình 3.4. Bảo vệ nối đất. Hình 3.5. Sơ đồ nối đất. Trong một số trường hợp cần thiết phải dùng bộ phận ngắt điện tự động khi có dòng điện xuất hiện trên vỏ máy như các loại kiềm hàn của máy hàn, đầm rung, máy nâng, máy mài tay, máy khoan tay… Đa số các loại máy này thường di động nên phải kéo tạm đường dây theo máy xa nguồn điện, vì vậy để bảo vệ người sử dụng điện máy cầm tay có các biện pháp sau: - Vỏ được nối với dây trung tính hoặc dây đất tại nguồn. Trang 62 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hình 3.6. Nối đất kết hợp cầu chì ngắt quá tải thiết bị. - Dùng một bộ phận ngắt điện tự động khi có điện chạm mát ra vỏ. - Người sử dụng phải luôn dùng các dụng cụ bảo hộ và an toàn điện như ủng, bao tay… 3.2.3. Những quy định về an toàn điện trong bộ phận sản xuất Trong bộ phận sản xuất, người phụ trách an toàn phải nghiêm ngặt thực hiện các biện pháp bảo vệ an toàn điện như trên đồng thời phải kiểm tra đôn đốc mọi người thi hành nội qui bảo vệ an toàn điện. Nội qui đó thường bao gồm các quy định chính sau đây: - Bảo quản tốt các thiết bị, phương tiện bảo vệ như nắp cầu dao, thiết bị nối đất bảo vệ, không tự ý thay đổi đèn chiếu sáng cục bộ 12V hoặc 36V thành điện áp 110V – 220V. - Khi sửa chữa làm vệ sinh công nghiệp các thiết bị điện, cần phải cắt điện và treo bảng cấm đóng điện tại vị trí có thiết bị đóng ngắt. - Ở những nơi cần thiết có đặt bảng cần chú ý và nói rõ sự nguy hiểm chết người. Điều kiện an toàn vận hành thiết bị điện - Các thiết bị điện phải được tính toán thiết kế phù hợp, xây dựng, lắp đặt, bảo quản sao cho không có nguy cơ giật hay cháy điện khi sử dụng. - Các bảng điện, hệ thống điều khiển điện cần được đặt trong một phòng riêng và chỉ có chuyên viên kỹ thuật điện mới được phép vào. Thậm chí khi đã được đặt vào phòng riêng vẫn phải được che chắn để tránh sự cố vô tình tiếp xúc khi qua lại. - Có khả năng bảo vệ chống dòng điện quá tải. Trang 63 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Thiết bị và mạch điện phải được lắp đặt sao cho thành từng phân đoạn để có thể được cách ly khi cần thiết. - Bảng điều khiển phải bằng vật liệu cách điện và các đầu nối trên bảng điều khiển phải được bọc cách điện. - Khu vực thao tác điện phải có đủ không gian, lối ra vào để làm việc an toàn. - Các vật dẫn điện phải được bọc bằng một lớp cách điện, hoặc phải có biện pháp phòng ngừa khác. - Cáp điện phải được đặt trong ống bảo vệ để chịu được các tác động từ bên ngoài. Sử dụng loại dây điện và cáp điện có hai lớp bọc cách điện với lớp thứ hai có tác dụng bảo vệ chống lại những hư hỏng vật lý. - Các thiết bị điện cần thiết phải nối đất phòng ngừa một cách hiệu quả khả năng bị điện giật: như tủ điện, máy phát điện dự phòng . . . Cách ly và ngắt nguồn điện Hệ thống điện phải được lắp đặt thiết bị ngắt nguồn và cách ly nguồn. Cần phân biệt sự khác nhau giữa ngắt nguồn và cách ly nguồn. Ngắt nguồn có thể được thực hiện qua các công tắc trên hay gần thiết bị sử dụng, còn cách ly nguồn là biện pháp bảo đảm nguồn bị tắt và không được nối lại một cách bất thình lình. Các phương tiện ngắt nguồn điện phải được đánh dấu rỏ ràng, dễ tiếp cận. Có thể tắt thiết bị trong mọi điều kiện. Các phương tiện cách ly nguồn điện phải dùng khóa móc để ngăn ngừa việc vô tình nối lại nguồn điện. Đánh dấu các phương tiên cách ly liên quan đến thiết bị nào. Làm việc trên hoặc gần các hệ thống điện: Các công việc như sử dụng điện, sửa chữa điện, bảo dưỡng hệ thống điện đôi khi phải làm việc trên hệ thống điện có mang điện. Khi bắt buộc phải làm việc trên hoặc gần hệ thống điện có mang điện phải trang bị bảo hộ cách điện như găng tay, giày cách điện. Làm việc trên hệ thống điện không điện: Khi làm việc trên hệ thống điện trong tình trạng không điện phải tuân thủ một số nguyên tắc sau: - Cách ly nguồn điện. - Tại vị trí cách ly phải treo biển báo “Cấm đóng điện “ - Tuân thủ các quy trình vận hành đã được thông qua. Trang 64 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 3.2.4. Cấp cứu khi bị tai nạn về điện. Nếu chẳng may tai nạn điện xảy ra, thì một cách xử lý kịp thời, chính xác có thể cứu sống nạn nhân, có thể khiến tình trạng của nạn nhân thêm trầm trọng. Người cấp cứu phải thực hiện theo các bước dưới đây: a- Tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện Khi xảy ra tai nạn điện giật, phải lập tức cắt cầu dao hoặc dùng vật cách điện (gậy gỗ, dây thừng khô…) để ngắt dòng điện qua người. Lúc kéo người bị nạn ra khỏi mạng điện phải đeo bao tay bằng cao su hoặc dùng các vật cách điện khác để kéo ra. Nếu người bị điện giật tuy đã tỉnh lại nhưng vẫn phải để cho người đó được yên tĩnh mời bác sĩ đến khám. Trong trường hợp người bị tai nạn mất tri giác nhưng còn hơi thở cần đặt cho người nằm thoải mái, nới thắt lưng, cởi áo ra cho mạch máu dễ lưu thông, đồng thời dùng khăn sạch xát cho người bị nạn nóng lên rồi đắp cho kín gió. b- Hô hấp nhân tạo Phương pháp thứ 1 (khi chỉ có 1 người cấp cứu) - Để người bị nạn nằm sắp xuống, kê gáy bằng vật mềm để đầu nạn nhân ngửa ra sau. - Mở miệng nạn nhân nếu nạn nhân ngậm kín miệng do hàm bị co cứng phải mở miệng ra bằng cách đặt tay vào góc dưới của hàm dưới tỳ ngón cái vào mép hàm đồng thời kéo lưỡi người bị nạn ra tránh lưỡi bị sụp xuống đóng thanh quản. - Người cấp cứu thổi một hơi thật mạnh vào miệng nạn nhân. Nếu không thổi vào miệng được thì thổi vào mũi. Nên dùng khẩu trang hoặc khăn sạch đặt lên miệng nạn nhân. - Lặp lại thao tác trên nhiều lần cho đến khi nạn nhân thở được, kết hợp xoa bóp ngoài lồng ngực. Phương pháp thứ 2 (nếu có 2 người cấp cứu) Trong trường hợp có 2 người cấp cứu thì một người thổi ngạt người kia xoa bóp tim cùng lúc. Người xoa bóp tim đặt hai bàn tay chồng lên nhau và đặt 1/3 lên xương ức của nạn nhân ấn khoảng 4 đến 5 lần thì dừng lại 2 giây để người thứ nhất thổi không khí vào phổi. Các thao tác phải liên tục cho đến khi nạn nhân có tín hiệu sống trở lại. Trang 65 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Chương 4. Kỹ thuật an toàn hóa chất 4.1. Tác động hóa chất nguy hại. Hóa chất độc trong công nghiệp là những chất dùng trong sản xuất, dù chr một lượng nhỏ xâm nhập vào cơ thể cũng gây nên những bệnh lý, Khi độc tính vượt quá giới hạn cho phép sức đề kháng của cơ thể yếu thì độc chất gây ra nhiễm độc nghề nghiệp. Tính độc hại của hóa chất phụ thuộc vào loại hóa chất, nồng độ, thời gian tồn tại trong môi trường mà người lao động tiếp xúc với nó. Các hóa chất độc có thể thâm nhập vào cơ thể bằng đường hô hấp, tiêu hóa và tiếp xúc qua da. 4.1.1. Các định nghĩa cơ bản. 4.1.1.1. Hóa chất độc hại. Các chất hóa học là các nguyên tố hóa học và các hợp chất của chúng ở trạng thái tự nhiên hoặc thu được từ quá trình sản xuất, kể cả bằng cách sử dụng bất kỳ chất phụ gia nào cần thiết để duy trì sự ổn định của chúng và bất kỳ tạp chất nào phát sinh từ quá trình đã sử dụng; chúng không bao gồm các dung môi có thể được tách ra mà không ảnh hưởng đến sự ổn định của chất hoặc thay đổi thành phần của nó. Hóa chất nguy hiểm và chế phẩm nguy hiểm là chất và chế phẩm gây nguy hiểm cho sức khỏe con người hoặc môi trường. Chúng được phân loại thành ít nhất một trong các loại sau: độc hại cao, độc hại, có hại, ăn mòn, gây kích ứng, nhạy cảm, gây ung thư, gây đột biến, độc hại cho sinh sản, dễ cháy, cực kỳ dễ cháy, nổ, oxy hóa và nguy hiểm cho môi trường. 4.1.1.2. Phân loại các hóa chất nguy hại: a- Hóa chất cháy nổ: - Hóa chất gây cháy nổ ở dạng lỏng: Các chất thuộc dãy hydrocacbon như: xăng, benzen, toluen. Ngoài ra còn có các chất thuộc loại ete như axeton v.v… - Hóa chất gây cháy nổ dạng rắn: lưu huỳnh, các loại sợi, các loai muối như natri nitrat, kali clorat v.v… - Hóa chất dễ cháy dạng khí: gồm các khí thuộc dãy hydrocacbon như metan, etylen, axetylen v.v… b- Hóa chất gây bỏng da: Trang 66 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Axít đặc, kiềm đặc và loãng như: vôi tôi, NH3 c- Các chất có hơi độc: - Các chất kích thích đường hô hấp trên và phế quản: hơi clo (Cl2 ), NH3 , SO3 - Các chất làm người bị ngạt như: CO2, CO, 4.1.2. Tác động và ảnh hưởng của hóa chất nguy hại. 4.1.2.1. Các hình thức ngộ độc. Ngộ độc hóa chất xảy ra khi tiếp xúc với các chất hoặc chế phẩm hóa học vượt quá giới hạn khả năng của con người, tức là khi cơ thể không thể loại bỏ những chất này hoặc bằng cách tiêu hóa hoặc bài tiết. Ngộ độc có thể được chia thành các nhóm sau theo mức độ tiếp xúc và thời lượng: - Cấp tính: Tác động có hại do một chất hấp thụ vào cơ thể gây ra với liều lượng cao hoặc một lần; xảy ra trong một khoảng thời gian tương đối ngắn (trong vòng 24 giờ). - Mãn tính: Các tác dụng có hại xảy ra sau khi tiếp xúc lâu dài với liều lượng thấp hoặc nồng độ của các chất có trong môi trường công nghiệp hoặc môi trường sống, chẳng hạn như ô nhiễm không khí, nước hoặc thực phẩm. Nhiễm độc nghề nghiệp thường là mãn tính. Phản ứng của cơ thể đối với hóa chất phụ thuộc vào các đặc tính hóa lý và đường hấp thụ của hóa chất, sức khỏe, giới tính và tuổi của người bị phơi nhiễm, và tình trạng của cả nội tiết và hệ thống miễn dịch, ngoài các yếu tố bên ngoài như nhiệt độ, tiếp xúc thời kỳ và độ ẩm. Sự nhiễm độc hóa chất xảy ra khi tiếp xúc lâu dài sẽ dẫn đến ung thư, ảnh hưởng đến thận, bào thai và khả năng sinh sản cả nam lẫn nữ. 4.1.2.2. Ảnh hưởng của hóa chất độc hại đối với cơ thể người. a- Tác động đến đường hô hấp Đường hô hấp là đường vào chủ yếu nhất trong sự tiếp xúc hóa chất. Trong khi thở hóa chất trong không khí vào mũi hoặc miệng qua họng đến khí quản và cuối cùng là phổi. Tại phổi hóa chất độc hại lắng đọng lại hoặc qua thành mạch máu vào máu. Hóa chất gây kích thích niêm mạc đường hô hấp gây ra viêm họng hoặc nặng hơn nữa khi hóa chất thâm nhập sâu vào phổi làm tổn thương phổi. Với nồng độ cao gây ảnh hưởng cấp tính như đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn thậm chí có thể gây tử vong. b- Tác động đến da Sự hấp thụ hóa chất qua da làm viêm da, làm cho da bị khô. Và có thể xuất hiện sần da làm ngứa ngày dẫn đến làm tổn thương da. c-Tác động đến đường tiêu hóa Trang 67 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hóa chất thâm nhập vào đường tiêu hóa do ăn hoặc uống hoặc nhiếm do bụi hóa chất hòa tan trong không khí. 4.1.3. Một số hóa chất nguy hại thường gặp và sự nhiếm độc nghề nghiệp. - Chì và hợp chất của chì: Chì xuất hiện dưới dạng nguyên chất hoặc hợp chất như PB(C2H5)4 , PB(CH3)4. Những chất này pha vào xăng để chống kích nổ. Tác hại của chì làm rối loạn việc tạo máu của cơ thể, rối loạn hệ tiêu hóa, suy hệ thần kinh, viêm thận. Nhiễm độc chì mãn tính gây mệt mỏi, mất ngủ, kém ăn, nhức đầu, đau cơ và xương, táo bón. Nhiếm độc ở dạng nặng có thể liệt chi, tai biến mạch máu não. Nguy cơ này xảy ra ở các ngành in ấn, làm bình ắc quy. - Cacbon ô xít (CO): Cacbon ô xít là khí không màu, không mùi, không kích thích do sự cháy không hoàn toàn phát sinh trong các phân xưởng đúc, rèn, nhiệt luyện và trong động cơ đốt trong. Khí CO gây ngạt thở hóa học, đau đầu, ù tai, chóng mặt, buồn nôn. Khi bị trúng độc nặng có thể bị ngất xỉu hoặc tử vong. - Thủy ngân và hợp chất của thủy ngân: Thủy ngân (Hg) dùng trong công nghiệp chế tạo muối thủy ngân trong các loại thiết bị điện và linh kiện điện tử, , làm thuốc lợi tiểu, thuốc tẩy giun. Thủy ngân và hợp chất của nó gây ra nhiễm độc mãn tính, gây viêm lợi, viêm miệng, viêm họng, rối loạn chức năng gan, gây buồn ngủ, trí nhớ kém v.v… - Asen và hợp chất của asen: Các hợp chất asen như As2O3 dùng làm thuốc diệt chuột, trừ sâu; AsCl3 để sản xuất đồ gốm, As2O5 dùng trong sản xuất thủy tinh, bảo quản gỗ, diệt cỏ, diệt nấm. Nhiễm độc asen cấp tính gây đau bụng, nôn, viêm thận, viêm thần kinh ngoại biên. Làm cơ tim bị tổn thương và có thể gây chết người. Nhiễm độc asen mãn tính gây viêm da mặt, viêm mũi kích thích, thủng vách ngăn mũi, viêm da thể chàm, gây động mạch vành, thiếu máu v.v… - Benzen: Benzen dùng làm dung môi hòa tan dầu, mỡ, keo dán, trong kỹ nghệ nhuộm, dược phẩm, nước hoa. Benzen vào trong cơ thể chủ yếu bằng đường hô hấp gây ra chứng thiếu máu nặng, chảy máu răng, lợi. Khi bị nhiễm nặng có thể suy tủy, nhiễm trùng huyết, giảm hồng cầu và bạch cầu. Nhiễm độc nặng có thể gây cho thần kinh trung ương bị kích thích quá mức. Trang 68 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 4.1.4. Các hóa chất sử dụng trong ngành dệt may. a- Thuốc nhuộm azo Thuốc nhuộm từ các hợp chất Azo có thể thâm nhập vào cơ thể, phân hủy trong hệ trao đổi chất của cơ thể và sinh ra chất Aromatic amine. Các nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng, nhóm hợp chất hữu cơ có cấu trúc thơm và nhóm thế là amine thường có độ pH lớn hơn 7, khi tiếp xúc với nồng độ cao sẽ gây dị ứng da. Khi nồng độ cao hơn các giới hạn cho phép, người sử dụng tiếp xúc lâu dài với các amin thơm vì có phản ứng phân hủy khử của các hợp chất Azo nên có thể gây ra nguy cơ ung thư. Các nguồn phơi nhiễm của chất này rất rộng, tác động đến cả người thực hiện, tiêu dùng và cả người sống trong vùng có chất này phát tán. b- Các chất tẩy Trong xà phòng có chất dioxan là chất có khả năng gây ung thư. Dioxan là một chất gây kích ứng mắt và màng nhầy; khi tiếp xúc lâu, nó gây độc cho gan và thận. Nó là chất gây ung thư trên động vật thí nghiệm. c- Các hóa chất tẩy trắng Các chất tẩy trắng vô cơ chủ yếu là các chất oxy hóa gồm hydrogen peroxide (ôxy già ) và hypochlorite (Javen). Hydrogen peroxide là một chất gây kích ứng của mắt, màng nhầy. và da. Ở người, hít phải hơi hoặc sương mù có nồng độ cao có thể gây ra kích ứng và viêm mũi và họng. Ngộ độc toàn thân nghiêm trọng cũng có thể gây nhức đầu, chóng mặt, nôn mửa, tiêu chảy, run, tê, co giật, phổi phù nề, bất tỉnh và sốc. Hydrogen peroxide phản ứng với acetic accid để tạo thành peroxyacetic acid (chất khử trùng), mà có các tính chất gây đột biến gen. Ngoài ra, nguy cơ nổ phải được xem xét cho các công thức cô đặc. Hypochlorite có đặc tính ăn mòn nên khi tiếp xúc rất dễ bị bỏng da, mắt. Ngoài ra, nó còn tạo ra khí độc, gây kích ứng cho hệ hô hấp khi bị trộn lẫn với các chất tẩy rửa khác như axit, amoniac. d- Các hóa chất giặt khô Một số loại các hóa chất được sử dụng tẩy hàng may mặc và làm sạch máy gồm: - Ethanol dạng rượu etylic là một chất gây kích ứng mắt và màng nhầy và nguyên nhân suy nhược hệ thần kinh trung tâm; liều lượng quá mức có liên quan đến sự phát triển ảnh hưởng và các bệnh ung thư khác nhau. Một số tác dụng phụ đã được báo cáo trong con người do tiếp xúc qua da hoặc hít phải. - Acetic acid ester dạng lỏng. Hơi axit axetic là một chất gây kích ứng nghiêm trọng đối với mắt, niêm mạc và da; tiếp xúc mãn tính có thể gây viêm phế quản và nứt nẻ và sậm màu vùng da tiếp xúc. Tiếp xúc với nồng độ 50 ppm trở lên là không Trang 69 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may thể chấp nhận được cho hầu hết mọi người và kết quả là chảy nước mắt và kích ứng mắt, mũi và cổ họng, với phù nề hầu họng và viêm phế quản mãn tính. - Các hydrocacbon chứa clo như perchloroethylene. Perchloroethylene gây suynhược hệ thần kinh trung ương và chấn thương gan. Phơi nhiễm mãn tính sẽ gây ra bệnh thần kinh ngoại vi, và nó là chất gây ung thư ở động vật thí nghiệm. Tiếp xúc nghề nghiệp đã gây ra các dấu hiệu và các triệu chứng của suy nhược hệ thần kinh trung ương, bao gồm chóng mặt, choáng váng, khó khăn trong việc đi lại. Tiếp xúc kéo dài đã gây ra suy giảm trí nhớ, tê bì tứ chi và bệnh thần kinh ngoại vi, bao gồm cả thị lực bị suy giảm. Nghiên cứu trong số 40 công nhân giặt khô, 16 người đã xuất hiện dấu hiệu của suy nhược hệ thần kinh trung ương và 21 trường hợp, hệ thống thần kinh tự chủ đã cũng bị ảnh hưởng. 20 công nhân giặt khô tiếp xúc trung bình 7,5 năm với nồng độ từ 1 đến 40ppm đã thay đổi đánh giá điện học và thần kinh. - Dichloromethane còn gọi là Methylene clorua làm suy nhược hệ thần kinh và mắt, chất kích ứng da và đường hô hấp. Nồng độ vượt quá 50.000ppm được cho là có thể đe dọa tính mạng ngay lập tức. Nghiên cứu 4 công nhân tiếp xúc với không được đo lường nhưng cao nồng độ metylen clorua trong 1–3 giờ có giảm kích ứng mắt và đường hô hấp và giảm số lượng huyết sắc tố và hồng cầu; tất cả các trở nên hôn mê, và một người đã chết. Tiếp xúc nhiều lần với nồng độ từ 500 đến 3600ppm đã phát triển các dấu hiệu của bệnh nhiễm độc não. Công nhân làm việc trong quá trình tẩy dầu mỡ kim loại các bộ phận đã tiếp xúc ngắn với nồng độ hơi rất cao có sự mệt mỏi quá mức, suy nhược, buồn ngủ, choáng váng, ớn lạnh và buồn nôn; phù phổi. - Trichloroethylene (TCE) chủ yếu là chất gây suy nhược hệ thần kinh trung ương. Mặc dù nó là chất gây ung thư ở liều lượng cao ở động vật thí nghiệm, nhưng nó không được coi là là chất gây ung thư ở người ở mức độ phơi nhiễm thấp. Một số triệu chứng rối loạn thần kinh trung ương như chóng mặt, choáng váng, hôn mê và suy giảm trong các bài kiểm tra phản ứng thị giác. - Cacbon tetraclorua nguyên nhân suy nhược hệ thống thần kinh trung ương và nghiêm trọng tổn thương gan và thận; nó là chất gây ung thư trên động vật thí nghiệm và đã được xếp vào loại có khả năng gây ung thư cho con người. Phần lớn các trường hợp tử vong là do suy thận suy tim thứ phát. - Các chất hoạt động bề mặt, các carbonic acid và các trợ chất khác. e- Các chất bảo quản - Formaldehyde dùng trong công nghiệp dệt để chống nhăn, chống nấm mốc. Formaldehyde là chất gây kích ứng mắt và đường hô hấp; nó gây ra cả hai viêm da kích ứng và mẫn cảm nguyên phát; ở mức độ cao nó là chất gây ung thư trong thực nghiệm động vật và, mặc dù kết quả không giống nhau trong con người, nó được coi là một chất bị nghi ngờ gây ung thư cho con người. Trang 70 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Kích ứng mắt nhẹ với chảy nước mắt và các triệu chứng thoáng qua khác của kích ứng màng nhầy đã được quan sát thấy ở một số người ở nồng độ 0,1–0,3ppm. Tuy nhiên, hầu hết mọi người đều có cảm giác ngứa ran ở mắt, mũi và họng sau không có kinh nghiệm cho đến 2–3ppm.1,2 Một số khoan dung xảy ra, do đó, phơi sáng lặp lại 8 giờ ở mức này là có thể. 3 Ở mức 4–5ppm kích ứng của màng nhầy tăng lên và chảy nước mắt. Kích ứng cấp tính đường hô hấp của con người do hít phải hàm lượng caoformaldehyde đã gây ra phù phổi, Dung dịch 25–44% văng vào mắt gây thương tích nặng và tổn thương giác mạc. Formaldehyde là một trong những chất nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh nghề nghiệp da; viêm da kích ứng là kết quả của việc tổn thương trực tiếp đến da và được đặc trưng bởi mẩn đỏ và dày lên của các khu vực bị ảnh hưởng. Trong trường hợp nghiêm trọng hơn có thể bị phồng rộp, đóng cặn và hình thành các vết nứt. 4.2. Biện pháp an toàn hóa chất. Biện pháp chung. - Thay thế các hóa chất hoặc các quá trình sản xuất nguy hiểm và độc hại bằng các chất hoặc quá trình ít nguy hiểm hoặc ít độc hại hơn. - Thiết lập khoảng cách an toàn hoặc che chắn giữa người lao động và hóa chất để hạn chế sự tiếp xúc trực tiếp với hóa chất. - Tự động hóa quá trình sản xuất. - Giảm nồng độ của hóa chất bằng các biện pháp kỹ thuật thông gió, hút khí hoặc bụi độc. Biện pháp phòng hộ cá nhân. - Trang bị dụng cụ bảo hộ lao động để bảo vệ cơ quan hô hấp, bảo vệ mắt, bảo vệ thân thể như: mặt nạ phòng độc, găng tay, khẩu trang. Biện pháp y tế: - Xử lý chất thải hóa chất trước khi thải ra ngoài. - Có kế hoạch kiểm tra sức khỏe định kỳ và bồi dưỡng bằng hiện vật. - Vệ sinh cá nhân nhằm giữ cho cơ thể sạch sẽ. Biện pháp sơ cấp cứu: Khí có nạn nhân bị nhiễm cần tiến hành các biện pháp sơ cấp cứu như sau: - Đưa bệnh nhân ra khỏi nơi nhiễm độc, thay bỏ quần áo nhiễm độc, giữ yên tĩnh và ủ ấm cho bệnh nhân. - Sử dụng thuốc trợ tim hay hô hấp nhân tạo cho nạn nhân sau khi đảm bảo rằng khí quản được thông suốt. Nếu bị bỏng do nhiệt phải cấp cứu bỏng. Trang 71 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Rửa sạch da bằng xà phòng nơi bị nhiếm độc kiềm, rửa sạch bằng nước sạch nơi bị nhiễm độc axít. - Sử dụng chất giải độc như dùng than hoạt tính sau khi gây nôn xong. - Nếu bệnh nhân bị nặng phải đưa đi bệnh viện kip thời. Trang 72 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Chương 5 Kỹ thuật an toàn cơ khí và thiết bị chịu áp lực 5.1. Kỹ thuật an toàn trong vận hành thiết bị cơ khí Trong sản xuất công nghiệp vấn đề cơ khí hóa quá trình sản xuất đã làm tăng năng suất và giải phóng sức lao động. Do vậy, người lao động luôn phải làm việc với các máy móc, thiết bị và tai nạn lao động khi sử dụng chúng rất dễ xảy ra. Người lao động tiếp xúc trực tiếp với nhiều đối tượng cơ học liên quan đến công việc bao gồm công cụ, máy móc, thiết bị hoặc thiết bị đo đạc tại xưởng, nguyên liệu thô, bán thành phẩm, v.v. có thể được coi là nguồn gây ra các nguy cơ cơ học tiềm ẩn — chủ yếu là chấn thương. Mối nguy cơ học là một nhóm mối nguy vật lý rất quan trọng, duy nhất được tạo ra bởi quá trình làm việc, mà hậu quả của chúng là tức thời vì sự kết hợp của nhiều khía cạnh khác nhau. 5.1.1. Phân tích các mối nguy hại cơ khí. Cấu tạo chung của máy móc thường có các bộ phận chính gồm: bộ phận động lực, bộ phận truyền lực và bộ phận công tác. Bộ phận động lực cung cấp cho máy móc thiết bị năng lượng cho nó chuyển động. Phần lớn bộ phận động lực là các động cơ điện 3 pha hoặc 1 pha. Trong trường hợp khác bộ phận động lực dưới dạng các cơ cấu thủy lực hoặc khí nén. Bộ phận truyền lực nhận năng lượng trực tiếp hoạc gián tiếp từ bộ phận động lực có có nhiệm vụ truyền động cho bộ phận công tác và đồng thời nó còn là các cơ cấu biến chuyển động quay của động cơ điện thành chuyển động tịnh tiến hoặc chuyển động quay của cho bộ phận công tác. Do vậy, bộ phận truyền động có thể động quay, chuyển động tịnh tiến . . . Ví dụ các bộ phận truyền động thường sử dụng trong máy móc gồm: cơ cấu truyền động dây đai, cơ cấu truyền động xích, cơ cấu truyền động bánh rang v.v… Bộ phận công tác là bộ phận tác động trực tiếp vào đối tượng gia công. Sự chuyển động của bộ phận công tác có thể chuyển động tình tiến, chuyển động song phẳng, chuyển động quay, hoặc chuyển động phức tạp tùy thuộc vào đối tượng gia công. Do đó nguồn gốc của các mối nguy hiểm cơ học bao gồm: - Máy móc chuyển động và đồ vật được vận chuyển. - Bộ phận truyền động. - Các bộ phận cắt, các cạnh sắc, các bộ phận nhô ra. - Các phương tiện tiếp cận (cầu thang, lối đi, lối ra vào). - Vị trí máy so với mặt đất (làm việc ở độ cao hoặc độ sâu). - Điện giật. - Rung động Trang 73 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Nhiệt độ. Ngoài ra còn có các mối nguy hại khác như: - Vật rơi. - Chất lỏng áp suất cao. - Bề mặt thô ráp, trơn trượt. - Tia chất lỏng áp suất cao. Các tác hại kể trên dẫn đến tổn thương thân thể hoặc tổn hại sức khỏe. Bảng 5.1. Ví dụ các nguy hiểm cơ khí Sơ đồ cơ cấu cơ khí Diễn giải Nguy hại Các thông số cơ bản rủi ro ảnh hưởng đến nghề nghiệp - Trục cán. - Bị kẹt, nghiền. - Bánh răng. - Dập. - Mômen, quán tính (khối lượng và tốc độ), - Trục Băng chuyền. - Cuốn - Máy cưa vòng, máy cưa dĩa - Cắt đứt - Cắt và tốc độ ăn dao - Văng bắn - Lắp công cụ, lực - Băng tải, - Kẹt, - Mô-men xoắn, - Dây đai - Va đập - Kích thước, - Cuốn. - Tốc độ. - Hình dạng, kích thước, bề mặt - Điều kiện, khả năng tiếp cận - Đai puly - Mômen quán tính, - Trục vít - khả năng tiếp cận * Vùng nguy hiểm: Vùng nguy hiểm là khoảng không gian có sự chuyển động của các cơ cấu máy móc hoặc xung quanh máy móc nơi người đang tiếp xúc với một mối nguy hiểm có thể gây ra chấn thương cho cơ thể như va chạm và văng bắn vào. Phạm vi của của vùng nguy hiểm trong một số trường hợp có thể không xác định chính xác được. tuy nhiên, chúng ta có thể thu hẹp, quản lý và vô hiệu hóa chúng bằng các biện pháp kỹ thuật an toàn để bảo đảm cho người vận hành máy móc, thiết bị. Mặt khác sự chuyển động của cơ thể và các bộ phận cơ thể có thể rơi vào các trường hợp giới hạn kích thước gây ra nghiền nát các bộ phận của cơ thể người (xem hình 5.1). Khoảng cách tối thiểu cần thiết giữa bộ phận cố định và di chuyển một Trang 74 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may phần hoặc giữa hai bộ phận chuyển động để tránh rủi ro trên được quy định trong tiêu chuẩn PN-EN 349 và dựa trên các phép đo nhân trắc học của cơ thể người mặc trang phục làm việc. Khi thiết kế quá trình không đảm bảo những khoảng trống này có thể tồn tại, các biện pháp phải được thực hiện để ngăn chặn con người xâm nhập vào khu vực nguy hiểm này. Ví dụ, bằng cách làm cho khu vực nguy hiểm không thể tiếp cận được. Hình 5.1. Mối nguy do bị kẹt bởi không gian hẹp. Nguyên nhân gây ra tai nạn lao động khi sử dụng máy móc, thiết bị rất đa dạng phụ thuộc vào các yếu tố như chất lượng máy, tính chất quy trình công nghệ, việc tổ chức nơi sản xuất và trình độ tay nghề của người công nhân. Có thể phân loại như sau: * Nguyên nhân do thiết kế: Các nguy cơ cơ học có thể được giảm thiểu, nếu không được loại bỏ trong giai đoạn thiết kế máy và thiết bị. Ở những giai đoạn này, nhà thiết kế quyết định hình dạng và kích thước của các đối tượng cũng như cách bố trí và vị trí tương đối của chúng, các thông số động học và các yếu tố khác ảnh hưởng đến mức độ rủi ro. Người lao động cũng cần được tạo cơ hội để tránh các tình huống nguy hiểm hoặc ít nhất là giảm nhẹ hậu quả. Hình dạng và kích thước của các yếu tố trong thiết kế ảnh hưởng đến hình dạng và kích thước của vùng nguy hiểm. Ví dụ, nơi hai con lăn tiếp xúc với nhau, vùng mà vật liệu được hút vào và bị mắc kẹt giả định có dạng của một cái nêm có góc nhọn phụ thuộc vào đường kính con lăn. Mức độ càng lớn khi góc của nêm Trang 75 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may càng cao thì nguy cơ bị cuốn vào và mắc kẹt một bộ phận cơ thể như cánh tay, dẫn đến sự chấn thương dập nát. Thiết kế các không gian làm việc cần lưu ý đến các khu vực nguy hiểm cơ học sao cho các bộ phận cơ thể người không bị mắc kẹt vào. Ví dụ Hình 5.2, các kích thước tối thiểu phải lớn hơn kích thước các bộ phận cơ thể, nhằm loại bỏ khả năng bị chấn thương. Do đó, các nhà sản xuất thiết bị nên hướng tới việc đảm bảo rằng các khu vực nguy hiểm không trùng lặp với các khu vực có người hoạt động. Hình 5.2. Kích thước tối thiểu của các không gian làm việc. Trang 76 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Khi thiết kế máy không tính toán đầy đủ độ bền cơ học, khả năng chịu nhiệt, khả năng chịu bào mòn … khiến cho máy móc làm việc không ổn định. - Không có biện pháp chống rung động, chống sự tháo lỏng của của chi tiết làm cho một số bộ phận văng ra. - Thiết kế không phù hợp với người điều khiển, bố trí cơ cấu không phù hợp trong thao tác, điều khiển làm cho người điều khiển bị mệt mỏi, thao tác nhầm lẫn. - Không có bộ phận an toàn, hệ thống tín hiệu. * Nguyên nhân do chế tạo: - Vật liệu chế tạo không đúng yêu cầu của thiết kế về độ bền, chịu nhiệt, chịu mài mòn. - Phương pháp chế tạo không đúng quy trình công nghệ, không đúng kỹ thuật và không có độ chính xác. * Nguyên nhân do lắp đặt và bố trí máy. Sự lắp đặt máy móc, thiết bị không tốt không đúng kỹ thuật cũng dẫn đến tai nạn. Việc lắp đặt không đúng có khả năng tạo ra ứng suất lớn dẫn đến giảm độ chính xác của máy, tạo ra sự rung động của máy trong quá trình sử dụng dần dần làm biến dạng của chi tiết. Trong khi bố trí máy móc, thiết bị trong khu vực sản xuất không thỏa mãn các yêu cầu kỹ thuật an toàn và vệ sinh công nghiệp cũng dẫn đến tai nạn lao động. Thiết bị, máy móc không lắp đặt hệ thống nối đất có thể gây ra tai nạn liên quan đến điện. * Nguyên nhân do bảo quản và sử dụng: Những thiếu sót do việc bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị cũng dẫn đến sự cố cho thiết bị. Việc bảo dưỡng và sửa chữa không tốt dẫn đến giảm tuổi thọ của máy móc dễ gây ra sự cố bất thường: như không được bôi trơn dẫn đến mòn, gãy thiết bị. Khi sửa chữa máy không áp dụng các biện pháp an toàn như: cắt điện, treo biển báo v.v… Người vận hành và sử dụng các thiết bị, máy móc là nguyên nhân trực tiếp khi họ sử dụng không an toàn: - Sử dụng máy khi đang bị hư hỏng hoặc sử dụng máy quá tải. - Các thiết bị an toàn không bảo đảm kỹ thuật mà vẫn sử dụng. - Nhân viên sử dụng máy không chấp hành các quy trình an toàn: không sử dụng các trang thiết bị an toàn, châm dầu nhớt khi máy đang chạy v.v… Trang 77 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 5.1.2. Những biện pháp an toàn đối với các thiết bị cơ khí 5.1.2.1. Thiết bị an toàn. Trong các máy và thiết bị, bộ phận bảo vệ nên được thiết kế như một phần vốn có của nó được gọi là build-in. Bất kỳ bộ phận bảo vệ bổ sung nào phải được thiết kế để cung cấp sự bảo vệ cần thiết trong khi cho phép vận hành máy với mức tối thiểu của sự gián đoạn. Có nhiều loại bảo vệ và các kỹ thuật bảo vệ mà nhà thiết kế có thể sử dụng chẳng hạn như khóa liên động, các cảm biến áp suất, thiết bị bảo vệ điện cảm (rèm cửa quang điện) v.v ... Bảo vệ là một thuật ngữ chung đề cập đến các phương tiện được để bảo vệ tránh khỏi việc tiếp cận các bộ phận nguy hiểm của máy móc, thiết bị. a- Thiết bị che chắn Thiết bị che chắn có tác dụng ngăn cách vùng nguy hiểm đối với người công nhân trong quá trình sử dụng thiết bị. Che chắn các bộ phận truyền động như: trục truyền, bánh răng, dây xích, khớp nối trục. Tuy nhiên, các bộ phận che chắn không làm cản trở người điều khiển máy móc và trở thành nguyên nhân gây ra tai nạn cho chính người điều khiển. Tùy vào chủng loại và mức độ gây ra nguy cơ của từng thiết bị, các cơ cấu che chắn được chỉ định gồm: Bộ phận che chắn cố định Che chắn cố định được giữ cố định bởi hàn hoặc bằng dây buộc chỉ có thể được giải phóng bằng cách sử dụng một công cụ để tháo gỡ và khi máy móc hoạt động nó sẽ không có khả năng bị dịch chuyển một cách tùy tiện. Trường hợp các bộ phận bảo vệ cố định cần được tháo gỡ định kỳ để bảo trì hoặc giải phóng chỗ kẹt, thiết bị có thể là cửa có bản lề hoặc bảng điều khiển có khe cắm được bảo đảm bằng bu lông hoặc thiết bị thích hợp khác. Bộ phận che chắn khoảng cách Bảo vệ khoảng cách chỉ đơn giản là một rào chắn được đặt ở một khoảng cách thích hợp từ vùng nguy hiểm. Mức độ rủi ro phải đối mặt sẽ xác định liệu một đường sắt hoặc hàng rào là cần thiết; trong trường hợp thứ hai, khoảng cách từ phần nguy hiểm sẽ xác định kích thước lỗ hoặc mắt lưới. Bộ phận che chắn có thể điều chỉnh Các bộ phận bảo vệ có thể điều chỉnh bao gồm một bộ phận bảo vệ cố định với các phần tử có thể điều chỉnh do người thiết lập hoặc người điều hành phải định vị cho phù hợp với công việc đang làm. Chúng được sử dụng rộng rãi cho các máy chế biến gỗ. Các thiết bị bảo vệ có thể điều chỉnh được sử dụng khi người vận hành phải được đào tạo đầy đủ về cách để điều chỉnh chúng sao cho có thể nhận được đầy đủ lợi ích bảo vệ. Bộ phận che chắn đường hầm Trang 78 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Máy móc có nguồn cấp liệu tự động, hoặc phân phối từ một phần nguy hiểm của một máy móc, sự an toàn của người vận hành có thể được thiết kế bằng việc sử dụng các đường hầm. Đường hầm bảo vệ phải có mặt cắt ngang để cho phép di chuyển tự do của sản phẩm và đủ dài (ít nhất 1 m) để ngăn người vận hành tiếp cận phần nguy hiểm. Che chắn cố định bao quanh Cơ cấu bảo vệ cố định bao quanh toàn bộ vùng nguy hiểm đạt tiêu chuẩn bảo vệ cao. Công việc có thể được cung cấp cho máy thông qua một khe hở của cơ cấu bảo vệ bằng thủ công hoặc tự động. Thiết bị được bố trí để người vận hành không thể tiếp cận các bộ phận nguy hiểm. Hình 5.3. Bộ phận che chắn kim máy may. b. Khóa liên động. Trên thiết bị được thiết kế bộ phận khóa liên động có chức năng khóa không khởi động máy được khi chưa đủ điều kiện an toàn hoặc thao tác không đúng quy trình. Ở những nơi cần di chuyển hoặc mở cửa thường xuyên và không thuận tiện trong việc sửa chữa, khóa liên động có thể được điều khiển bằng cơ khí, điện, khí nén, v.v… Một tính năng thiết yếu của khóa liên động hoặc mạch an toàn là nó phải hoàn thành trước khi máy có thể khởi động và bất kỳ sự cố nào trong đó sẽ làm điều khiển và đưa máy về trạng thái nghỉ. Với mạch an toàn thủy lực và khí nén, mạch phải được điều áp trong điều kiện an toàn, không có bất kỳ sự mất sự mất áp suất làm lệch hệ thống. Các cơ chế phải đáng tin cậy, có khả năng chống nhiễu và hệ thống phải không gặp nguy hiểm. Các loại khóa liên động gồm: Trang 79 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Công tắc trực tiếp bằng tay hoặc khóa liên động van (Hình 5.4) trong đó công tắc hoặc van điều khiển nguồn điện không thể hoạt động cho đến khi bảo vệ bị đóng và không thể mở bảo vệ bất cứ lúc nào công tắc đang ở vị trí chạy. Hình 5.4. Cửa có khóa liên động trực tiếp. - Khóa liên động cơ học cung cấp liên kết cơ học trực tiếp vào trục truyền lực của thiết bị. Khóa liên động cam là công tắc hành trình rất linh hoạt, hiệu quả và tin cậy. Chúng có thể quay (Hình 5.5a) hoặc chuyển động tiịnh tiến (Hình 5.5b) (a) (b) Hình 5.5. Khóa liên động cam. Trang 80 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may c. Cơ cấu phòng ngừa Cơ cấu phòng ngừa là cơ cấu đề phòng sự cố thiết bị có liên quan đến điều kiện an toàn đối với sử dụng như các: rơle nhiệt, van an toàn, cầu chì v.v… Các cơ cấu này thiết kế sao cho người khác không thể điều chỉnh sai mục đích hoặc phá hỏng dễ dàng được. Hình 5.6. Cơ cấu phòng ngừa áp dụng cho máy may. d. Điều khiển bằng hai tay Điều khiển bằng hai tay được sử dụng trên các máy có một chu trình hoạt động lặp lại. Điều cần thiết là các nút điều khiển được đặt cách nhau hơn một sải tay, mạch điều khiển được bố trí sao cho cả hai điều khiển phải được kích hoạt đồng thời để bắt đầu chu trình và cả hai điều khiển phải được nhả ra sau mỗi chu kỳ trước khi chu kỳ tiếp theo có thể được bắt đầu. Khi nhấn một trong hai nút chu trình phải dừng hoặc đảo ngược chuyển động của máy. e. Tín hiệu an toàn Tín hiệu an toàn dưới dạng âm thanh hoặc ánh sáng để báo động tình trạng làm việc của thiết bị. Ví dụ: khi máy chạy quá tải thì có tín hiệu chuông báo cho người điều khiển nhận biết được dễ dàng. 5.1.2.2. Biện pháp tổ chức. a. Bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị thường xuyên và định kỳ: - Sự tra dầu mỡ thường xuyên, sửa chữa và điều chỉnh các máy móc và hệ thống phòng ngừa là việc làm cần thiết. Trang 81 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Lập kế hoạch bảo dưỡng phù hợp có thể xác định được các nhiệm vụ bảo trì ngăn ngừa các hỏng hóc ngay từ đầu. b. Tổ chức và huấn luyện an toàn - Nhân viên sử dụng máy phải được huấn luyện để sử dụng thiết bị phòng ngừa đúng cách. Họ phải hiểu được nguy hiểm đang cần chế ngự và biết được tác dụng của các cơ cấu bảo vệ. - Lập các quy trình hướng dẫn sử dụng và thủ tục sửa chữa máy móc, thiết bị. c. Ước lượng sự nguy hiểm - Kỹ thuật dùng để ước lượng rủi ro của máy móc giống như cách đo lường hiểm hoạ nơi làm việc. Trước hết là quan sát các máy móc trước khi khởi động và khi máy móc đang hoạt động. Kiểm soát nơi làm việc thường xuyên. - Tất cả máy móc ở nơi làm việc phải được kiểm tra theo định kỳ để phát hiện những nguy hiểm rồi kiểm soát chúng. Sự kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên và theo định kỳ. 5.1.3. An toàn thiết bị cơ khí ngành may. 5.1.3.1. Máy cắt vải. Máy cắt vải được sử dụng để cắt các chi tiết quần áo từ vật liệu cuộn. Vải được xếp thành nhiều lớp. Số lớp vải có thể trải được lên đến 200 lớp. Các thiết bị cắt cơ học phổ biến như máy cắt cầm tay và máy cắt vòng. Dao cắt của máy cắt cầm tay có dạng dao thẳng (Hình 5.7 a) và dao dĩa tròn (Hình 5.7 b). (a) (b) Hình 5.7. Máy cắt cầm tay. Trang 82 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hình 5.8. Máy cắt vòng. Mối nguy hiểm từ máy cắt ngoài yếu tố điện giật còn khả năng gây tổn thương bởi yếu tố vật sắc nhọn. 5.1.3.2. Máy may Các máy may chiếm tỉ trọng lớn trong hệ thống thiết bị sản xuất công nghiệp may, vì vậy tần suất tai nạn lao động trong bộ phận may cao. Bên cạnh đó do đặc thù của công việc may phải nghồi nhiều giờ trong ngày làm việc cộng với tính chất công việc lặp lại các động tác với chu kỳ thời gian ngắn dẫn đến gây căng thẳng, mệt mỏi làm gia tăng nguy cơ tai nạn lao động cũng như bệnh nghề nghiệp. Đặc trưng của máy may có công suất tương đối nhỏ khoảng dưới 1 kW và có kích thước nhỏ gọn, chấn thương do máy may gây ra không quá nghiêm trọng. Nhưng yếu tố nguy hiểm đến từ kim may đâm vào tay hoặc văng bắn khi gãy kim. Theo thống kê tai nạn do kim đâm chiếm trên 60% số tai nạn lao động trong ngành may. Vì vậy, vận hành an toàn máy may tránh các rủi ro cần lưu ý các điều dưới đây: - Tránh kim nhọn đâm vào tay. - Tắt điện khi sửa rời đi quá 1 phút để tránh tai nạn cho người khác. - Rút hẳn phích cắm điện khi tháo máy sửa chữa. - Thay động cơ điện quá cũ gây ra tiếng ồn và rung động. Trang 83 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hình 5.9. Máy may. 5.2. Kỹ thuật an toàn đối với thiết bị chịu áp lực. 5.2.1 Các yếu tố nguy hiểm đặc trưng của thiết bị chịu áp lực. 5.2.2.1. Khái niệm thiết bị chịu áp lực. - Thiết bị chịu áp lực là những thiết bị dùng để tiến hành các quá trình nhiệt học, hóa học, sinh học cũng như dùng để bảo quản và vận chuyển các môi chất có trạng thái áp suất cao như khí nén, khí hóa lỏng và các chất lỏng khác. - Nồi hơi: là thiết bị chịu áp lực dùng để thu nhận hơi có áp suất lớn hơn áp suất khí quyển để phục vụ các mục đích khác nhờ năng lượng tạo ra do đốt nóng nhiên liệu trong buồng đốt. Nồi hơi luôn tiềm ẩn rất nhiều nguy hiểm mà nếu không được sử dụng đúng cách có thể dẫn đến hiện tượng cháy, nổ nồi hơi, gây ra những thiệt hại vô cùng nghiêm trọng về tính mạng, tài sản của con người. 5.2.2.2. Các yếu tố nguy hiểm a- Nguy cơ nổ: - Do các thiết bị chịu áp lực luôn chứa áp suất lớn hơn áp suất khí quyển nên có xu hướng cân bằng áp suất kèm theo sự giải phóng năng lượng khi có điều kiện thuận lợi (như vỏ thiết bị không đủ bền). Hiện tượng nổ có thể chỉ đơn thuần là nổ vật lý nhưng trong một số trường hợp có thể kết hợp giữa sự nổ vật lý và nổ hóa học. Trang 84 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Nguyên nhân nổ do độ bền cơ học bị phá hủy, ứng suất nhiệt cục bộ gây ra biến dạng hoặc do va đập. - Khi nổ thì khí và hơi giãn nở và sinh công được tính theo công thức: E= ( P1 − P0 )V K −1 (5.1) Trong đó: L: công sinh ra P1: Áp suất cuối P0: Áp suất đầu V: Thể tích khí trong bình K: chỉ số đọan nhiệt, đối với không khí K=1,41 b- Nguy cơ bỏng Đối với một số thiết bị chịu áp lực làm việc với môi chức có nhiệt độ cao nên có khả năng gây bỏng khi tiếp xúc, va chạm. Ngoài các nguy cơ kể trên trong trường hợp các thiết bị chịu áp lực trong công nghiệp có chứa các chất độc hại nguy hiểm. 5.2.2.3. Các nguyên nhân gây ra sự cố thiết bị chịu áp lực. a. Nguyên nhân kỹ thuật: - Thiết bị được thiết kế, chế tạo không đúng quy cách, tiêu chuẩn kỹ thuật, kết cấu không phù hợp, không đáp ứng chế độ làm việc lâu dài của thiết bị. - Thiết bị quá cũ, hư hỏng nặng, không được sửa chữa kịp thời, chất lượng sửa chữa kém. - Không có thiết bị đo lường và thiết bị kiểm tra hoặc nếu có lại không đủ tin cậy. - Không có cơ cấu an toàn - Tình trạng nhà xưởng không bảo đảm cho việc kiểm tra, theo dõi và xử lý sự cố như hệ thống chiếu sáng, thông tin … b. Nguyên nhân tổ chức: - Người quản lý thiếu quan tâm đến vấn đề an toàn trong khi thác, sử dụng thiết bị an toàn. Đặc biệt là các thiết bị chịu áp lực có áp suất thấp, dung tích nhỏ dẫn đến tình trạng quản lý lỏng lẻo, thậm chí không đăng kiểm khi đưa vào sử dụng. - Trình độ vận hành của nhân viên yếu, thao tác sai quy trình hoặc nhầm lẫn. Trang 85 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Sử dụng người chưa qua đào tạo. Công nhân vận hành các thiết bị có tính nghiêm ngặt như lò hơi, máy nén khí phải huấn luyện đặc biệt được cấp chứng chỉ hành nghề. 5.2.3. Các biện pháp phòng ngừa cơ bản. 5.2.3.1. Biện pháp kỹ thuật - Thiết kế, chế tạo: chọn kết cấu phù hợp, tính toán độ bền chính xác, lựa chọn vật liệu và giải pháp gia công chế tạo nhằm ngăn ngừa các sự cố thiết bị chụ áp lực ngay từ ban đầu. - Thiết bị phải được chế tạo từ các vật liệu phù hợp với môi chất và điều kiện sử dụng. - Quy trình công nghệ phải được lựa chọn sao cho quá trình thao tác ít gây ảnh hưởng nhất đến thiết bị (ví dụ không cần phải leo lên trên thiết bị, không phải gỏ, đập lên thiết bị v.v.) - Lập kế hoạch sửa chữa định kỳ. Khi sửa chữa hay cải tạo các thiết bị áp lực phải hết sức cẩn thận. Việc sửa chữa, cải tạo phải theo các phương án kỹ thuật được lập ra một cách chặt chẽ, chi tiết và được thực hiện bởi những người, đơn vị có đầy đủ năng lực, pháp nhân. Quá trình sửa chữa, cải tạo phải được giám sát chặt chẽ. Thiết bị phải được kiểm tra và nghiệm thử đầy đủ sau khi cải tạo, sửa chữa. - Kiểm nghiệm dự phòng: bao gồm công tác kiểm nghiệm kỹ thuật như: xem xét thiết bị để xác định tình trạng, thử nghiệm độ bền bằng áp lực, thử nghiệm độ kín bằng khí nén, kiểm tra khuyết tật các mối hàn v.v… 5.2.3.2. Biện pháp tổ chức - Quản lý thiết bị theo các quy định trong hồ sơ kỹ thuật thiết bị. - Đào tạo và huấn luyện người quản lý và nhân viên vận hành. - Xây dựng các tài liệu kỹ thuật để hướng dẫn, quản lý. 5.2.4. Các yêu cầu an toàn đối với thiết bị chịu áp lực. 5.2.4.1. Yêu cầu về mặt quản lý thiết bị. - Nồi hơi và thiết bị chịu áp lực phải được đăng ký tại cơ quan thanh tra kỹ thuật an toàn và chịu trách nhiệm kiểm định thiết bị này. - Các thiết bị nồi hơi và thiết bị chịu áp lực đã được đăng kiểm phải là những thiết bị có đủ hồ sơ theo quy định về quy chuẩn, quy phạm. - Theo quy định hiện hành, tất cả các thiết bị sau đây phải được kiểm định an toàn bởi các Trung tâm kiểm định và đăng ký sử dụng tại các Sở Lao động TBXH địa phương trước khi đưa vào sử dụng cũng như phải được kiểm định định kỳ bởi các Trung tâm kiểm định trong quá trình sử dụng: Trang 86 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may + Bình áp lực có áp suất làm việc lớn hơn 0,7 kG/cm2, dung tích lớn hơn 25 lít. + Nồi hơi có áp suất làm việc lớn hơn 25 lít, nồi đun nước nóng có nhiệt độ nước lớn hơn 1150 C. + Đường ống dẫn hơi nước bão hoà có đường kính từ 76 mm trở lên, đường ống dẫn hơi quá nhiệt có đường kính từ 51 mm trở lên. + Đường ống dẫn khí đốt. - Thủ tục thực hiện việc kiểm định được nêu trong thông tư số 23/2003/TTBLĐTBXH ngày 3/11/2003 của Bộ Lao động TBXH. - Theo quy định trong các tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn, kiểm định định kỳ có thể thay đổi theo từng loại thiết bị. Tuy nhiên thường có các kỳ hạn sau: 3 năm một lần khám xét bên trong, bên ngoài, 6 năm một lần khám xét kèm theo thử thủy lực đối với bình áp lực, 2 năm một lần khám xét bên trong, bên ngoài, 6 năm một lần khám xét kèm theo thử thủy lực đối với nồi hơi. Đối với hệ thống lạnh, chu kỳ khám nghiệm là 5 năm một lần khám xét kèm theo thử bền, trong thời gian 5 năm này sẽ thực hiện một lần khám xét 3 năm sau khi thử nghiệm. - Không được sử dụng nồi hơi hay thiết bị chịu áp lực mà chưa đăng kiểm. 5.2.4.2. Yêu cầu về thiết kế, lắp đặt và sửa chữa - Về thiết kế: Tính toán kết cấu của thiết bị đảm bảo độ cứng vững, độ bền cơ học, độ bền hóa học, thao tác thuận tiện, đủ độ tin cậy, tháo lắp và kiểm tra dễ dàng. Việc chế tạo phải được thực hiện tại nơi có đầy đủ các điều kiện về con người, thiết bị máy móc và công nghệ và thiết bị kiểm tra, thử nghiệm đảm bỏa các quy định trong tiêu chuẩn, quy phạm. - Khi lắp mới thiết bị, phải tuân thủ đầy đủ các quy định trong các tiêu chuẩn an toàn hiện hành (TCVN 6153: 1996 đến TCVN 6156: 1996 cho bình áp lực, TCVN 6004:1995 đến TCVN 6007: 1995 đối với nồi hơi, TCVN 6008:1995 về chất lượng mối hàn thiết bị áp lực, TCVN 6413:1998 đối với nồi hơi ống lò ống lửa, TCVN 6158:1996 và TCVN 6159:1996 đối với đường ống dẫn hơi nước và nước nóng v.v.). - Khi lắp đặt phải đảm bảo đúng kích thước khoảng cách giữa hai thiết bị và giữa thiết bị với tường xây. - Chế tạo và sửa chữa thiết bị chịu áp lực phải đảm bảo dung sai cho phép, thợ hàn phải là thợ có đào tạo chuyên nghiệp (có bằng hàn áp lực). - Trước khi thực hiện việc bảo dưỡng, sửa chữa phải đảm bảo xả hết áp suất bên trong hệ thống, làm vệ sinh đầy đủ. Trang 87 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 5.2.4.3. Yêu cầu về dụng cụ kiểm tra, đo lường và thiết bị an toàn - Trang bị dụng cụ kiểm tra, đo lường cho nhân viên vận hành để theo dõi các thông số làm việc của thiết bị phát hiện những thay đổi có thể gây ra sự cố thiết bị chịu áp lực - Các thiết bị bảo vệ như van an toàn, rơ le áp suất cũng như các thiết bị bảo vệ khác có mục đích ngắt thiết bị khi áp suất, nhiệt độ, mức môi chất bên trong thiết bị vượt quá mức cho phép phải lắp đặt đầy đủ trên bình áp lực, hệ thống ống. - Các thiết bị bảo vệ phải được cân chỉnh, cài đặt ở các thông số tác động phù hợp. - Nếu có các thiết bị báo động, các thiết bị này phải được lắp đặt sao cho các tín hiệu âm thanh, ánh sáng của chúng là dễ nhận thấy nhất. - Phải đảm bảo rằng các thiết bị bảo vệ luôn luôn ở tình trạng hoàn hảo, sẵn sàng hoạt động. - Các thiết bị xả tự động như van an toàn, màng phòng nổ phải có ống xả dẫn ra vị trí an toàn. - Phải đảm bảo rằng chỉ những người có đủ trách nhiệm và thẩm quyền được phép thay đổi các thông số cài đặt của các thiết bị bảo vệ. 5.2.5. Các thiết bị chịu áp lực sử dụng trong sản xuất may mặc 5.2.5.1. Nồi hơi Trong công nghiệp sản xuất may mặc nồi hơi là thiết bị được sử dụng để cung cấp nhiệt lượng cho công đoạn giặt, là. Ưu điểm khi sử dụng lò hơi được đánh giá là tiết kiệm về kinh tế bởi nồi hơi có thể sử dụng các nguồn nguyên liệu đa dạng và rẻ như: than, củi, vỏ trấu v.v… Kế đến sự vận hành nồi hơi sẽ an toàn hơn trong môi trường sản xuất không cho phép sử dụng các thiết bị dễ gây cháy nổ. Yêu cầu về vị trí lắp đặt nồi hơi phải cách biệt với các bộ phận sản xuất khác nhẵm giảm mức độ thiệt hại khi xảy ra sự cố. Hình 5.10. Nồi hơi đốt vỏ trấu. Trang 88 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may An toàn trong vận hành lò hơi - Công nhân vận hành phải được đào tạo có đủ trình độ chuyên môn, đầy đủ sức khỏe và có tinh thần trách nhiệm cao; - Trước khi khởi động, người vận hành phải kiểm tra các hệ thống điện, đồng hồ chỉ áp suất, các van khóa lắp đặt trên nồi hơi. - Vệ sinh, lau chùi mặt kính đồng hồ áp lực, mặt kính ống thủy hằng ngày để dễ dàng theo dõi mực nước và áp suất của nồi hơi. - Người lao động tham gia trực vận hành nồi hơi phải luôn có mặt khi thiết bị hoạt động, thường xuyên kiểm tra tình trạng của thiết bị. Vận hành lò hơi theo đúng quy trình vận hành tiêu chuẩn, ghi chép và báo cáo thường xuyên về khả năng hoạt động của thiết bị - Trong lúc làm việc, công nhân phải thường xuyên kiểm tra mực nước, áp lực hơi trong ống để đảm bảo an toàn, xử lý nhanh chóng những sai sót, sự cố kỹ thuật. - Vệ sinh và sửa chữa nồi hơi phải ngồi chờ nồi hơi nguội hẳn, sau đó mở hết cửa thông hơi rồi mới tiến hành các quy trình vệ sinh, sửa chữa. - Những vật liệu dễ cháy nổ như xăng dầu phải để xa nồi hơi ít nhất 10 m. - Không được để cạn nước nồi hơi. - Không được bơm nước trực tiếp vào nồi hơi khi đang đốt. - Cấm hàn, sửa chữa nồi hơi và các bộ phận chịu áp lực của thiết bị này khi còn áp suất. - Ngưng sử dụng lò hơi khi: + Áp suất trong tăng quá mức cho phép. + Khi các hệ thống an toàn không đảm bảo. + Khi phát hiện bộ phận chịu áp lực có những vết nứt, phồng, rỉ sét,.. + Khi áp kế bị hỏng và không có thiết bị thay thế. 5.2.5.2. Các thiết bị ủi hoàn tất sản phẩm may. a- Bàn ủi hơi cầm tay. Bàn ủi hơi cầm tay sử dụng nguồn nhiệt từ nồi hơi. Hơi nước nóng từ nồi hơi được dẫn đến bàn ủi qua hệ thống ống dẫn bảo ôn. Sử dụng bàn ủi hơi loại trừ được yếu tố dòng điện nhưng nhiệt độ cần thiết làm phẳng sản phẩm may mặc lên đến 1500C. Trang 89 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Do vậy, các yếu tố nguy hại hiện hữu gồm: nhiệt, áp suất và vi khí hậu nóngẩm. Các biện pháp thông gió chống nóng cho bộ phận ủi là cần thiết nhằm tạo điều kiện làm việc thoải mái cho người lao động. Hình 5.11. Bàn ủi hơi cầm tay. b- Máy ủi-ép hơi nước. Máy ép hơi nước thường bao gồm một bề mặt tĩnh và một bề mặt di động có hình dạng phẳng hoặc cong tùy chi tiết được ép. Hơi nước được truyền đến vào bộ phận gối trên. Gối dưới liên kết với hệ thống hút chân không. Hình 5.12. Máy ủi -ép hơi nước. Trang 90 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Vận hành an toàn máy ủi – ép hơi nước. Máy ủi ép hoạt động theo cách lực ép được tác động từ gối di động trên sau đó hơi nước nóng được phun ra. Máy chỉ hoạt động khi người vận hành dùng tay kéo cần an toàn sao cho gối trên xoay xuống và chụp kín lên bề mặt gối dưới chỉ khi đó hơi nước nóng mới phun ra. Người vận hành cần tránh xa hơi nước, sau khi đặt quần áo lên bệ ép phải di chuyển ra xa để ngăn hơi nước bắn vào người. Cách thức an toàn khác được sử dụng hai nút nhấn đồng thời. Trang 91 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Chương 6 Kỹ thuật phòng cháy chữa cháy 6.1. Mục đích của công tác PCCC. Hỏa hoạn làm chết người, bị thương và gây thiệt hại cho tài sản, và nó cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến tương lai của công ty. Người ta ước tính rằng 60% doanh nghiệp bị thiệt hại do hỏa hoạn nghiêm trọng không thể phục hồi và ngừng hoạt động kinh doanh trong vòng năm năm kể từ khi xảy ra sự cố. Do vậy công tác PCCC là một trong nhiệm vụ thiết yếu nhằm bảo vệ tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân; bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con người; bảo vệ môi trường; bảo vệ sản xuất; bảo đảm an ninh và trật tự toàn xã hội. Thiệt hại do hỏa hoạn là một vấn đề quan trọng mà người sử dụng lao động phải kiểm soát và quản lý đúng cách. Nói chung, có ba lý do chính để quản lý rủi ro cháy nổ. Thứ nhất, người sử dụng lao động có nghĩa vụ phải cung cấp một nơi làm việc an toàn không có rủi ro đối với sức khỏe. Nhân viên thực hiện tốt hơn trong công việc và tận hưởng môi trường làm việc khi họ có thể thấy rằng sự an toàn của họ đã được quan tâm. Thứ hai, trên quan điểm kinh tế, quản lý an toàn phòng cháy chữa cháy cũng rất quan trọng. Hỏa hoạn làm tiêu tốn một khoản tiền đáng kể. Các chi phí trực tiếp như thiệt hại tài sản và thương tích cá nhân. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có các chi phí ẩn, hoặc chi phí gián tiếp. Các chi phí này bao gồm chi phí quản lý, tổn thất sản xuất, mất trật tự, kiện tụng. Những tổn thất gián tiếp này có thể có tác động tiêu cực đến việc phục hồi hoạt động kinh doanh sau khi một vụ cháy nghiêm trọng. Trên thực tế, hơn một nửa số công ty gặp phải tình trạng nghiêm trọng liên quan đến lửa sẽ không thể phục hồi đủ để tiếp tục kinh doanh. Con số này thực sự là cao hơn đối với các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Mặc dù chi phí kinh tế là quan trọng, nhưng lý do cuối cùng để quản lý an toàn cháy là pháp luật về PCCC. 6.2. Văn bản PCCC của Nhà nước. - Pháp lệnh phòng cháy chữa cháy: Pháp lệnh này đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua ngày 27 tháng 9 năm 1961. - Luật phòng cháy chữa cháy: Luật PCCC được Quốc hội ban hành số 27/2001/QH, ngày 29/06/2001 và có hiệu lực từ ngày 04/10/2001. Luật gồm 9 chương trong đó có 65 điều quy định cụ thể về nguyên tắc PCCC, trách nhiệm PCCC, cơ quan quản lý Nhà nước về PCCC là Bộ công an. Qui định ngày 04/10 hàng năm được chọn là “Ngày Toàn dân phòng cháy chữa cháy” Trang 92 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 6.3. Tính chất của công tác PCCC 6.3.1. Tính pháp luật Tính chất pháp lý trong hoạt động phòng cháy và chữa cháy thể hiện những hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội có liên quan đến phòng cháy và chữa cháy phải triệt để tuân thủ những quy định trong pháp luật về phòng cháy và chữa cháy. Các tổ chức cơ quan, hộ gia đình và cá nhân trong hoạt động của mình bắt buộc phải chấp hành đầy đủ và thường xuyên những quy định của pháp luật về phòng cháy chữa cháy thì mới đem lại hiệu quả. Để ngăn ngừa cháy xảy ra, đòi hỏi mọi cơ quan tổ chức hộ gia đình và các cá nhân phải chấp hành triệt để các quy định an toàn phòng cháy chữa cháy, phải xác định việc phòng cháy và chữa cháy là trách nhiệm của chính mình, nhưng trong thực tiễn thì ý thức phòng cháy chữa cháy của nhiều người còn chưa cao. Do đó song song với các biện pháp tuyên truyền, vận động giáo dục, thuyết phục phải thực hiện phương pháp cưỡng chế để bắt buộc mọi người phải tuân thủ các văn bản quy định pháp luật về phòng cháy chữa cháy. 6.3.2. Tính khoa học kỹ thuật Hoạt động phòng cháy và chữa cháy là hoạt động mang tính khoa học kỹ thuật. Tính chất khoa học kỹ thuật xuất phát từ việc xây dựng và tổ chức thực hiện các giải pháp, biện pháp về phòng cháy chữa cháy phải dự trên cơ sở nghiên cứu bản chất, các quy trình phát sinh, phát triển và dập tắt đám cháy. Các biện pháp phòng ngừa và chống cháy lan cũng như biện pháp chữa cháy và điều kiện đảm bảo việc thực hiện phải dự trên cơ sở tính khoa học, không thể tùy tiện. Bản chất của sự cháy là phản ứng hóa học kèm theo tỏa nhiệt và phát ra ánh sáng. Để sự cháy không biến thành đám cháy gây thiệt hại cho con người và để dập tắt đám cháy cần phải áp dụng bộ môn khoa học tự nhiên và xã hội. 6.3.3. Tính quần chúng Tính chất này xuất phát từ thực tế là cháy có thể xảy ra bất cứ đâu và bất cứ thời gian nào có khi có đủ điều kiện phát sinh trong khi đó nguyên nhân gây cháy chủ yếu do sự bất cẩn của con người trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong sinh hoạt gây ra. Mặt khác, việc phát hiện cứu chữa các vụ cháy trên chủ yếu do các nhân viên và các thành viên tại cơ sở xảy ra cháy thực hiện. Trong hoạt động hàng ngày tại nơi làm việc, tại nơi cơ trú thường xuyên tồn tại lửa, các thiết bị sinh lửa, sinh nhiệt và các loại chất cháy như vậy ở đâu cũng có đủ các điều kiện gây cháy. Theo thống kê cho thấy nguyên nhân gây cháy chủ yếu do con người thiếu ý thức hoặc kiến thức gây ra, nhưng cũng chính con người lại phát hiện cháy và tổ Trang 93 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may chức chữa cháy. Do đó công tác phòng cháy và chữa cháy mang tính chất quần chúng rất sâu sắc và tính xã hội cao. 6.4. Các khái niệm 6.4.1. Khái niệm về sự cháy 6.4.1.1. Điều kiện cháy và phản ứng hóa học của sự cháy Khi cháy thì vật chất bị thiêu cháy và biến dạng. Cơ sở vật chất bị hủy hoại, tổn thất nhân mạng. Tuy vậy, để một đám cháy hình thành cần có hội đủ 3 yếu tố: chất cháy, ôxy, nguồn nhiệt. Sự cháy xảy ra khi có tỉ lệ nhất định giữa chất cháy và ôxy khi gặp nguồn nhiệt mới tạo cháy được (khi ôxy < 15% thì không có sự cháy). Hình 6.1. Ba yếu tố sự cháy. Mặt khác cháy là phản ứng hóa học xảy ra nhanh, kèm theo phát quang. Sự kết hợp 3 yếu tố (chất cháy, nguồn nhiệt và ôxy) với điều kiện phù hợp cho phép một phản ứng hóa học xày ra mà hậu quả của nó sinh ra các chất nguy hại cho con người và môi trường. Hình 6.2. Dấu hiệu 4 yếu tố sự cháy. Trang 94 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Ôxy có trong không khí mà chúng ta hít thở nhưng nó có thể được làm giàu trong hoàn cảnh nhất định. Nguồn oxy chính cho đám cháy ở nơi làm việc đến một cách tự nhiên thông qua cửa ra vào và cửa sổ hoặc có thể được buộc vào tòa nhà bằng hệ thống trang thiết bị thông gió. Hệ thống thông gió có thể có khả năng vừa hút vừa đưa không khí vào. Tại nơi làm việc có nhiều nguồn nhiệt tiềm ẩn ở và một một phần của quá trình đánh giá rủi ro là thử và xác định các nguồn này. Nó có thể là các nguồn nhiệt tồn tại nhưng được kiểm soát; tuy nhiên, giai đoạn đầu tiên của quá trình đánh giá rủi ro là xác định chúng bất kể chúng như thế nào hiện có đang được kiểm soát hay không. Các nguồn nhiệt hoặc bắt lửa có thể bao gồm: - Vật liệu hút thuốc. - Thiết bị điện. - Thiết bị sưởi bằng khí đốt hoặc dầu. - Dụng cụ nấu ăn. - Ngọn lửa trần. - Động cơ xe. - Các động cơ khác, ví dụ: máy phát điện khẩn cấp. - Tĩnh điện. - Ma sát, ví dụ: vòng bi lỏng hoặc đai truyền động. - Bụi dễ cháy tích tụ trên bề mặt hoặc thiết bị. - Máy móc. - Thiết bị chiếu sáng. - Các quy trình nóng, ví dụ: hàn, cắt hoặc mài. - Đốt phá. - Bề mặt nóng. Chất cháy hay nhiên liệu cháy: Bất cứ thứ gì dễ cháy đều là nguồn nhiên liệu tiềm năng. Phổ biến nhất các nguồn nhiên liệu bao gồm: - Chất rắn dễ cháy, ví dụ: giấy, gỗ, nhựa, vật liệu phế thải. - Chất lỏng và dung môi dễ cháy, ví dụ: xăng, dầu hỏa. - Khí dễ cháy, ví dụ: propan, butan và axetylen. - Đồ đạc như xốp được sử dụng trong đồ nội thất. - Bụi dễ cháy, ví dụ: bột mì, nhôm, bụi vải v.v… Trang 95 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Tóm lại, giai đoạn đầu tiên của quá trình đánh giá rủi ro là xác định các mối nguy hiểm gây cháy: nguồn oxy tiềm năng; các nguồn gây cháy tiềm ẩn; và các nguồn nhiên liệu tiềm năng. 6.4.1.2. Các định nghĩa khác - Nhiệt độ bắt cháy: nhiệt độ thấp nhất tại đó hơi của chất lỏng trong không khí trên bề mặt thoáng của nó tạo thành một hỗn hợp có thể bắt cháy được khi có mồi lửa. - Nhiệt độ bốc cháy: nhiệt độ thấp nhất tới đó các chất có thể cháy được nếu có mồi lửa. - Nhiệt độ tự bốc cháy: nhiệt độ thấp nhất tại đó vật chất tự ôxy hóa và tiếp tục tự gia nhiệt đến khi bốc cháy mà không cần mồi lửa bên ngoài. 6.4.1.3. Phân loại đám cháy Đám cháy được chia thành năm loại chủ yếu dựa trên nhiên liệu đang cháy. Hệ thống phân loại này giúp chúng ta đánh giá các mối nguy và xác định loại hiệu quả nhất của phương pháp chữa cháy. Nó cũng được sử dụng để phân loại, đánh giá và thử nghiệm các loại bình chữa cháy. - Đám cháy loại A liên quan đến các vật liệu dễ cháy thông thường: gỗ, giấy và vải. Đám cháy loại A thường tương đối chậm trong quá trình phát triển và tăng trưởng so với khởi điểm của nó, và bởi vì những vật liệu này là chất rắn, chúng có phần dễ chữa hơn. Đám cháy loại A cháy để lại tro sau khi vật liệu đã được bị cháy hết. - Đám cháy loại B liên quan đến chất lỏng và khí dễ cháy và dễ bắt lửa như xăng, dầu nhiên liệu và propan. Những đám cháy này thường tiến triển và phát triển rất nhanh. Loại vật liệu B có bản chất là chất lỏng, cho phép chúng chảy và di chuyển. Điều này làm cho đối phó với chúng có phần khó khăn hơn so với vật liệu loại A. Những đám cháy này thường không để lại tro. - Đám cháy loại C liên quan đến thiết bị điện để cung cấp năng lượng như động cơ, thiết bị, và máy móc. Đây là phân loại duy nhất trong số năm phân loại không liên quan trực tiếp đến loại nhiên liệu. Thực tế là một mạch điện sống có liên quan đến việc xác định hệ số. Vật liệu cháy thực sự có thể rơi vào một hoặc nhiều trong bốn vật liệu khác kể trên. Nếu ngắt nguồn điện thì đám cháy không còn được coi là loại C. Nguồn điện cấp thiết bị làm cho thiết bị trở thành loại C ngay cả khi thiết bị đã tắt. - Đám cháy loại D liên quan đến các kim loại dễ cháy như magiê, titan và zirconium. Những vật liệu này thường khó bắt lửa nhưng lại tạo ra đám cháy dữ dội một khi đã bắt đầu. Đám cháy cấp D rất khó dập tắt, nhưng may mắn thay, chúng tương đối ít phổ biến trong hầu hết các ngành công nghiệp. - Đám cháy loại K liên quan đến dầu ăn. Đây là phân loại đám cháy mới nhất. Trang 96 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 6.4.2. Các nguyên gây cháy Có nhiều nguyên nhân gây cháy, nhưng nói chung có 3 nguyên nhân chính sau: a- Cháy do con người. Thực tế có thể nhận thấy nguyên nhân cháy do con người là một trong những tác nhân chính dẫn đến hỏa hoạn. Việc con người không lường được hậu quả tàn khốc của hỏa hoạn dẫn đến sự chủ quan, xem thường các nguyên tắc phòng cháy. Chính vì vậy cần nâng cao nhận thức mối nguy hiểm cháy luôn rình rập xung quanh ta. Từ nhận thức đến hành vi phòng ngừa và ngăn chặn nó. b- Cháy do thiên tai. Sự biến đổi khí hậu dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu là nguyên nhân gây cháy rừng ở nhiều quốc gia. Cháy rừng hủy hoại thiên nhiên và ảnh hưởng sự cân bằng sinh thái. Đây là vấn nạn lớn mà thế giới phải đối mặt. Hiện tượng thiên nhiên khác là sấm sét cũng có thể gây ra hỏa hoạn khi tia sét mang năng lượng dòng điện đánh xuống mặt đất gây ra tia lửa. Ngoài ra sét đánh vào hệ thống điện dẫn vào thiết bị và gây cháy. c- Cháy do điện. Sự cố về điện luôn chiếm tỷ lệ lớn trong các nguyên nhân gây cháy nổ, nguy hiểm đến tính mạng và tài sản. Các sự cố điện phổ biến là các hiện tượng quá tải mạch điện hoặc chập mạch. d- Tự cháy Hiện tượng tự cháy xảy ra do quá trình ôxy hóa chậm có tỏa nhiệt. Trong thực tế các phế liệu như giẻ lau có dầu để trong môi trường sẽ xảy ra phản ứng ôxy hóa chậm tỏa nhiệt tích tụ cho đến khi đạt điều kiện tự bốc cháy. 6.4.3. Các yếu tố nguy hại a- Lửa và tia lửa Lửa từ đám cháy có thể táp vào người và quần áo gây cháy, bỏng. Đặc biệt, còn nguy hiểm hơn khi ngọn lửa tác động trực tiếp lên da người, chỉ cần tiếp xúc trực tiếp với lửa trong thời gian ngắn cũng có thể gây bỏng rất nặng. b- Nhiệt độ cao của không khí và đồ vật. Nhiệt độ của đám cháy trong phòng bị cháy rất cao, có thể đạt tới 8009000C, ở các phòng liền kề với phòng bị cháy cũng có nhiệt độ tương đối cao. c- Nồng độ ôxy bị giảm thấp Một yếu tố khác gây nguy hiểm đối với con người là nồng độ oxy trong môi trường khu vực xảy ra cháy thường thấp hơn nhiều lần so với không khí sạch. Nồng độ ôxy không đủ để hô hấp sẽ làm giảm đi rất nhiều khả năng chuyển động của con Trang 97 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may người, con người sẽ chuyển động chậm lại và khả năng hấp thụ các sản phẩm độc hại của đám cháy tăng lên. Nếu nồng độ ôxy trong không khí thấp hơn 10% thể tích sẽ gây ngất và nếu giảm tới 6% sẽ gây co giật và nếu không kịp thời cấp cứu sẽ chết trong vòng vài phút. d- Sự sập đổ của công trình và thiết bị. Sụp đổ cấu kiện xây dựng là một trong những hiện tượng xảy ra ở đám cháy. Nó đe dọa lớn đến tính mạng của người kẹt lại trong đám cháy cũng như lực lượng chữa cháy đang dập tắt đám cháy trong tòa nhà. Cấu kiện xây dựng sụp đổ sẽ làm cản trở, thu hẹp, làm mất đường và lối thoát nạn. e- Nổ. Trong công nghiệp hay dùng các thiết bị có nhiệt độ cao như lò đốt, lò nung, các đường ống dẫn khí cháy, các bể chứa nhiên liệu dễ cháy gặp lửa hay tia lửa điện có thể gây cháy, nổ. f- Khói và các yếu tố độc hại do phản ứng cháy gây ra. Trong các đám cháy, khói và khí độc mới chính là nguyên nhân chủ yếu gây thương vong chứ không phải do lửa hay nhiệt. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, trong thành phần của sản phẩm cháy có chứa từ 50 đến 100 loại hoá chất độc hại khác nhau, phổ biến nhất là cacbon oxit (CO). Nếu nồng độ theo thể tích của nó đạt 0,05% đã gây nguy hiểm đối với tính mạng của con người. Cacbon oxit có khả năng tác dụng với hêmôglôbin cao gấp 200 – 300 so với ôxy, vì vậy khi hít phải CO cơ thể sẽ thiếu ôxy. Khi thiếu ôxy các tế bào sẽ bị tê liệt, suy hô hấp và dẫn đến tử vong. Ở đám cháy, nồng độ cacbon oxit luôn cao hơn giới hạn cho phép nhiều lần, đây là một trong những nguyên nhân gây tử vong ở đám cháy. 6.5. Hệ thống phòng cháy và chống cháy. Hầu hết các đám cháy có thể được ngăn chặn bằng một số biện pháp đơn giản và những việc bắt đầu thường có thể được kiểm tra hoặc kiểm soát an toàn phòng cháy chữa cháy. Các biện pháp này có thể được kết hợp vào các tòa nhà trong quá trình xây dựng hoặc cải tạo lại nhưng ngoài ra, đội ngũ nhân viên được đào tạo tốt có thể đóng vai trò quan trọng không kém trong việc phòng ngừa và khắc phục hỏa hoạn. Để đảm bảo an toàn cháy, nổ công trình nhà xưởng cần phải có: - Hệ thống phòng cháy. - Hệ thống chống cháy. Hệ thống phòng cháy phải được nghiên cứu xác định cho mỗi công trình cụ thể để trong quá trình sử dụng không xảy ra cháy. Hệ thống chống cháy phải được nghiên cứu xác định cho mỗi công trình cụ thể để khi xảy ra cháy có đủ khả năng hạn chế quy mô, dập tắt được đám cháy bảo vệ được con người và tài sản. Hệ thống chống cháy phải đảm bảo an toàn cho Trang 98 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may người khi xảy ra cháy ở bất kỳ vị trí nào của công trình đồng thời đảm bảo an toàn cháy cho công trình khi hoạt động bình thường, cũng như khi cải tạo, sửa chữa và có sự cố. 6.5.1. Hệ thống phòng cháy 6.5.1.1. Hệ thống báo cháy tự động. Hệ thống báo cháy tự động là hệ thống thiết bị tự động phát hiện và thông báo địa điểm cháy (theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5738-2001). Hệ thống báo cháy tự động bao gồm: Trung tâm báo cháy, các đầu báo cháy, (tổ hợp chuông, đèn, nút ấn) và các thiết bị ngoại vi khác. Hình 6.3. Sơ đồ hệ thống báo cháy tự động. Nhiệm vụ của hệ thống tự động phát hiện ra cháy một cách nhanh chóng, chính xác và kịp thời trong khu vực. Tự động phát ra các tín hiệu báo động, chỉ thị và các tín hiệu điều khiển các thiết bị ngoại vi của hệ thống báo cháy tự động nhằm thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó. Đặc biệt, với hệ thống báo cháy tự động sử dụng đầu báo cháy khói thì nó còn có nhiệm vụ quan trọng hơn là “cảnh báo”, tức là phát hiện và thông báo sự sắp cháy, sự cháy âm ỉ chưa có ngọn lửa. 6.5.1.2. Nguyên lý và biện pháp phòng cháy trong quá trình sản xuất Nguyên lý: Tách rời chất cháy, chất ô xy hóa và mồi lửa bắt cháy Biện pháp chung phòng ngừa cháy: - Ngăn cách sự tiếp xúc của chất cháy và chất ôxy hóa khi chúng chưa tham gia vào quá trình sản xuất. - Cách ly với khu vực sản xuất các thiết bị phát sinh tia lửa điện. - Có biện pháp chống sét, nối đất cho nhà xưởng và thiết bị. Trang 99 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Cấm dùng ngọn lửa trần trong môi trường nguy hiểm cháy. - Loại trừ những khả năng dẫn đến sự tự cháy do nhiệt. - Hạn chế khối lượng chất cháy (hoặc chất ôxy hóa) đến mức tối thiểu cho phép. - Nối đất tất cả thiết bị khi khởi động có thể sinh tĩnh điện. - Hàn hồ quang, nung kim loại không được tiến hành trong môi trường có khí cháy. - Duy trì nhiệt độ của môi trường nguy hiểm cháy thấp hơn nhiệt độ giới hạn cho phép có thể cháy được. - Dùng các biện pháp cách ly môi trường nguy hiểm cháy: + Bố trí thiết bị nguy hiểm cháy trong phòng cách ly hoặc ngoài trời. + Sử dụng các thiết bị kiểu kín (hoặc được bao kín). + Phải có bao bì đối với chất nguy hiểm cháy. 6.5.2. Hệ thống chống cháy Một trong những yếu tố quan trọng của an toàn tính mạng là kiểm soát hiệu quả sự lan truyền của khói và cháy. Các cấu trúc xây dựng nên có các tính năng tích hợp để hạn chế sự lan truyền của khói và lửa. Các tính năng này có thể chủ động hoặc thụ động. Hệ thống chủ động thực hiện một nhiệm vụ góp phần kiểm soát khói hoặc lửa. Tất cả các tính năng của hệ thống đều nhằm mục đích tăng thời gian dành cho người trong khu vực có thể thoát ra ngoài. Hệ thống chống cháy thụ động Hệ thống thụ động là những thiết bị, tính năng và đặc điểm được cài đặt như một phần của quy trình hoặc cấu trúc được thiết kế để tránh bắt lửa, hạn chế sự phát triển và tăng trưởng của đám cháy, ngăn chặn sự lây lan của đám cháy, và góp phần ngăn ngừa tổn thất và kiểm soát các nỗ lực mà không có bất kỳ thành phần hoạt động tích cực nào. Một ví dụ về một hệ thống thụ động là bức tường lửa. Tính năng thụ động là các thành phần của cấu trúc hỗ trợ kiểm soát khói và lửa. Ví dụ, các bức tường ngăn cháy được sử dụng để ngăn cách một tòa nhà thành các khu vực riêng biệt. Tường lửa không thay đổi tính chất hoặc hoạt động của thời gian khẩn cấp nhưng hoạt động hoàn toàn theo thiết kế bên trong của nó. Khi đánh giá rủi ro hỏa hoạn đối với một cơ sở từ và sự an toàn của các phương tiện thoát hiểm, phải tính đến loại và vật liệu xây dựng của công trình, loại và tình trạng của nội dung và đặc biệt là tính dễ cháy hoặc khả năng của nó, khả năng lan truyền nhanh chóng của khói và ngọn lửa của tòa nhà đang được xây dựng. Hệ thống chống cháy chủ động Trang 100 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hệ thống chủ động là các thành phần của phòng cháy chữa cháy được lắp đặt tham gia tích cực bằng cách hoạt động một cách cơ học tại thời điểm khẩn cấp. Ví dụ, một hệ thống phun nước hoạt động để xả nước nhằm mục đích khống chế và dập tắt đám cháy tại thời điểm đám cháy xảy ra. Thông thường, khi xem xét lửa đã lắp đặt bảo vệ, ý nghĩ tự động là chỉ xem xét các hệ thống đang hoạt động, khi trên thực tế, nhiều thành phần hữu ích phòng cháy chữa cháy bị động. Bằng cách bỏ qua các tính năng thụ động, chúng tôi loại bỏ toàn bộ danh mục các công cụ có giá trị. Tất cả các hệ thống chữa cháy được lắp đặt là hệ thống hoạt động kiểm soát hoặc dập tắt một đám cháy. Cửa kiểm soát khói là một hệ thống chủ động khác. Những cánh cửa này phát hiện ra một làn khói và đóng tự động. Bộ giảm chấn trong ống dẫn hoạt động của hệ thống thông gió hệ thống được thiết kế để giảm sự lan truyền của khói. Cửa thông gió mái tự động cung cấp hệ thống thông gió có thể giúp kiểm soát sự lây lan và phát triển của đám cháy. Cửa chống cháy có thể giúp giảm cháy lan. Nguyên lý và biện pháp chung chống cháy Nguyên lý chống cháy: Hạ thấp tốc độ cháy của vật liệu đang cháy đến mức thấp nhất và phân tán nhanh nhiệt lượng của đám cháy ra ngoài. Biện pháp chung: Hạn chế số lượng chất dễ cháy và xếp đặt hợp lý các chất đó bằng cách quy định nơi làm việc có sử dụng chất nguy hiểm cháy. Lối thoát nạn. Có đủ lối thoát nạn để đảm bảo cho người thoát khỏi vùng nguy hiểm một cách nhanh chóng trước khi các yếu tố nguy hiểm có hại đạt đến giới hạn cho phép: - Tính toán kích thước và số lượng lối thoát nạn. - Lối thoát nạn phải thuận tiện cho mọi người. - Lắp đặt các hệ thống thoát khói đảm bảo không để có khói ở lối thoát nạn trong khoảng thời gian đủ cho mọi người thoát hết ra ngoài. - Lối thoát nạn phải đảm bảo các yêu cầu sau: bố trí phòng lánh nạn tạm thời, lối thoát nạn dự phòng; có giải pháp ngăn lửa, chống tụ khói cho hệ thống lối thoát nạn. Khoảng cách đến lối thoát cũng phải được thiết kế hợp lý trong khu vực làm việc. Khoảng cách gần nhất đến lối thoát nạn không được quá 50m. Khả năng chịu lửa của các lối thoát hiểm phải ít nhất là 30 phút nhưng trong các tòa nhà có rủi ro cao, tiêu chuẩn bảo vệ có thể cao hơn là cần thiết. Theo quy định về lối thoát hiểm trong PCCC tại mục 3.2.9 QCVN 06:2010/BXD thì chiều cao thông thủy từ 1.9 m trở lên, cùng với đó chiều rộng thông thủy cũng không được nhỏ hơn các kích thước: Trang 101 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - 1.2m đối với các gian phòng có số người thoát nạn lớn hơn 15 người hoặc các gian phòng có số người thoát nạn hơn hơn 50 người. - 0.8m đối với các gian phòng thuộc nhóm còn lại. Theo tiêu chuẩn lối thoát hiểm trên thì chiều rộng của cửa đi bên ngoài cầu thang bộ và các cửa đi từ cầu thang bộ vào sảnh cũng không được nhỏ hơn chiều rộng được quy định tại mục 3.4.1 của QCVN-06 hoặc theo tính toán. Khi tính toán chiều rộng của lối ra thoát nạn phải quan tâm đến dạng hình học để đảm bảo việc vận chuyển cáng cứu thương không gặp trở ngại. Cửa thoát hiểm Cửa thoát hiểm cần đủ rộng để mọi người có thể đi qua làm bằng vật liệu không cháy; cửa vào buồng thang thoát nạn là cửa chống cháy và có cơ cấu tự đóng. Số lượng và vị trí cửa thoát hiểm cần phải bố trí thích hợp để có thể di tản cách nhanh nhất. Một số yếu tố phải được xem xét khi đánh giá mức độ đầy đủ của cửa chống cháy: - Đầu tiên, cửa thoát hiểm phải mở theo hướng di chuyển. - Vị trí cửa gần ở chân cầu thang; - Cửa nằm trong khu vực có nguy cơ cháy nổ cao; - Tất cả các cửa thoát hiểm cuối cùng dẫn từ tòa nhà ra các khu vực bên ngoài phải có thể dễ dàng mở mà không cần sử dụng chìa khóa. Trong trường hợp những cánh cửa này phải được bảo đảm để ngăn mọi người mở chúng từ bên ngoài, các cửa phải được trang bị với một dạng thiết bị nhả duy nhất như nút vặn, bu lông hoảng, hoặc đệm đẩy. - Cửa thoát hiểm phải sạch sẽ, thông thoáng không được có vật cản kể cả phía trong và phía ngoài để có thể sơ tán một cách nhanh chóng. Số lượng cửa thoát hiểm phải phù hợp với diện tích phòng. Đối với nhà phụ trợ: 25m khi phòng chỉ có 1 lối ra ngoài và 50m đối với phòng nằm giữa 2 lối ra ngoài hoặc 2 thang thoát hiểm. Đối với nhà tập thể, nhà công cộng hoặc căn hộ: 25m nếu phòng chỉ có 1 lối thoát ra ngoài/thang thoát hiểm, 40m nếu phòng ở giữa 2 lối ra ngoài/2 thang thoát hiểm. Hình 6.4. Số lượng và vị trí cửa thoát hiểm. Trang 102 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Ngăn ngừa đám cháy lan rộng - Sử dụng các cơ cấu đóng ngắt trên các thiết bị và đường ống khi có sự cố. - Sử dụng các phương tiện ngăn ngừa sự tràn và cháy loang của các chất lỏng khi cháy. - Các biện pháp chống cháy lan đối với kết cấu xây dựng (vách ngăn) được dùng phổ biến hiện nay như: phun bọt chống cháy, thạch cao chống cháy, sơn chống cháy, các tấm panel cách nhiệt và chống cháy v.v… Tín hiệu khẩn cấp Tín hiệu khẩn cấp trong PCCC phải được lắp đặt để mọi người có thể nhận biết khi có sự cố cháy. Các tín hiệu này bao gồm các biển báo và chuông báo động. Các biển báo được sử dụng để chỉ các lối thoát hiểm và lối thoát hiểm. Biển báo hướng dẫn nên được lắp đặt trên toàn bộ chiều dài của lối thoát hiểm. Các tín hiệu này có thể không tác dụng đối với những người có thị giác và thính giác kém. Vì vậy trong phương án PCCC cụ thể cần thiết phải tính toán đến sự hỗ trợ đặc biệt cho nhóm người này. Chiếu sáng lối thoát hiểm Các lối thoát hiểm phải được chiếu sáng thích hợp để cho phép người thoát ra ngoài an toàn bất cứ lúc nào thời gian trong ngày hoặc đêm. Chiếu sáng khẩn cấp này cần thỏa các yêu cầu: - Chỉ rõ tất cả các lối thoát hiểm; - Chỉ rõ thiết bị chữa cháy, chẳng hạn như bình chữa cháy, chăn chữa cháy v.v… Tất cả các biển báo an toàn cháy nổ phải tuân theo tiêu chuẩn về an toàn PCCC. Hình 6.5. Biển báo và đèn chiếu sáng từ bên ngoài. Trang 103 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 6.6. Các chất chữa cháy và dụng cụ chữa cháy 6.6.1. Các chất chữa cháy Các chất chữa cháy là những chất đưa vào đám cháy nhằm dập tắt nó. 6.6.1.1. Nước Cho đến nay, nước là chất chữa cháy được sử dụng phổ biến và sẵn có nhất. Nó được sử dụng trong các bình chữa cháy xách tay, các đường ống dẫn bằng tay, các hệ thống đã lắp đặt. Nước hoạt động tốt vì nó có công suất lớn để hấp thụ nhiệt. Như chúng ta đã đề cập trước đó, hấp thụ nhiệt làm lạnh vật liệu cháy xuống dưới nhiệt độ bắt lửa của nó, do đó làm cho ngọn lửa tắt. Nước hấp thụ nhiệt nhiều nhất trong quá trình chuyển hóa thành hơi nước. Ví dụ, một pound (0,454 kg) nước ở nhiệt độ phòng 70ºF (21ºC) sẽ hấp thụ khoảng 150 Btu (158 kilojoules) để tăng nhiệt độ lên 212ºF (100ºC), điểm sôi của nước. Khi nước hóa hơi thành hơi nước, nó hấp thụ thêm khoảng 970 Btu (1.023 kilojoules). Trong quá trình chuyển đổi sang hơi nước, lợi ích chữa cháy đạt tối đa từ hiệu ứng thu nhiệt. Quá trình hóa hơi trong quá trình sử dụng nước hiệu quả cũng làm giảm tác hại của nước. Trong điều kiện chữa cháy thực tế không thể hóa hơi 100%. hoặc thậm chí đến rất gần nó, nhưng mục đích là để áp dụng nước theo cách sẽ mang lại hiệu quả hóa hơi cao nhất có thể. Nước được sử dụng rộng rãi trong chữa cháy vì rẻ. Tuy nhiên trong một số trường hợp không dùng chữa cháy các đám cháy kim loại hoạt động như K, Na, Ca và đám cháy có nhiệt độ lên đến 17000 C. Nước được phun thành dạng bụi nước làm tăng bề mặt tiếp xúc của nó với đám cháy. Sự bay hơi nhanh của bụi nước làm giảm nhiệt độ đám cháy và pha loãng nồng độ chất cháy. Ngoài ra nó còn làm hạn chế sự xâm nhập của ôxy vào đám cháy. 6.6.1.2. Khí Cacbonic Carbon dioxide (CO2) là một chất kiểm soát hỏa hoạn ở thể khí được lưu trữ dưới áp suất như một chất lỏng. Nó được sử dụng cho đám cháy cấp B và C. Những ưu điểm chính của carbon dioxide là nó không để lại cặn và không dẫn điện. Nó hoạt động bằng cách loại trừ oxy khỏi đám cháy. Nhược điểm chính của carbon dioxide là nó có thể tạo ra sự thiếu oxy khu vực gây rủi ro đáng kể cho người. Khí cacbon được sử dụng trong các bình chữa cháy xách tay, bình chữa cháy có bánh xe, xe và hệ thống ống tĩnh, các hệ thống ứng dụng cục bộ được lắp đặt cả trong cấu trúc và lắp đặt trên các phương tiện, và hệ thống lắp đặt toàn bộ. 6.6.1.3. Bột khô Các tác nhân bột khô dạng bột mịn dựa trên một số hợp chất hóa học. Chúng có sẵn trong hai loại: tác nhân hóa học khô thông thường có thể được sử dụng cho đám cháy cấp B và C, và đa dụng hóa chất khô để sử dụng cho đám cháy cấp A, B và C. Cả hai đều hoạt động chủ yếu bằng cách làm gián đoạn chuỗi phản ứng hóa Trang 104 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may học. Hóa chất khô đa năng là các hợp chất cho phép tác nhân bám vào bề mặt, đó là lý do tại sao chúng có hiệu quả đối với đám cháy cấp A. Trừ khi cần xếp hạng loại A, các bột khô thông thường phải được sử dụng trong các khu vực nguy hiểm cấp B và C. Độ bám dính đã đề cập ở trên là một nhược điểm trong các vụ cháy thiết bị và máy móc vì nó làm cho việc dọn dẹp nhiều khó khăn hơn. Ngay cả với các tác nhân hóa chất khô thông thường, vấn đề làm sạch là bất lợi lớn. Hóa chất khô được sử dụng xách tay bình chữa cháy, bình chữa cháy có bánh xe, xe và hệ thống ống tĩnh. Nó được sử dụng bởi người được đào tạo. Bột hóa học khô thông thường phổ biến nhất là natri bicacbonat thường được sử dụng làm bánh và nước ngọt. Chất hóa học khô đa năng phổ biến nhất là monoamoni phân lân. Một loại hóa chất khô phổ biến được sử dụng chủ yếu để bảo vệ sự tiếp xúc với chất lỏng dễ cháy đáng kể là kali bicromat, thường được gọi là thuốc tím. Thuốc tím có hiệu quả gần gấp đôi, tính theo pound, trên chất lỏng dễ cháy cháy như một hóa chất khô thông thường. Bột chữa cháy còn gọi là bọt hóa học do được tạo từ phản ứng hóa học của 2 chất: Sunfat nhôm Al2(SO4)2 và bicacbonat natri NaHCO3. Cả 2 hóa chất tan trong nước khi sử dụng 2 chất kết hợp với nhau cho phản ứng: Al2(SO4)2 + 6H2O H2SO4 = 2Al (OH)3 + 3H2SO4 + 2NaHCO3 = Na2SO4 + 2H2O + 2CO2 6.6.2. Các phương tiện chữa cháy 6.6.2.1. Các phương tiện chữa cháy tại chỗ Các phương tiện chữa cháy thô sơ Các phương tiện chữa cháy tại chỗ được trang bị rộng rãi tại các cơ quan, xí nghiệp có tác dụng chữa cháy ban đầu và các đám cháy nhỏ như thùng đựng cát, xẻng, xô đựng nước v.v… Các loại bình chữa cháy di động - Bình bọt AB dùng để dập tắt đám cháy xăng dầu, cồn, rượu và một só chất lỏng cháy khác rất hiệu quả. Bình AB có 2 loai hóa chất để tách biệt nhau nhưng lại thông nhau ở cổ bình. Vì vậy khi vận chuyển không để bình nằm ngang, không đặt bình ở tư thế nghiêng ngả mà ở tư vị trí thẳng dứng. Giá treo bình hoặc giá đỡ bình phải chắc chắn để tránh bình bị đổ làm bọt trào ra. Thường xuyên kiểm tra vòi thông và để bình nơi râm mát. Bình có các trọng lượng từ 2 – 10 kg. - Bình khí CO2: Bình chữa cháy CO2 là loại bình chữa cháy xách tay bên trong chứa khí CO2, -790C được nén với áp lực cao, dùng để dập tắt các đám cháy nhỏ mới phát sinh: Đám cháy chất rắn, chất lỏng và hiệu quả cao đối với đám cháy thiết bị điện, đám cháy trong phòng kín, buồng hầm. Loại bình này có tác dụng dập đám cháy bằng cách làm ngạt hoặc làm lạnh. Bình được để nơi râm mát, tránh Trang 105 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may va đập và nhiệt độ cao. Kích thước của chúng dao động từ 50 đến 100 pound (22,6 đến 45,4 kg). Cấu tạo bình được làm bằng thép đúc, có dạng hình trụ đứng và thường được sơn màu đỏ để dễ nhận dạng. Hình 6.6. Bình bọt chữa cháy. Hình 6.7. Bình chữa cháy CO2. Trang 106 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may c- Hệ thống bơm nước chữa cháy: hệ thống gồm nguồn nước dự phòng, bơm nước chữa cháy, hệ thống ống dẫn nước đến các họng chữa cháy. Các họng chữa cháy được bố trí tại các vị trí thuận tiện, dễ thao tác khi xảy ra cháy. Tại các họng chữa cháy có vòi chữa cháy để dẫn nước đến đám cháy. Hình 6.8. Tủ chữa cháy. Nguồn cung cấp nước hiệu quả là điều cần thiết đối với hệ thống chữa cháy bằng nước. Công suất của hệ thống cấp nước được xác định bởi lưu lượng chữa cháy yêu cầu và thời gian lưu lượng phải được duy trì. Sự bố trí lý tưởng cho hệ thống cấp nước là cung cấp hai nguồn nước. Nguồn cấp nước thông thường sẽ được lưu trữ cho một trong những loại sau: bể chứa trên cao, bể hút, bể chứa hoặc bể áp lực. 6.6.2.2. Xe chữa cháy chuyên dụng. Xe chữa cháy chuyên dụng được trang bị cho đội chữa cháy chuyên nghiệp. Các loại xe chữa cháy gồm: Xe chữa cháy, xe thông tin và ánh sáng, xe phun bọt hóa học, xe hút khói v.v… 6.6.3. Khuyến cáo về các biện pháp PCCC và thoát nạn Để đảm bảo an toàn PCCC và thoát nạn khi có cháy, song song với việc chấp hành nghiêm ngặt các quy định an toàn PCCC, cơ quan, tổ chức và cá nhân quản lý công trình nhiều tầng cần thực hiện các biện pháp sau đây: 1. Có niêm yết nội quy PCCC, biển cấm lửa, cấm hút thuốc ở những nơi có nguy cơ xảy cháy. 2. Trong hoạt động phải sử dụng xăng, dầu, khí đốt và các chất nguy hiểm về cháy, nổ khác... phải thực hiện đầy đủ các biện pháp đảm bảo an toàn PCCC. Trang 107 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 3. Nơi đun nấu, nơi được phép sử dụng lửa phải có quy định đảm bảo an toàn PCCC và giải pháp ngăn cháy lan. 4. Lắp đặt thiết bị bảo vệ (aptomat) cho hệ thống điện của toàn bộ công trình, từng tầng, từng phòng và từng thiết bị điện có công suất lớn. Có biện pháp đảm bảo an toàn PCCC khi sử dụng thiết bị điện, đặc biệt là thiết bị điện sinh nhiệt. 5. Xây tường, trần và khoang đệm ngăn cháy giữa các khu vực; cửa đi, cửa sổ ở tường ngăn cháy phải là cửa chống cháy. Không sử dụng các vật liệu dễ cháy để làm trần, mái, vách ngăn, cách âm... Rèm, phông màn, thảm phải được ngâm tẩm chất chống cháy. 6. Hộp, ống kỹ thuật thông tầng hoặc thông giữa các hệ thống được làm bằng vật liệu không cháy và chèn kín bằng vật liệu không cháy. 7. Bố trí các bộ phận không nguy hiểm hoặc ít nguy hiểm về cháy xen kẽ giữa các bộ phận nguy hiểm về cháy để chống cháy lan. 8. Lắp đặt hệ thống báo cháy, chữa cháy tự động đảm bảo chữa cháy được trên toàn bộ diện tích. 9. Thiết kế, lắp đặt hệ thống chống sét theo quy định. 10. Có sơ đồ chỉ dẫn thoát nạn cho toàn bộ công trình, từng khu vực, từng tầng. Có hệ thống đèn chiếu sáng sự cố, đèn chỉ dẫn hướng và đường thoát nạn. 11. Thành lập đội PCCC cơ sở, tổ chức thường trực sẵn sàng chữa cháy, tổ chức huấn luyện nghiệp vụ PCCC, cứu hộ cứu nạn cho lực lượng PCCC, bảo vệ công trình. 12. Trang bị phương tiện chữa cháy, cứu người tại chỗ phù hợp với quy mô, tính chất cháy, nổ, dự trữ đủ nước để chữa cháy. 13. Xây dựng và tổ chức thực tập phương án chữa cháy, thoát nạn cứu người trong tình huống cháy phức tạp nhất. 14. Khi xảy ra cháy phải bằng mọi cách báo cháy nhanh nhất cho lực lượng Cảnh sát PCCC (số điện thoại 114), báo cho Công an hoặc chính quyền nơi gần nhất, đồng thời bằng mọi cách dập cháy và tổ chức việc thoát nạn, cứu người theo phương án. 6.6.4. Kỹ năng thoát hiểm. Khi có đám cháy xảy ra, mọi người cần bình tĩnh, vận dụng đúng các kỹ năng thoát hiểm này để bảo vệ sức khỏe và tính mạng: - Định hướng rõ ràng cửa chính, cửa phụ của nhà hoặc tòa nhà đang sống. Ngay khi lửa bùng cháy dữ dội, chặn đường ra cửa chính không hốt hoảng, tìm cửa phụ để thoát ra ngoài. Trang 108 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Nhanh chóng tạo lối thoát hiểm an toàn, tuyệt đối không cố ôm của cải, giấy tờ hay điện thoại hoặc gọi điện thoại báo cháy vì đám cháy diễn ra rất nhanh, cần nhanh chóng thoát ra ngoài. Thoát ra ngoài nếu phải vượt qua hành lang đầy khói, cần nằm xuống và bò vì vị trí càng thấp và gần cửa thì không khí thoáng hơn - Nếu ở nhà đất, từ 2 tầng trở lên, nên mua thang có thể vác hoặc di chuyển được để sử dụng khi gặp sự cố và bạn có thể thoát ra ngoài bằng cửa sổ mà không sợ bị ngã. Để thang tại vị trí dễ tìm, mọi thành viên trong gia đình đều cần biết vị trí này. - Khi làm việc trong tòa nhà cao tầng, tuyệt đối không di chuyển xuống đất bằng thang máy. - Xác định điểm tập trung, nơi an toàn bên ngoài tòa nhà. - Phòng cháy cần biết, không chỉ lửa mà khói và hơi độc cũng là nguyên nhân dẫn đến tử vong. Do đó, tránh khói cần bò ra ngoài, vì khói lơ lửng ở trên cao. - Nếu tóc hoặc quần áo bị bén lửa, cần nhanh chóng nằm xuống, lăn người qua lại, hướng dẫn trẻ nhỏ kỹ thuật này để quần áo và tóc được dập lửa kịp thời. - Kiểm tra cánh cửa có quá nóng không trước khi mở cửa chính. Nếu lửa bùng lên dữ dội, cần thoát ra bằng đường khác như cửa phụ hoặc cửa sổ. - Thoát ra ngoài nếu phải vượt qua hành lang đầy khói, cần nằm xuống và bò vì vị trí càng thấp và gần cửa thì không khí thoáng hơn. Trang 109 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Chương 7 Quản lý an toàn lao động, vệ sinh lao động trong ngành dệt may 7.1. Công tác huấn luyện an toàn lao động Huấn luyện an toàn lao động là công tác bắt buộc đối với doanh nghiệp nhằm cung cấp kiến thức, rèn luyện các kỹ năng, giúp người sử dụng lao động chủ động xây dựng, triển khai kế hoạch, biện pháp ATVSLĐ và người lao động biết cách thực hành ATVSLĐ, xử lý những tình huống trong quá trình sản xuất. Cơ sở pháp luật căn cứ vào Luật An toàn, vệ sinh lao động, số 84/2015/QH13 có hiệu lực ngày 25 tháng 06 năm 2015. * Các đối tượng phải được huấn luyện: 1. Người quản lý phụ trách an toàn, vệ sinh lao động, người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động, người làm công tác y tế, an toàn, vệ sinh viên trong cơ sở sản xuất, kinh doanh phải tham dự khóa huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và được tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cấp giấy chứng nhận sau khi kiểm tra, sát hạch đạt yêu cầu. Trường hợp có thay đổi về chính sách, pháp luật hoặc khoa học, công nghệ về an toàn, vệ sinh lao động thì phải được huấn luyện, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng về an toàn, vệ sinh lao động. 2. Người sử dụng lao động tổ chức huấn luyện cho người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động và cấp thẻ an toàn trước khi bố trí làm công việc này. 3. Người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động phải được huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động khi làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động và được cấp thẻ an toàn. 4. Người sử dụng lao động tự tổ chức huấn luyện và chịu trách nhiệm về chất lượng huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 của điều luạt này, người học nghề, tập nghề, người thử việc trước khi tuyển dụng hoặc bố trí làm việc và định kỳ huấn luyện lại nhằm trang bị đủ kiến thức, kỹ năng cần thiết về bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình lao động, phù hợp với vị trí công việc được giao. 5. Việc huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động quy định tại Điều này phải phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng ngành nghề, vị trí công việc, quy mô lao động và không gây khó khăn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của cơ sở sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động chủ động tổ chức huấn luyện riêng về an toàn, vệ sinh lao động hoặc kết hợp huấn luyện các nội Trang 110 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may dung về an toàn, vệ sinh lao động với huấn luyện về phòng cháy, chữa cháy hoặc nội dung huấn luyện khác được pháp luật chuyên ngành quy định. 7.2. Hội đồng bảo hộ lao động và Ban an toàn vệ sinh lao động 7.2.1. Hội đồng bảo hộ lao động Hội đồng bảo hộ lao động là một tổ chức của doanh nghiệp và do Giám đốc (hoặc Tổng Giám đốc) doanh nghiệp quyết định thành lập, nhằm giúp cho doanh nghiệp lập kế hoạch BHLĐ, kiểm tra, giám sát các hoạt động về an toàn và vệ sinh lao động đối với các bộ phận, người lao động tham gia sản xuất. Muc tiêu: - Ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp phát sinh trong quá trình lao động sản xuất. - Có kế hoạch và kinh phí thay đổi công nghệ và cải thiện điều kiện lao động. - Các chế độ phúc lợi đối với NLĐ. Cơ cấu tổ chức: - Đại diện người sử dụng lao động (thành viên bắt buộc): giám đốc hoặc phó giám đốc làm Chủ tịch hội đồng. - Đại diện người lao động (thành viên bắt buộc): ban chấp hành công đoàn doanh nghiệp là Phó Chủ tịch hội đồng. - Trưởng bộ phận kỹ thuật hoặc cán bộ theo dõi công tác bảo hộ lao động doanh nghiệp (thành viên bắt buộc) làm ủy viên thường trực kiêm thư ký hội đồng. - Thành viên khác (các phòng ban, xưởng sản xuất có liên quan) phụ thuộc vào tổ chức và số lượng NLĐ trong doanh nghiệp Quy chế & phân công nhiêm vu trong hội đồng: - Hội đồng bảo hộ lao động soạn thảo quy chế hoạt động trình người sử dụng ký ban hành, từng thành viên trong hội đồng căn cứ vào quy chế đã ban hành mà thực hiện nhiệm vụ được phân công. - Chủ tịch Hội đồng bảo hộ lao động doanh nghiệp căn cứ vào số lượng thành viên trong hội đồng và tình hình thực tế sản xuất cũng như nhiệm vụ chuyên môn để phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong hội đồng. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng bảo hộ lao động Tham gia và tư vấn với người sử dụng lao động và phối hợp các hoạt động trong việc xây dựng các quy chế quản lý, chương trình hành động, kế hoạch bảo hộ lao động và các biện pháp an toàn, vệ sinh lao động, cải thiện điều kiện lao động, phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp của doanh nghiệp. Trang 111 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Định kỳ 6 tháng và hàng năm, Hội đồng bảo hộ lao động tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện công tác bảo hộ lao động ở các phân xưởng sản xuất để có cơ sở tham gia vào kế hoạch và đánh giá tình hình công tác bảo hộ lao động của doanh nghiệp. Trong kiểm tra nếu phát hiện thấy có nguy cơ mất an toàn, có quyền yêu cầu người quản lý sản xuất thực hiện các biện pháp loại trừ các nguy cơ đó. Tùy vào quy chế phân cấp trách nhiệm của doanh nghiệp, Hội đồng BHLĐ doanh nghiệp có thể được người sử dụng lao động ủy quyền thực hiện các nhiệm vụ khác về BHLĐ như: - Chỉ đạo việc lập kế hoạch BHLĐ hàng năm, đôn đốc kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch BHLĐ. - Tổ chức thực hiện các chương trình tuyên truyền giáo dục về ATVSLĐ trong phạm vi doanh nghiệp, các hoạt động hưởng ứng Tuần lễ quốc gia về AT-VSLĐPCCN, Ngày toàn dân PCCC 4/10, v.v… - Phê duyệt các chương trình, nội dung huấn luyện an toàn vệ sinh lao động cho công nhân (huấn luyện định kỳ hàng năm, huấn luyện cho công nhân mới tuyển, huấn luyện lại cho công nhân chuyển sang vị trí công tác khác); Tổ chức huấn luyện, «giáo dục pháp luật về ATVSLĐ cho cán bộ quản lý sản xuất. - Chỉ đạo các phòng ban, xưởng sản xuất liên quan để biên soạn các quy trình an toàn vận hành và xử lý sự cố các loại máy móc trong doanh nghiệp; trình ban hành hoặc ban hành các nội quy, quy trình ATVSLĐ. - Giúp doanh nghiệp khai báo điều tra tai nạn lao động nhẹ và nặng, lập sổ theo dõi tai nạn lao động. - Chỉ đạo thực hiện việc sơ kết, tổng kết công tác bảo hộ lao động, khen thưởng và báo cáo định kỳ 6 tháng và cả năm về công tác bảo hộ lao động và tai nạn lao động theo mẫu với Sở Lao động Thương binh & Xã hội. 7.2.2. Ban an toàn vệ sinh lao động Tổ chức mạng lưới an toàn – vệ sinh viên là những người lao động trực tiếp có am hiểu nghiệp vụ, có nhiệt tình và gương mẫu về hoạt động bảo hộ lao động được tổ chức sản xuất bầu ra. Mạng lưới này hoạt động theo đúng nhiệm vụ, quyền hạn để phát huy tác dụng của nó. Quy định có chế độ khen thưởng. Người sử dụng lao động tạo điều kiện thuận lợi để mạng lưới An toàn vệ sinh viên hoạt động có hiệu quả. Nghĩa vụ An toàn- vệ sinh viên: 1. Đôn đốc, nhắc nhở, hướng dẫn mọi người trong tổ, đội, phân xưởng chấp hành nghiêm chỉnh quy định về an toàn, vệ sinh lao động, bảo quản các thiết bị an toàn, phương tiện bảo vệ cá nhân; nhắc nhở tổ trưởng, đội trưởng, quản đốc chấp hành quy định về an toàn, vệ sinh lao động; Trang 112 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 2. Giám sát việc thực hiện tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình, nội quy an toàn, vệ sinh lao động, phát hiện những thiếu sót, vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động, những trường hợp mất an toàn, vệ sinh của máy, thiết bị, vật tư, chất và nơi làm việc; 3. Tham gia xây dựng kế hoạch an toàn, vệ sinh lao động; tham gia hướng dẫn biện pháp làm việc an toàn đối với người lao động mới đến làm việc ở tổ; 4. Kiến nghị với tổ trưởng hoặc cấp trên thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hộ lao động, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động và khắc phục kịp thời những trường hợp mất an toàn, vệ sinh của máy, thiết bị, vật tư, chất và nơi làm việc; 5. Báo cáo Công đoàn hoặc thanh tra lao động khi phát hiện vi phạm về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc hoặc trường hợp mất an toàn của máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động đã kiến nghị với người sử dụng lao động mà không được khắc phục. Quyền lợi An toàn- vệ sinh viên 1. Được cung cấp thông tin đầy đủ về biện pháp mà người sử dụng lao động tiến hành để bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc; 2. Được dành một phần thời gian làm việc để thực hiện các nhiệm vụ của an toàn, vệ sinh viên nhưng vẫn được trả lương cho thời gian thực hiện nhiệm vụ và được hưởng phụ cấp trách nhiệm. Mức phụ cấp trách nhiệm do người sử dụng lao động và Ban chấp hành Công đoàn thống nhất thỏa thuận và được quy định trong Quy chế hoạt động của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; 3. Yêu cầu người lao động trong tổ ngừng làm việc để thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, nếu thấy có nguy cơ trực tiếp gây sự cố, tai nạn lao động và chịu trách nhiệm về quyết định đó; 4. Được học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp hoạt động. 7.2.3. Đánh giá rủi ro tại nơi làm việc 7.2.3.1. Khái niệm đánh giá rủi ro Đánh giá rủi ro là quá trình tìm hiểu những rủi ro có khả năng sẽ xảy ra trong quá trình làm việc. Để từ đó định hướng và tìm ra những biện pháp hợp lý, kịp thời để khắc phục những rủi ro đó. Từ đó mọi hoạt động trong công việc sẽ trở nên dễ dàng hơn, an toàn hơn và hạn chế đến việc gây tại nạn cho con người cũng như gây ô nhiễm môi trường, hoặc làm hỏng tài sản của doanh nghiệp. Để đánh giá các mối nguy hiểm hiện có và tiềm ẩn của một công việc, người ta phải phân tích rủi ro để hiểu được hậu quả của rủi ro và hoạt động như một biện pháp hỗ trợ giúp xác định, Trang 113 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may loại bỏ hoặc kiểm soát các mối nguy hiểm. Hoạt động tập trung phân tích mối quan hệ giữa: - Người lao động. - Công việc của cả một đơn vị. - Các bước tạo nên công việc. - Các nhiệm vụ được xác định trong mỗi bước. - Các công cụ, vật liệu và thiết bị đang được sử dụng. - Các mối nguy hiện có và tiềm ẩn. - Hậu quả của việc tiếp xúc với những nguy cơ đó. - Các sự kiện tiềm ẩn rủi ro liên quan đến mỗi nhiệm vụ. - Các chính sách và thủ tục hiện có. - Bản chất của môi trường vật chất mà công việc được hoàn thành bên trong. Bằng cách đánh giá tất cả các thành phần của một công việc, một cái nhìn tổng thể toàn diện được phát triển để cho phép một người tập trung vào các lĩnh vực Đánh giá rủi ro được tiến hành trước khi tiến hành sản xuất. Công việc này được giao cho những người có đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực như: cơ khí, hóa chất, điện… Đây là những yếu tố có khả năng xảy ra tai nạn lao động rất cao. Do đó, cần phải đánh giá rủi ro kịp thời và chính xác để hạn chế tai nạn lao động. Công việc đánh giá rủi ro không chỉ thuộc những người có trách nhiệm mà còn là nhiệm vụ của tất cả cá nhân người lao động tham gia vào quá trình sản xuất. Nhiệm vụ đánh giá rủi ro được tiến hành thường xuyên trong suốt thời gian lao động, đặc biệt là trước khi bắt đầu vào công việc. 7.2.3.2. Quy trình đánh giá rủi ro Nhận diện mối nguy Quan sát xung quanh khu vực làm việc và tìm kiếm phát hiện những yếu tố có thể sẽ gây ra mất an toàn cho người lao động. Điều này sẽ làm cho những mối nguy dễ dàng kiểm soát hơn. Trang 114 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Đánh giá ai là người có thể bị tổn thương và mức độ tổn thương như thế nào Để có thể kiểm soát tốt những rủi ro có thể xảy ra, chúng ta cần phải xác định rõ ràng đối tượng hay một người nào đó sẽ bị tổn thương. Thông qua cách này chúng ta sẽ dễ dàng kiểm soát những rủi ro có thể tạo ra trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, khi chúng ta làm như thế không đồng nghĩa với việc sẽ đưa hết tên những đối tượng này vào trạng thái sẽ kiểm soát mà chỉ cần xác định các nhóm làm việc bị ảnh hưởng hoặc các nhóm có khả năng bị ảnh hưởng khi làm việc. Đánh giá các rủi ro và đề ra các biện pháp phòng ngừa Khi phát hiện được những mối nguy này trước và trong khi làm việc, việc đầu tiên mà những cán bộ phụ trách việc này cần làm đó là: dừng công việc của công nhân lại, xem những mối nguy này có nguy hiểm không và cần kiểm tra hết sức cẩn thận. Nếu những mối nguy này quá nhỏ hoặc khả năng không gây ra những rủi ro gì thì cho công nhân làm việc bình thường trở lại. Còn ngược lại, nếu như phát hiện ra những mối nguy quá lớn và khả năng sẽ xảy ra những rủi ro, thì cán bộ phụ trách sẽ được phép tạm dừng công việc tại đó để kiểm tra, giám sát kỹ càng. Đồng thời bộ phận chịu trách nhiệm sẽ phải đánh giá rủi ro một cách chính xác và đề ra được các biện pháp phòng ngừa, nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động. 7.2.3.3. Quản lý rủi ro. Quản lý rủi ro liên quan đến việc áp dụng có hệ thống một loạt các công cụ được sử dụng để xác định các mối nguy hiểm trong các tổ chức được kết hợp với đánh giá về rủi ro vốn có. Luồng thông tin liên lạc hai chiều cởi mở là điều cần thiết để có hiệu quả truyền bá thông tin qua tổ chức về phạm vi rủi ro của nó. Vì điều này để có hiệu quả, mục đích của quá trình quản lý rủi ro phải được xác định rõ ràng và truyền đạt một cách chính xác và khách quan đến đội ngũ lãnh đạo và nhân viên. Các yếu tố quản lý rủi ro phải được được đưa vào từng thành phần của tổ chức để hệ thống an toàn có hiệu quả và hiểu biết về mức độ hiện tại bất kỳ rủi ro tiềm ẩn. Trách nhiệm quản lý rủi ro Quản lý rủi ro hiệu quả quy định và xác định các cấp độ trách nhiệm và quyền hạn của đội ngũ lãnh đạo và có thể bao gồm những nội dung sau: - Xác định rủi ro không thể chấp nhận được và đảm bảo rằng sự hiểu biết đầy đủ về tác động tiêu cực tiềm ẩn của rủi ro đã được đánh giá. - Đánh giá rủi ro, phát triển các giải pháp thay thế giảm thiểu rủi ro và xác định các vấn đề và mối quan tâm về rủi ro tồn đọng. Trang 115 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Xác định các biện pháp kiểm soát rủi ro không cần thiết hoặc không hiệu quả để phân tích thêm. - Lựa chọn các phương án giảm thiểu rủi ro từ các khuyến nghị. - Đào tạo và giáo dục nhân viên về quản lý rủi ro đã chọn công cụ và kỹ thuật. - Đảm bảo rằng rủi ro chỉ được thực hiện ở cấp tổ chức thích hợp, và khi cần, nâng các quyết định rủi ro lên cấp lãnh đạo cao hơn. Đây sự thay đổi ngụ ý rằng cấp lãnh đạo tiếp theo có hiểu biết đầy đủ về rủi ro liên quan và sự kiểm soát của nó. Trách nhiệm của lãnh đạo trong quản lý rủi ro. Trách nhiệm của lãnh đạo bao gồm: - Sử dụng nhất quán các khái niệm quản lý và đánh giá rủi ro để xác định các sự kiện có thể gây ra tổn thất. - Đảm bảo rằng nhân viên tuân theo các thủ tục kiểm soát rủi ro thích hợp và các giao thức như được xác định bởi đánh giá rủi ro. - Nâng cao các mối quan tâm rủi ro và các vấn đề ngoài tầm kiểm soát hoặc quyền hạn của họ đối với lãnh đạo cấp cao hơn để giải quyết. Trách nhiệm của nhân viên trong quản lý rủi ro Trách nhiệm và vai trò cụ thể của nhân viên bao gồm: - Hiểu lý do của việc kiểm soát rủi ro và đảm bảo chúng được tuân thủ. - Duy trì nhận thức thường xuyên về mức độ nghiêm trọng tiềm ẩn liên quan với các thủ tục, nhiệm vụ hoặc hoạt động cụ thể. - Liên lạc ngay với nhóm lãnh đạo trực tiếp của họ khi một trong hai biện pháp giảm thiểu rủi ro không hoạt động, không thực tế và báo cáo các thủ tục hoặc kiểm soát rủi ro cao không hiệu quả. - Làm việc với đồng nghiệp để đảm bảo rằng tất cả các giao thức phù hợp và các thủ tục được tuân thủ cũng như hỗ trợ nhau trong việc duy trì kiểm soát hiệu quả. Trang 116 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 7.2.3.4. Công cụ đánh giá rủi ro. Một công cụ đánh giá rủi ro đã được sử dụng để phát triển là ma trận rủi ro. Công cụ ma trận rủi ro như một công cụ quản lý chứ không phải một công cụ liên quan trực tiếp đến nhân viên. Tuy nhiên, sử dụng công cụ đánh giá rủi ro cá nhân có thể là một cách hiệu quả. Đánh giá rủi ro, trước tiên hãy thực hiện các bước theo hướng dẫn dưới đây: - Dừng lại, nhìn và lắng nghe. Chủ động tìm kiếm các tình huống công việc đánh dấu sự không chắc chắn. - Đặt câu hỏi và thu thập thông tin liên quan. - Tiếp tục nếu chắc chắn. Tiếp tục hoạt động nếu sự không chắc chắn đã được giải quyết với sự thật, nếu không, đừng tiến hành khi đối mặt với sự không chắc chắn. - Dừng lại khi không chắc chắn. Nếu vẫn còn mâu thuẫn, nhầm lẫn, không chắc chắn hoặc nghi ngờ tồn tại, hãy làm như sau. Bảng 7.1. Ma trận rủi ro. Trạng thái Nghiêm trọng Ma trận rủi ro Nguy kịch Không nguy kịch Không đáng kể Xác suất Thường xuyên Có thể xảy ra Thỉnh thoảng Ít xảy ra Không chắc chắn Khó xảy ra Rất cao Rất cao Rất cao Cao Trung bình Rất cao Rất cao Cao Trung bình Trung bình Cao Cao Trung bình Trung bình Trung bình Bỏ qua Trung bình Trung bình Thấp Thấp Thấp 7.3. Chăm sóc sức khỏe và công tác sơ cứu tại nơi làm việc. Dựa trên kết quả đánh giá rủi ro về các mối nguy tiềm ẩn có khả năng ảnh hưởng trực tiếp tới an toàn, sức khỏe nghề nghiệp tại nơi làm việc và cộng đồng xung quanh. Nhóm đánh giá rủi ro tại doanh nghiệp phải xác định ra các biện pháp kiểm soát phù hợp. Đồng thời, dựa trên bối cảnh thực tế của doanh nghiệp ví dụ như dựa trên số lượng người lao động cùng làm việc trên cùng một mặt bằng, một phòng, hay một tầng trong một ca làm việc để xác định được chính xác cơ sở vật chất, số lượng và chủng loại các phương tiện sơ cấp cứu cần thiết. Trang 117 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 7.3.1. Cơ sở y tế tại doanh nghiệp. Tất cả doanh nghiệp phải tổ chức bộ phận y tế hoặc người làm công tác y tế tuỳ theo số lượng lao động và đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo điều 73, Luật an toàn – vệ sinh lao động năm 2015 và được hướng dẫn bởi điều 37, Nghị định 39/2016/NĐ-CP. Công tác y tế trong doanh nghiệp phải đảm bảo thường trực theo ca sản xuất sơ cứu, cấp cứu có hiệu quả cho người lao động. Bảng 7.2. Yêu cầu về nguồn lực Y tế doanh nghiệp Lĩnh vực, ngành nghề Quy mô của cơ sở sản xuất, kinh doanh Yêu cầu tối thiểu của bộ phận y tế Chế biến, bảo quản thủy Sử dụng dưới 300 người 01 người làm công tác y tế có trình độ sản và các sản phẩm từ lao động trung cấp thủy sản, khai khoáng, Sử dụng từ 300 đến dưới 01 bác sĩ/y sĩ và 01 người làm công tác y sản xuất sản phẩm dệt, tế có trình độ trung cấp may, da, giày, sản xuất 500 người lao động than cốc, sản xuất hóa chất, sản xuất sản phẩm từ Sử dụng từ 500 đến dưới 01 bác sĩ và mỗi ca làm việc phải có 01 người làm công tác y tế có trình độ trung cao su và plastic, tái chế 1.000 người lao động cấp phế liệu, vệ sinh môi trường, sản xuất kim loại, Phải thành lập cơ sở y tế theo hình thức tổ đóng và sửa chữa tàu Sử dụng từ 1.000 lao động chức phù hợp quy định của pháp luật về biển, sản xuất vật liệu xây trở lên khám bệnh, chữa bệnh dựng Sử dụng dưới 500 người 01 người làm công tác y tế trình độ trung lao động cấp Lĩnh vực, ngành nghề khác Sử dụng từ 500 đến dưới 01 y sỹ và 01 người làm công tác y tế 1.000 người lao động trình độ trung cấp Sử dụng trên 1.000 người 01 bác sỹ và 01 người làm công tác y tế lao động khác Đối với, cơ sở không bố trí được người làm công tác y tế hoặc không thành lập được bộ phận y tế theo quy định nêu trên thì cơ sở sản xuất, kinh doanh phải Ký hợp đồng với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ năng lực để cung cấp đủ số lượng người làm công tác y tế theo quy định nêu trên; có mặt kịp thời tại cơ sở sản xuất, kinh doanh khi xảy ra các trường hợp khẩn cấp trong thời hạn 30 phút đối với vùng đồng bằng, thị xã, thành phố và 60 phút đối vùng núi, vùng sâu, vùng xa. 7.3.2. Công tác sơ cứu Sơ cứu tại tại nơi làm việc là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của người sử dụng lao động nhằm cấp cứu kịp thời và đầy đủ cho người lao động khi Trang 118 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may bị tai nạn tại cơ sở. Hệ thống sơ cứu được tổ chức tốt sẽ đảm bảo chăm sóc nhanh chóng cho người lao động và có thể ngừa hay hạn chế được các tổn thất có thể xảy ra. Người lao động làm việc có thể bị tai nạn hay bị ốm đau. Việc tìm ra công việc nào do họ thực hiện gây ra tai nạn hay ốm đau không quan trọng. Điều quan trọng là họ phải nhận được sự chăm sóc kịp thời với những trường hợp nghiêm trọng. Công tác sơ cứu có thể bảo vệ được tính mạng và ngăn ngừa không cho những chấn thương nhỏ trở nên nghiêm trọng. Lưu ý sơ cứu không bao gồm việc cấp phát thuốc men y tế để điều trị ốm đau. 7.3.2.1. Nhân viên sơ cấp cứu. Nếu tại nơi làm việc, thông qua đánh giá rủi ro, cho thấy nguy cơ mất an toàn và sức khỏe là tương đối thấp thì chỉ cần cung cấp một hộp sơ cứu với dụng cụ và thuốc men phù hợp và chỉ định một nhân viên sơ cứu và chịu trách nhiệm trong trường hợp khẩn cấp. - Cung cấp đủ số lượng nhân viên sơ cứu để đảm bảo có người sẵn sàng cấp cứu kịp thời ngay sau khi có sự cố. - Đào tạo nhân viên sơ cứu. Định kỳ hằng năm, người sử dụng lao động phải lập kế hoạch và tổ chức huấn luyện các khóa huấn luyện chuyên môn về sơ cứu, cấp cứu tai nạn lao động tại nơi làm việc. Các khóa huấn luyện này, người sử dụng lao động có thể kết hợp tổ chức chung với các khóa huấn luyện an toàn – vệ sinh lao động hoặc tổ chức riêng theo quy định tại thông tư 19/2016/BYT. - Thông báo cho cơ quan cấp cứu y tế địa phương biết bằng văn bản các chất nguy hiểm được sử dụng, nơi lưu giữ và sử dụng chúng và các quá trình sử dụng chúng. 7.3.2.2. Phương tiện và dụng cụ sơ cấp cứu Tùy thuộc vào kết quả đánh giá yêu cầu công tác sơ cứu, doanh nghiệp cần cung cấp đủ các thiết bị và phương tiện sơ cứu đảm bảo phục vụ cho người lao động bất kỳ lúc nào cần thiết, bao gồm việc dự trữ đầy đủ các chủng loại thuốc men và y tế thích hợp, dễ tiếp cận và dễ sử dụng. Phải luôn có thiết bị sơ cứu tại các vị trí làm việc có yêu cầu. Tủ đựng phương tiện sơ cứu Yêu cầu tối thiểu của phương tiện phục vụ sơ cứu là một tủ đựng dụng cụ sơ cứu hợp lý và phải dễ thấy, dễ lấy. Mỗi khu vực làm việc đều cần trang bị ít nhất một tủ sơ cứu. Mỗi tủ gồm đầy đủ các trang thiết bị, thuốc men sơ cứu thích hợp cho từng tình huống cụ thể. Trang 119 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Tủ sơ cứu phải bảo vệ được các dụng cụ sơ cứu khỏi bụi bẩn, ẩm ướt và chỉ được lưu giữ trang thiết bị có ích cho việc sơ cứu. Tủ sơ cứu bố trí ở nơi dễ lấy, nên nếu có thể nên đem để ở chỗ vòi rửa tay. Số lượng tủ sơ cứu phụ thuộc vào cách sắp xếp tại cơ sở và số lượng người lao động. Cần có ít nhất một hộp hoặc một thùng đựng dụng cụ cấp cứu ở mỗi tầng nhà. Tổng số các loại túi khác nhau được trình bày theo số lượng người lao động: Bảng 7.3. Quy định về các loại túi sơ cứu. Số lượng người lao động Số lượng và loại túi sơ cứu Dưới 25 người Có ít nhất một túi loại A Từ 26 đến 50 người Có ít nhất một túi loại B Từ 51 đến 150 người Có ít nhất một túi loại C Ghi chú:01 túi B tương đương với 02 túi A và 01 túi C tương đương với 02 túi B. Các dụng cụ trong tủ sơ cứu cần được thường xuyên kiểm ra và bổ sung ngay sau khi đã sử dụng. Cần có lưu trữ đủ dụng cụ sơ cứu trong kho. Các trang thiết bị sơ cứu đã hết thời hạn sử dụng cần loại bỏ ngay và có sự thay thế phù hợp. Hình 7.1. Tủ sơ cấp cứu. Trang 120 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Tất cả các tủ sơ cứu phải được sơn ký hiệu hình chữ thập trắng nền màu xanh lá cây. Theo quy định của Bộ Y tế (ban hành kèm Thông tư số 09/2000/TT-BYT ngày 28 tháng 04 năm 2000) thì trong mỗi tủ sơ cứu phải có ít nhất những quy dụng cụ, trang bị sau: Bảng 7.4. Quy định về túi sơ cứu. STT Các trang bị tối thiểu Túi A (cho 25 công nhân) Túi B (cho 50 công nhân) Túi C (cho 100 công nhân) 1 Băng dính (cuộn) 02 02 04 2 Băng 5 x 200cm (cuộn) 02 04 06 3 Băng trung bình 10 x 20cm (cuộn) 02 04 06 4 Băng to 15 x 200 cm (cuộn) 01 02 04 5 Gạc thấm nước (10 miếng/ gói) 01 02 04 6 Bông hút nước (gói) 05 07 10 7 Băng tam giác (cái) 04 04 06 8 Garô cao su cỡ 6 x 100 cm (cái) 02 02 04 9 Garô cao su cỡ 4 x 100 cm (cái) 02 02 04 10 Kéo 01 01 01 11 Panh không mấu 04 04 06 12 Găng tay dùng một lần (đôi) 02 02 04 13 Mặt nạ phòng độc thích hợp 01 01 02 14 Nước vô khuẩn hoặc dung dịch nước muối trong các bình chứa dùng một lần kích thước 100 ml (không có nước máy) 01 03 06 Trang 121 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 15 Nẹp cánh tay (bộ) 01 01 01 16 Nẹp cẳng tay (bộ) 01 01 01 17 Nẹp đùi (bộ) 01 01 02 18 Nẹp cẳng chân (bộ) 01 01 02 19 Thuốc sát trùng (lọ) 01 01 02 20 Phác đồ cấp cứu 01 01 01 7.3.3. Khám sức khỏe định kỳ và quản lý bệnh nghề nghiệp. 7.3.3.1. Khám sức khỏe định kỳ Hàng năm, NSDLĐ phải tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho NLĐ, kể cả người học nghề, tập nghề. NSDLĐ chi trả các chi phí liên quan đến việc khám sức khỏe, cấp cứu tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho NLĐ. NLĐ là nữ phải được khám phụ khoa; Đối với các đối tượng làm công việc nặng nhọc, độc hại, hay là người khuyết tật, người cao tuổi hoặc vị thành niên phải được khám sức khoẻ 6 tháng 1 lần. Doanh nghiệp tổ chức lưu trữ hồ sơ quản lý sức khoẻ cá nhân và hồ sơ theo dõi tổng hợp. 7.3.3.2. Quản lý bệnh nghề nghiệp. Do điều kiện làm việc và đặc thù công việc của lao động ngành may mặc khiến công nhân may dễ mắc phải những căn bệnh nghề nghiệp; gây ảnh hưởng tới quá trình sản xuất và năng suất lao động. Sau đây là những căn bệnh nghề nghiệp công nhân may thường mắc phải. Bệnh da liễu Công nhân may thường gặp một số bệnh về da liễu như bệnh sạm da, bệnh viêm da chàm tiếp xúc, bệnh dị ứng, bệnh viêm loét da, viêm móng… Nguyên nhân gây ra những căn bệnh về da của người lao động là do môi trường làm việc như bụi vải; bụi từ máy móc; hóa chất từ các chất nhuộm công nghiệp. Để giảm bị mắc phải các bệnh da nghề nghiệp cần sử dụng quần áo bảo hộ lao động chuyên dụng, mũ, khẩu trang, găng tay. Bên cạnh đó, công nhân may cũng nên rửa tay bằng xà phòng, thay quần áo sạch khi tan ca. Sử dụng kem làm ẩm da nếu phải tiếp xúc với các loại hóa chất làm khô da; khám sức khỏe định kỳ. Bệnh căng thẳng và rối loạn cảm xúc Đặc thù công việc là liên tục phải quan sát các đường kim, mũi chỉ trong suốt ca lao động để đảm bảo tính chính xác cho sản phẩm. Mức độ tập trung quan sát khi thực hiện thao tác có thể là nguy cơ gây ra tình trạng căng thẳng và rối loạn Trang 122 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may cảm xúc. Sự yêu cầu chính xác về thành phẩm; hoặc áp lực từ các chỉ tiêu có thể khiến người công nhân cảm thấy quá tải hoặc áp lực. Bệnh điếc Điếc là căn bệnh có tỷ lệ nhiều người mắc. Nguyên nhân gây ra điếc ở công nhân may là do phải tiếp xúc với môi trường tiếng ồn vượt quá quy chuẩn cho phép trong thời gian dài. Tiếng ồn gây ra từ sự vận hành của máy móc như máy may, máy dệt là nguyên nhân trực tiếp gây ra căn bệnh này. Để giảm bị điếc nghề nghiệp, nên thường xuyên sử dụng nút tai chống ồn; và lên lịch đi khám sức khỏe định kỳ. Bệnh bụi phổi Một căn bệnh phổ biến của công nhân may liên quan tới đường hô hấp là bệnh bụi phổi. Đây là căn bệnh rất dễ mắc và khó chữa. Một số bệnh bụi phổi công nhân thường mắc phải hiện nay là: bệnh bụi phổi silic; bệnh bụi phổi ami-ăng; bệnh bụi phổi bông… Công nhân may phải tiếp xúc, hít nhiều loại sợi đay, gai, bông…; lại không mang khẩu trang trong quá trình sản xuất nên nguy cơ mắc bệnh bụi phổi bông rất lớn. Biểu hiện lâm sàng của bệnh bụi phổi bông là do hít phải sợi đay, gai, bông… là tức ngực, khó thở, ho. Để giảm nguy cơ mắc bệnh bụi phổi, công nhân nên sử dụng mặt nạ chống bụi; khẩu trang; quần áo bảo hộ lao động. Bên cạnh đó, nên vệ sinh cá nhân; tắm rửa; thay quần áo sạch sẽ sau khi tan ca. Tránh hút thuốc lá và nên khám sức khỏe định kỳ. Bệnh xương khớp Bình thường, người lao động hầu như phải ngồi làm việc liên tục bên chiếc máy may công nghiệp. Việc phải ngồi lâu trong một tư thế, tay chân phải hoạt động ít được nghỉ ngơi; công nhân ngành may có nguy cơ cao mắc các bệnh liên quan tới xương, khớp. Các vị trí xuất hiện đau mỏi nhiều nhất trong quá trình lao động là vùng lưng, vùng vai, vùng gáy, vùng thắt lưng. Thông thường, thời gian xuất hiện cơn đau mỏi là cuối ca làm việc. Căn bệnh này cũng gây ảnh hưởng tới quy trình sản xuất và năng suất lao động của công nhân. Để phòng tránh căn bệnh này, người công nhân nên có chế độ dinh dưỡng giàu vitamin và dưỡng chất; tăng cường vận động bằng một vài bài tập đơn giản và thuần thục tranh thủ bất cứ thời gian rảnh rỗi để tăng cường sự dẻo dai cơ thể. Có thể tăng cường sử dụng các loại thực phẩm có giàu vitamin D giúp ích cho quá trình tái tạo canxi trong cơ thể. Thường xuyên thăm khám và kiểm tra sức khỏe xương khớp. Trang 123 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Công tác quản lý bệnh nghề nghiệp được quy định chi tiết tại Thông tư 14/2013/TT-BYT về quy định khám sức khỏe định kỳ và khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động. 7.3.4. Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân Phương tiện bảo vệ cá nhân là các dụng cụ, thiết bị quan trọng với người lao động. Việc trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động là trách nhiệm của người sử dụng lao động nhằm đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động chung và tính mạng, sức khỏe cho từng cá nhân người lao động. Các dụng cụ, thiết bị này cũng phải được trang bị phù hợp với môi trường làm việc, điều kiện làm việc của người lao động. Người lao động trong ngành may được trang bị các loại phương tiện tùy công việc theo bảng 7.5 dưới đây Bảng 7.5. Phương tiện bảo vệ cá nhân ngành dệt, may. Loại công việc Loại phương tiện trang bị Tẩy vải, giặt vải, nhuộm vải, in hoa vải Quần áo lao động phổ thông, mũ vải, găng tay cao su dày, khẩu trang lọc bụi, ủng cao su, xà phòng Xếp vải, cắt vải, là quần áo, điều khiển máy may, máy thùa khuyết, đính cúc, vắt sổ Mũ vải, quần áo lao động phổ thông, khẩu trang lọc bụi, giầy vải mỏng đi trong nhà, xà phòng. 7.4. CÔNG THÁI HỌC (Ergonomic) 7.4.1. Các khái niệm công thái học. Công thái học là một ngành khoa học liên quan đến việc nghiên cứu sự tương thích giữa con người và các yếu tố khác của hệ thống và công việc bằng cách áp dụng lý thuyết, các nguyên tắc, các số liệu và các phương pháp để thiết kế nhằm đạt được tối ưu hoá lợi ích của con người và hiệu quả hoạt động chung của toàn hệ thống. Trong lĩnh vực nghiên cứu công thái học nhằm giảm bớt sự căng thẳng của người lao động, giảm rủi ro trong công việc, tăng sự hài lòng và hứng thú trong công việc và làm cho công việc trở nên dễ chịu. Điều quan trọng là giảm các vấn đề sức khỏe tại nơi làm việc, nâng cao khả năng bảo vệ trong khi làm việc, giảm ảnh hưởng có hại của môi trường và thực hiện công việc một cách dễ dàng. Các nhiệm vụ của công thái học từ quan điểm của nền kinh tế là làm tăng tính chính xác của công việc, tăng tốc độ nhịp nhàng, đảm bảo tính khả thi của lao động, giảm chi phí, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra quyết định, cải thiện luồng thông tin và sử dụng thời gian. Công thái học phải tăng động lực, số lượng và chất lượng công việc. Trang 124 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Đối tượng nghiên cứu của công thái học là xác định các điều kiện làm việc ngăn ngừa sự khó chịu, mệt mỏi của nhân viên, và chấn thương thể chất. Tổn thương liên quan đến điều kiện làm việc kém có thể được ngăn ngừa bằng cách thiết kế môi trường làm việc thực tế xung quanh các nhu cầu thể chất của cá nhân người lao động. Vì vậy, cần phải biết các kiến thức về sinh lý, tâm lý - xã hội học. điều kiện và điều kiện nhân trắc học công thái học. 7.4.1.1. Điều kiện Sinh lý. Điều kiên sinh lý là khả năng giới hạn trong cơ thể của một người lao động. Một trong những lĩnh vực trong sinh lý học lao động là nghiên cứu năng lực làm việc của một người và các tác động khác nhau đến năng lực làm việc. Một người có khả năng tạo ra kết quả lao động (và thể chất) tốt nhất khi khoảng 25 tuổi, và có hiệu quả về tinh thần và tổ chức khi anh ta khoảng 45 tuổi. Sử dụng hợp lý năng lực lao động của con người là vấn đề không chỉ của nhân văn mà còn vấn đề kinh tế. Nếu một người lao động trong độ tuổi sớm hoặc khi quá già được giao những nhiệm vụ mà anh ta không cân bằng về mặt sinh lý (thể chất), nó ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả cuộc sống của con người. Một người như vậy bị bệnh nhiều hơn trong suốt cuộc đời làm việc của mình. Sinh lý học nghiên cứu tác động của công việc lên các quá trình sinh lý ở một người. Nó khám phá những hậu quả phát sinh trong cơ thể con người dưới ảnh hưởng của công việc trong các điều kiện khác nhau. Mục tiêu của nó là xác định cách để làm việc và khỏe mạnh, hoặc làm thế nào để không làm cho công việc trở thành lý do gây bệnh cho người lao động. 7.4.1.2. Điều kiện tâm lý - xã hội học. Các điều kiện tâm lý - xã hội học của công việc liên quan chủ yếu đến việc đạt được cảm giác hài lòng trong công việc. Mức độ trách nhiệm đối với nhân viên phải cao hơn nhiều so với khách hàng và người tiêu dùng vì mức độ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng cũng phụ thuộc vào sự hài lòng của nhân viên và mối quan hệ của họ với công việc. Sự hài lòng của nhân viên là một tập hợp các điều kiện thúc đẩy nhân viên thực hiện thành công nhiệm vụ của họ và tôn trọng các nguyên tắc đạo đức tại nơi làm việc. Sự hài lòng của nhân viên tạo động lực cho họ đạt được các mục tiêu của tổ chức, tạo ra một thị trường sản phẩm thời trang rộng lớn hơn và đạt được lợi nhuận cao hơn. mặt khác, sự hài lòng của nhân viên có thể cải thiện các mối quan hệ trong tổ chức và xây dựng chúng về sự tin cậy, sự giao tiếp và phối hợp công việc giữa các bộ phận chức năng. Sự hài lòng trong công việc đề cập đến nhận thức (giả định và niềm tin về công việc), phản ứng tình cảm (cảm xúc đối với công việc) và đánh giá (xếp hạng công việc) của cá nhân đối với công việc của họ. Trang 125 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 7.4.1.3. Vị trí làm việc. Vị trí làm việc là nơi công nhân chiếm giữ khi thực hiện công việc. Vị trí làm việc được thiết kế tốt là rất quan trọng để ngăn ngừa các bệnh liên quan đến điều kiện làm việc kém, cũng như để đảm bảo rằng công việc có hiệu quả. Mỗi vị trí làm việc nên được thiết kế với cả công nhân và nhiệm vụ để công việc có thể được thực hiện thoải mái, trơn tru và hiệu quả. Khu vực làm việc được thiết kế phù hợp để người lao động có thể duy trì tư thế cơ thể đúng và thoải mái. Điều này rất quan trọng vì tư thế làm việc không thoải mái có thể gây ra nhiều vấn đề, chẳng hạn như: - Đau lưng; - Phát triển hoặc làm trầm trọng thêm bệnh nền; - Vấn đề tuần hoàn ở chân. - Đối với công việc lắp ráp, vật liệu nên được đặt ở vị trí sao cho cơ bắp khỏe nhất của người lao động thực hiện hầu hết công việc. - Đối với công việc liên quan đến việc kiểm tra vật liệu, bàn làm việc nên thấp hơn so với công việc nặng nhọc. - Các dụng cụ cầm tay gây khó chịu hoặc thương tích cần được sửa đổi hoặc thay thế. Người lao động thường là nguồn ý tưởng tốt nhất về cách cải tiến một công cụ để việc sử dụng nó trở nên thoải mái hơn. Ví dụ, kìm có thể thẳng hoặc uốn cong, tùy thuộc vào nhu cầu. - Một nhiệm vụ không được yêu cầu người lao động phải ở trong các tư thế khó khăn, chẳng hạn như vươn người, cúi người hoặc khom lưng trong thời gian dài. - Người lao động cần được đào tạo các kỹ thuật nâng hạ đúng cách. Một công việc được thiết kế tốt nên giảm thiểu khoảng cách và tần suất người lao động phải nâng. - Nên giảm thiểu công việc đứng, vì ngồi thường ít mệt hơn đứng. - Việc phân công công việc nên được luân phiên để giảm thiểu lượng thời gian mà một công nhân dành ra để làm một công việc có tính lặp lại cao, vì công việc lặp đi lặp lại đòi hỏi phải sử dụng nhiều lần và thường rất nhàm chán. - Người lao động và thiết bị phải được đặt ở vị trí sao cho người lao động có thể thực hiện công việc của họ với cánh tay ở phía trên và cổ tay của họ thẳng. 7.4.2. Một số nguyên tắc thiết kế vị trí làm việc theo công thái học 7.4.2.1. Phạm vi làm việc Chiều cao đầu • Dành đủ không gian cho công nhân cao nhất có thể. Trang 126 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may • Vị trí hiển thị ngang hoặc thấp hơn tầm mắt vì mọi người tự nhiên nhìn xuống một chút. Chiều cao vai • Bảng điều khiển nên được đặt giữa chiều cao của vai và thắt lưng. • Tránh đặt các đồ vật cao hơn vai hoặc các điều khiển được sử dụng thường xuyên. Vươn cánh tay • Đặt các mục trong tầm với của cánh tay ngắn nhất để tránh kéo căng quá mức khi vươn lên hoặc ra ngoài. • Định vị các vật dụng cần thiết cho công việc để người lao động cao nhất không cần cúi xuống khi cúi xuống. • Để các vật liệu và dụng cụ thường xuyên sử dụng gần và trước cơ thể. Chiều cao khuỷu tay • Điều chỉnh chiều cao bề mặt làm việc sao cho bằng hoặc thấp hơn chiều cao của khuỷu tay cho hầu hết các nhiệm vụ công việc. Hình 7.2. Phạm vi làm việc của cánh tay. Trang 127 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Chiều cao tay: đảm bảo rằng các vật dụng phải nâng được giữ ở giữa chiều cao của tay và vai. Chiều dài chân • Điều chỉnh chiều cao ghế theo chiều dài chân và chiều cao của bề mặt làm việc. • Dành khoảng trống để chân có thể dang rộng, đủ không gian cho chân dài. • Cung cấp một giá để chân có thể điều chỉnh để chân không bị lủng lẳng và giúp người lao động thay đổi vị trí cơ thể. Kích thước bàn tay • Tay nắm phải vừa vặn với bàn tay. Tay nắm nhỏ là cần thiết cho bàn tay nhỏ, chuôi lớn hơn cho bàn tay lớn hơn. • Dành đủ không gian làm việc cho những bàn tay lớn nhất. Kích cỡ cơ thể • Dành đủ không gian tại vị trí làm việc cho công nhân có kích thước lớn nhất. Hình 7.3. Các vị trí làm việc tốt. Trang 128 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 7.4.2.2. Thiết kế ghế ngồi Nếu một công việc không đòi hỏi nhiều thể lực và có thể được thực hiện trong một không gian hạn chế, thì công việc đó nên được thực hiện trong tư thế ngồi. Lưu ý: ngồi cả ngày không tốt cho cơ thể, đặc biệt là lưng. Do đó, cần có một số nhiệm vụ công việc được thực hiện để một công nhân không bắt buộc chỉ làm công việc ngồi. Một chiếc ghế tốt là điều cần thiết cho công việc ngồi làm việc. Ghế phải cho phép người lao động thay đổi chân và các tư thế làm việc chung một cách dễ dàng. Hình 7.4. Kích thước ghế nghồi hợp lý. Sau đây là một số hướng dẫn công thái học cho công việc ngồi: - Người lao động cần có khả năng tiếp cận toàn bộ khu vực làm việc mà không bị kéo căng hoặc xoắn không cần thiết. - Vị trí ngồi tốt có nghĩa là cá nhân người lao động được ngồi thẳng phía trước và gần với sản phẩm và công cụ. - Bàn làm việc và ghế phải được thiết kế sao cho bề mặt làm việc xấp xỉ với khuỷu tay. - Lưng phải thẳng và vai thả lỏng. - Nếu có thể, nên có một số hình thức hỗ trợ có thể điều chỉnh được cho khuỷu tay, cẳng tay hoặc bàn tay. Trang 129 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hình 7.5. Tư thế ngồi làm việc hợp lý. 7.4.3. Công thái học trong việc cải thiện lao động ngành may. 7.4.3.1. Kho nguyên vật liệu Nhà kho là không gian để lưu trữ nguyên vật liệu dệt- may, nơi chúng có thể được đưa vào và tránh khỏi các ảnh hưởng vật lý và khí quyển khác nhau cho đến khi chúng được đưa vào sản xuất hoặc phòng cắt. Việc lưu trữ nguyên liệu dệt là một hoạt động đòi hỏi tổ chức và sắp xếp hợp lý vì bảo quản không đúng cách, điều kiện thời tiết, sơ suất hoặc thao tác không đúng đều dẫn đến hư hỏng và phá hủy nguồn cung cấp. Nguyên liệu dệt chiếm tỉ trọng đầu tư lớn cho nhà sản xuất ngành may mặc và lưu trữ không tốt có thể dẫn đến tổn thất lớn. Điều kiện ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới rất khác nhau liên quan đến độ ẩm, nóng hoặc lạnh và sự hiện diện của côn trùng. Như vậy phải lưu ý đến điều kiệnkhi lưu trữ và bảo vệ vật liệu. Điều kiện lý tưởng phải đạt được càng gần càng tốt: - Phòng khô có nhiệt độ 20 ° C. - Không có ánh nắng trực tiếp Trang 130 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hình 7.6. Kệ, giá nhiều tầng. - Cấu trúc phòng chứa để chống lại côn trùng và chuột - Điều hòa không khí hoặc một số phương pháp kiểm soát độ ẩm khác (độ ẩm 30–50%) Tùy thuộc vào kích thước, vị trí (khoảng cách liên quan đến phòng cắt), tự động hóa và các điều kiện bảo quản nguyên liệu dệt, công nhân có điều kiện hoạt động khác nhau - Kho bãi được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp. Diện tích mặt bằng được tận dụng tiết kiệm tối đa. Các biện pháp được áp dụng để đạt hiệu quả như sử dụng kệ giá nhiều tầng Đường đi vận chuyển nguyên vật liệu phải được thông thoáng không bị cản trở. Khoảng cách vận chuyển tính toán sao cho ngắn nhất. Giảm thiểu sức lao động trong khi vận chuyển bằng cách dùng kệ giá có bánh xe hoặc cơ giới hóa trong quá trình cung ứng nguyên vật liệu cho xưởng cắt, xưởng may v.v… Trang 131 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hình 7.7. Kệ, giá có bánh xe. Hình 7.8. Xe đẩy đa năng. Trang 132 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Tiêu chuẩn về nâng vật nặng: Trong ngành may mặc có nhiều động tác nâng chuyển. Các động tác này là nguyên nhân dẫn đến các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Áp dụng đúng các nguyên tắc nâng chuyển sẽ giúp công việc an toàn hơn. Trọng lượng tối đa do Tổ chức Lao động Quốc tế khuyến nghị là: - Nam: không liên tục 55 kg, liên tục 35 kg. - Nữ: không liên tục 30 kg, liên tục 20 kg. Đối với lao động ngành may tại Việt Nam khuyến nghị tiêu chuẩn mang vác thấp hơn tiêu chuẩn ILO, cụ thể như bảng 7.5 Bảng 7.5. Quy định về trọng lượng mang vác tối đa. Giới hạn (Kg) Tiêu chí Nam Nữ Mang vác thường xuyên 40 30 Mang vác không thường xuyên 20 15 Hình 7.9. Giữ khoảng cách chân khi nâng vật nặng. Nếu phải nâng vật gì đó cao hơn vai, hãy đặt chân của bạn ở tư thế đi bộ. Đầu tiên nâng đối tượng lên ngang ngực. Sau đó, bắt đầu đẩy người lên trên bằng cách di chuyển chân ra ngoài để vật di chuyển và chuyển trọng lượng cơ thể lên bàn chân trước. Đối với nhiều người, mức nâng phù hợp là 70 đến 80 cm. Trang 133 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hình 7.10. Tư thế nâng vật nặng qua khỏi vai. Hình 7.11. Phương tiện cơ giới trong sắp xếp kho. Trang 134 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 7.4.3.2. Bộ phận cắt Trong quy trình công nghệ bộ phận cắt, các chi tiết được cắt bằng máy cắt tay hoặc trên máy và cắt nhiều lớp được coi là nhiệm vụ vật lý khó khăn nhất. Tổng hợp các công việc thực hiện gồm: trải vải, cắt xếp, bó hàng trên bàn cắt chi tiết trong đó có cả công việc nâng, chuyển nguyên vật liệu. Do đó vật liệu cần được vận chuyển vào phân xưởng cắt bằng xe đẩy. Vận hành an toàn trên máy cắt tay yêu cầu dây điện phải nguyên vẹn và công tắc nguồn chính xác. Dây điện không được dẫn dọc theo những nơi mà nhân viên di chuyển, hoặc nếu không thể khác được, những nơi cáp điện được thiết lập nên được bảo vệ và đánh dấu để không trở thành mối đe dọa cho nhân viên khi di chuyển. Khi cắt, công nhân bắt buộc phải đeo găng tay kim loại bảo vệ. Ngoài ra máy cắt cầm tay thuộc nhóm công cụ cầm tay có độ rung gây ra hiện tượng rung cục bộ (rung tay khi tiếp xúc với máy cắt) Hình 7.12. Xe đẩy vải trong xưởng cắt. Trang 135 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hình 7.13. Găng tay bảo vệ khi cắt vải. 7.4.3.3. Bộ phận may Công việc may bao gồm các chuyển động lặp đi lặp lại của vai và cánh tay, trong khi cột sống và các chi dưới ở trạng thái tĩnh, cũng như độ nghiêng về phía trước trong khi công việc được thực hiện trong suốt thời gian làm việc. Thiết kế công thái học phù hợp cho từng nơi làm việc, cùng với việc tìm kiếm phương pháp làm việc với thời gian tiêu chuẩn thích hợp, đảm bảo cấu trúc tốt hơn của các hoạt động công nghệ với việc tăng hiệu suất của máy may. Tư thế làm việc tại máy may phải có khả năng cử động được các chi, sắp xếp thuận lợi về mặt công thái học. Quy trình công nghệ may quần áo được thực hiện trên dây chuyền sản xuất với số lượng lớn với mỗi công đoạn có thời gian ngắn khối lượng công việc ảnh hưởng tâm lý, thể chất đáng kể đối với mỗi công nhân. Bán thành phẩm may trải qua quá trình công nghệ, do đặc điểm cơ lý của nó, đòi hỏi phải xử lý cẩn thận khi lấy, lắp ráp, định vị và đặt nó sang một bên. Do đó, với đặc trưng của công nghệ các hoạt động chủ yếu liên quan đến việc xử lý vật liệu chiếm 65% quá trình công nghệ. Quá trình xử lý trên máy may là thời gian máy hoặc thủ công chiếm 25%, còn lại 10% thời gian được sử dụng cho công vô ích. Thiết kế nơi làm việc ở quá trình may cần thiết phải đạt được sự hài hòa về chiều đi của hệ thống vận chuyển giữa con người và máy móc, với cơ chế sinh lý chính xác tư thế ngồi, cho phép chuyển động nhanh chóng và chính xác khi bật máy và xử lý Trang 136 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may đối tượng làm việc, mức độ cao của phối hợp các chuyển động, một vị trí đúng của cột sống và vị trí tốt của người lao động. Tư thế của cơ thể của người lao động, sự phức tạp của cấu trúc chuyển động riêng lẻ trong quá trình thực hiện hoạt động công nghệ của may và mức độ kiểm soát cơ bắp và thị giác của công nhân phụ thuộc vào loại hoạt động công nghệ, loại máy may, kỹ thuật của thiết bị, máy móc và hệ thống bố trí nơi làm việc. Điều kiện làm việc kém kết hợp với tâm lý bất lợi và hoàn cảnh xã hội có thể gây ra nhiều bệnh khác nhau, chẳng hạn như: - Các triệu chứng về cảm xúc - tâm lý căng thẳng, không chắc chắn, lo lắng và trầm cảm. - Bệnh tâm thần - hô hấp, tiêu hóa, tim mạch, mất hoặc tăng cảm giác thèm ăn và ngủ. Nếu chiều cao của bàn, bao gồm cả máy may quá thấp, công nhân phải cúi người về phía trước để xem kim may đúng cách. Ở một vị trí như vậy, rất khó để điều khiển bàn đạp. Tư thế ngồi với phần thân bị uốn cong về phía trước khiến người lao động có nguy cơ bị rối loạn cơ xương khớp. Ngồi lâu ở các tư thế không tự nhiên là hệ quả phổ biến và nguyên nhân thông thường bởi ghế không có tựa lưng. Hình 7.14. Tư thế cơ thể và tay không tự nhiên. Công nhân vận hành máy may có vấn đề về vai và cổ chiếm đến 30% các báo cáo triệu chứng về rối loạn cơ xương khớp, chẳng hạn như ngứa ran ở bàn tay và ngón tay và đau nhức ở cánh tay, vai và cổ. 70% thợ may sử dụng điều khiển bàn Trang 137 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may đạp chân báo cáo đau lưng, 35% báo cáo đau lưng dai dẳng, 25% bị rối loạn chấn thương tích lũy có thể bù đắp được và 49% công nhân bị đau ở cổ. Công đoạn may tay và cắt chỉ làm căng thẳng tất cả các chi trên, các nhiệm vụ khâu có liên quan đến đau vai, cổ tay và bàn tay, ủi bằng tay có liên quan đến đau khuỷu tay, Các nhiệm vụ lắp ráp hàng may mặc có liên quan đến rối loạn chấn thương tích lũy của bàn tay và cổ tay và phẫu thuật bàn chân kết hợp với đau ở lưng. Khi may, các vấn đề phát sinh chủ yếu: (a) Bàn quá thấp buộc người lao động phải cúi người về phía trước, điều này làm căng cổ, lưng và vai. Khi bàn quá cao, công nhân phải nâng vai lên một cách bất thường, điều này làm mỏi cổ, vai, và mặt sau. (b) Đưa tay vào khoảng cách để tiếp cận, định vị hoặc di chuyển vật liệu khớp vai và khớp khuỷu tay và lưng. (c) Đặt cẳng tay hoặc cổ tay lên các cạnh sắc của bàn ngăn cản sự lưu thông và chèn ép các dây thần kinh, làm tăng nguy cơ bị thương ở bàn tay và cánh tay. (d) Ánh sáng kém đòi hỏi người lao động phải căng mắt và cơ thể để tự định vị để tối đa hóa độ chiếu sáng. Nó được khuyến khích có độ chiếu sáng tối thiểu 1000 lux trong khu vực may. (e) Ngồi hoặc đứng ở tư thế khó hoặc trong thời gian dài làm mệt mỏi và gây căng thẳng cho chân và lưng. (f) Hoạt động của bàn đạp máy may góp phần vào rối loạn cơ xương bàn chân và cẳng chân. Chân của người lao động để có thể dễ dàng vận hành bàn đạp, góc của đầu gối phải là lớn hơn 90º một chút và đùi phải nằm ngang. Thiết kế tiện dụng hơn của nơi làm việc trong phòng may đòi hỏi: - Công việc nên được tổ chức để sử dụng đồng thời cả hai tay bất cứ khi nào có thể. - Tay nên được giải phóng khỏi công việc bất cứ khi nào có thể và công cụ phục vụ hoặc máy móc được thực hiện bằng chân (làm việc trên máy may chuyên dụng đặc biệt bất cứ khi nào có thể. Một nghiên cứu với 132 nhà sản xuất hàng may mặc của Hoa Kỳ nhận thấy rằng các công ty đầu tư vào thiết bị may tiện dụng tăng cả năng suất và chất lượng. - Để thực hiện một chuyển động tiết kiệm tối đa, cần phải sử dụng đủ khối lượng cơ. - Nơi làm việc được thiết kế giả sử rằng công nhân đó có kỹ năng thị giác, tức là tư thế làm việc thuận lợi, bao gồm một chút uốn cong phần trên của lưng với một đường ngắm có thể bao gồm linh hoạt phía trước của đầu ở tư thế thoải mái đến mức tối đa 30 ° và xoay mắt bổ sung 10 °. Tư thế này cho phép vùng tầm nhìn với góc nhìn ± 1 °, giúp đạt được thị lực cao cần thiết để quản lý chính xác các hoạt động công nghệ của may vá. Trang 138 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Chiều cao ngồi, chiều cao và kích thước của bàn để máy móc, vị trí bàn đạp, khoảng cách của ghế, với tầm nhìn cần thiết và thị lực và khả năng thực hiện các chuyển động đồng thời của tay, chân và thân. - Quy trình thiết kế nơi làm việc trong phòng may yêu cầu xác định các góc của quy luật động học, theo đó vị trí của chân trên bàn đạp của máy may ở một góc 90° –100°, trong khi các góc phù hợp với khớp dưới đầu gối-trên đầu gối là 90° – 110 ° và thân trên của đầu gối là 90°–95 °. Đây là cách để xác định một tư thế ngồi đúng về mặt chức năng và sinh lý học tư thế làm việc, bố trí thiết bị, phương tiện công việc hợp lý, góc nhìn thích hợp, khoảng cách và độ cao khi ngồi. - Ghế được thiết kế phù hợp công thái học góp phần vào khả năng nâng cao và tiện nghi của vị trí làm việc. Ghế cần được điều chỉnh được chiều cao và có thể điều chỉnh trở lại. Bàn may thiết kế công thái học có tay đỡ có thể điều chỉnh được, nơi công nhân có thể thoải mái cánh tay. - Bề mặt làm việc nghiêng 10° –15° có thể giữ cho vật liệu trong tầm nhìn và giảm các tư thế khó khăn của cánh tay, cổ và thân. Nghiêng ra khỏi người vận hành giúp kéo vải nặng qua máy mà không cần nhiều lực. Các cạnh bàn có đệm hoặc bo tròn giúp giảm áp lực lên cổ tay và cẳng tay. Bàn đạp chân nhạy áp lực cho phép kích hoạt chỉ với một sự dịch chuyển trọng lượng nhẹ nhàng. Đối với người vận hành đứng, thảm chống mỏi giúp ngăn ngừa các vấn đề tuần hoàn chi dưới. Hình 7.15. Bàn máy may có bộ phận đỡ khuỷu tay. - Chuyển động từ trái sang phải yêu cầu căng thẳng một phần tĩnh (lấy và chuyển một phần cắt) và một phần động, và mỗi kèm theo hơi cúi và xoay người ở thắt lưng khu vực. - Đèn cục bộ có thể điều chỉnh tùy chọn cho phép công nhân thay đổi vị trí chiếu sáng nơi họ cần và tránh chói, phản xạ và bóng khuất. - Hầu hết các xưởng may cần có sự kết hợp giữa chiếu sáng tự nhiên và nhân tạo. Các đề xuất về lượng ánh sáng cần có sẵn cho loại công việc sau: Trang 139 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may • Thủ công và lắp ráp: 300 lux • Có sử dụng máy móc: 500 lux - 1000 lux. 7.4.3.4. Công thái học trong phòng hoàn thiện Hoàn thiện là quá trình có ảnh hưởng lớn nhất đến vẻ ngoài của một bộ quần áo. Quá trình này bao gồm kiểm tra may mặc, kiểm tra đo lường, ủi v.v… Sau khi may, tất cả sản phẩm được kiểm tra bởi một người kiểm tra chất lượng để đảm bảo rằng hàng may mặc đang được thực hiện theo tiêu chuẩn chất lượng của người mua. Kiểm tra bình thường được thực hiện bẳng mắt và các phép đo trực quan. Trong khi kiểm tra chất lượng, có sự căng thẳng cho mắt, dẫn đến nhức đầu và khó chịu về thị giác. Trong hoàn thiện, các vấn đề sau phát sinh: vấn đề về da, thị giác, khó chịu về thần kinh, khó chịu về hô hấp và vấn đề về thính giác. Hình 7.16. Khu vực kiểm tra có đủ sáng. Đối với các quy trình nặng như ủi, có mức tiêu thụ năng lượng 4 kcal/phút. Chiều cao của bề mặt làm việc phải thấp hơn 20 cm so với chiều cao khuỷu tay. Trang 140 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Hình 7.17. Thao tác ủi gây cong người. Bàn ủi quá thấp, người công nhân phải cong người để làm việc. Đây là tư thế làm việc không thoải mái (Hình 7.16). Ngược lại, bàn ủi cao so với tầm vóc người lao động cũng phải được điều chỉnh như hình 7.17. Hình 7.18. Vị trí làm việc cần kê đủ thêm chiều cao cho người có tầm vóc thấp. Tại nơi làm việc, không khí cần được thay đổi từ 8 đến 12 lần mỗi giờ và phải có ít nhất 10 mét khối không khí cho mỗi công nhân. Trang 141 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may Giặt-ủi là khâu hoàn thiện đặc biệt đối với hàng may mặc. Đối với quần áo màu sáng, giặt được thực hiện để loại bỏ bụi bẩn và vết bẩn. Trong phần giặt, công nhân tiếp xúc với hóa chất, đặc biệt là thuốc tẩy và chất tẩy rửa, nếu không nhận thức được những nguy hại cho sức khỏe của chúng, dẫn đến dị ứng da. Công đoạn hoàn thiện quần jean (giặt trước hoặc giặt đá, tẩy trắng, trộn, nghiền, giặt bẩn, thổi cát denim, sơn) với thiết bị lạc hậu và điều kiện làm việc không đầy đủ là một quá trình rất nguy hiểm đối với sức khoẻ của người lao động. Phun cát denim là một quy trình được sử dụng để hoàn thiện vẻ ngoài quần jean được sử dụng phổ biến. Quá trình này liên quan đến việc sử dụng máy để tạo ra tia cát có áp suất trên bề mặt của quần áo. Tùy thuộc vào số lượng silicat được tìm thấy trong cát đang được sử dụng, quá trình này có thể tạo ra một lượng lớn bụi silicat. Khi hít phải một lượng lớn các hạt silica, chúng có thể bắt đầu gây ra các vấn đề về phổi, bao gồm cả sự phát triển của bệnh bụi phổi silic. Bệnh bụi phổi silic là một bệnh phổi gây ho, khó thở và sụt cân và tùy thuộc vào mức độ thiệt hại gây ra, cuối cùng có thể tử vong. Vì vậy, cần thiết phải sử dụng thiết bị bảo vệ các nhân khi làm việc như trong Hình 7.18. Hình 7.19. Phương tiện bảo vệ khi phun cát denim. Trang 142 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 7.5. Ứng dụng 5s. 7.5.1 Khái niệm. 5S là tên gọi của một phương pháp để quản lý, sắp xếp môi trường làm việc. Cốt lõi của 5S là loại bỏ các quy trình không mang lại giá trị gia tăng bằng cách áp dụng và phát triển các phương pháp tiêu chuẩn để thực hiện công việc cần thiết. Do đó, một chương trình 5S hiệu quả cải thiện hiệu quả, chất lượng, quy trình làm việc và sự an toàn của người lao động. Các cột trụ của 5s: 5S được viết tắt từ 5 từ của tiếng Nhật. Đó là Seiri (整理 Sàng lọc), Seiton (整頓 Sắp xếp), Seiso (清掃 Sạch sẽ), Seiketsu (清潔 Săn sóc) và Shitsuke (躾 Sẵn sàng). - Seiri là quá trình loại bỏ các thứ không cần thiết trong trong phạm vi làm việc. Điều này được giải quyết bằng cách dán nhãn bất kỳ thứ gì được cho là không cần thiết trong khu vực làm việc. Tất cả các mục không cần thiết được gắn nhãn (màu đỏ) sau đó sẽ được chuyển đến khu vực được xác định trước. - Seiton về cơ bản là quá trình sắp xếp các công cụ, thiết bị và quy trình tại nơi làm việc cho người lao động, đồng thời cải thiện tổng thể an toàn và công thái học. Bước này thường mất nhiều thời gian hơn các bước khác và yêu cầu một số vật liệu như băng keo dán, bảng ghim, nhãn dán. Seiso phần lớn bước này được xử lý trong giai đoạn Seiton. Trước hết, làm sạch khu vực làm việc, có thể bao gồm làm sạch sàn nhà hoặc sơn lại thiết bị, sửa chữa sàn nhà, sơn tường, v.v. Thứ hai, quy định lịch trình và trách nhiệm cụ thể cho từng người để đảm bảo khu vực làm việc được cập nhật tiêu chuẩn. Thứ ba, quan trọng nhất của Seiso là cung cấp một bầu không khí sạch, có thể sử dụng như một cách để kiểm tra thiết bị bằng cách làm cho nó dễ phát hiện máy móc cần sửa chữa hơn (ví dụ: rò rỉ dầu nhiều hơn trong một môi trường sạch, sẽ được chú ý). Seiketsu là bước giúp thiết lập các phương pháp rõ ràng, dễ nhận biết cho theo tình trạng của khu vực phải được duy trì. Một trong những công cụ chính được sử dụng để tiêu chuẩn hóa là đánh giá 5S. Việc đánh giá được tiến hành thường xuyên dựa trên một bộ tiêu chuẩn. Các kết quả đánh giá này được công khai và giám sát. Các hành động cần thiết được thực hiện để cải thiện kết quả được ghi nhận. Shitsuke được đánh giá là bước khó nhất trong 5 trụ cột, Shitsuke là quy trình giúp mọi thứ không trở lại như trước 5S. Điều này thực hiện bằng cách duy trì lặp lại, siêng năng và trách nhiệm cho đến khi nó trở thành một thói quen. Trang 143 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may 7.5.2. Lợi ích của 5S - Tiết kiệm thời gian lãng phí khi tìm kiếm các công cụ. - Giảm thời gian đi lại để hoàn thành nhiệm vụ. - Tăng cường độ an toàn bằng cách loại bỏ các nguy cơ vươn tay quá mức, uốn cong và vấp ngã. - Tăng độ tin cậy của thiết bị. - Tăng năng suất lao động. - Tạo tinh thần làm việc và bầu không khí cởi mở - Nâng cao chất lượng cuộc sống. 7.6. Trách nhiệm xã hội SA-8000. Trong thị trường toàn cầu hiện nay, các vấn đề liên quan đến tính bền vững của môi trường, vấn đề đạo đức và điều kiện môi trường làm việc an toàn, các mối quan hệ của các bên liên quan và bảo vệ quyền lợi của người lao động ngày càng được quan tâm. Tiêu chuẩn SA8000 là tiêu chuẩn chứng nhận có thể kiểm tra được, nhằm khuyến khích các tổ chức phát triển, duy trì và áp dụng các thông lệ được xã hội chấp nhận tại nơi làm việc. Các tiêu chí của SA8000 được phát triển từ các quy tắc công nghiệp để tạo ra một tiêu chuẩn chung cho việc tuân thủ phúc lợi xã hội. Các vấn đề SA-8000 được quan tâm: - Lao động trẻ em: Không sử dụng lao động trẻ em. SA-8000 có các chính sách và thủ tục bằng văn bản để khắc phục hậu quả cho trẻ em bị phát hiện đang phải làm việc tại doanh nghiệp. Cung cấp đầy đủ tài chính và các hỗ trợ khác để những trẻ em đó được đi học; và việc làm của lao động trẻ có điều kiện. - Lao động cưỡng bức và bắt buộc: Không sử dụng lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc; không yêu cầu 'tiền ký quỹ' hoặc tài chính khác; không khấu trừ tiền lương, phúc lợi, tài sản hoặc tài liệu để buộc nhân viên tiếp tục làm việc; nhân viên có quyền rời khỏi cơ sở sau ngày làm việc; người lao động được tự do chấm dứt hợp đồng lao động; và không sử dụng cũng như hỗ trợ việc buôn bán lao động. - Sức khỏe và An toàn: Cung cấp một nơi làm việc an toàn và lành mạnh; ngăn ngừa các tai nạn lao động có thể xảy ra; cử người quản lý cấp cao về công tác đảm bảo ATVSLĐ; hướng dẫn về ATVSLĐ cho tất cả nhân viên; hệ thống phát hiện, tránh, ứng phó với rủi ro; ghi lại tất cả các vụ tai nạn; cung cấp thiết bị bảo vệ cá nhân và chăm sóc y tế trong trường hợp bị thương do công việc; loại bỏ, giảm thiểu rủi ro cho các lao động nữ mới sinh con; vệ sinh- nhà vệ sinh, nước uống, bảo quản thực phẩm hợp vệ sinh; ký túc xá tươm tất- sạch sẽ, an toàn, đáp ứng các nhu cầu cơ bản. Trang 144 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may - Quyền tự do lập hội và quyền thương lượng tập thể: Tôn trọng quyền thành lập và tham gia công đoàn và thương lượng tập thể. Tất cả nhân viên được tự do: tổ chức các công đoàn do họ lựa chọn; và mặc cả tập thể với chủ nhân của họ. Công ty phải: tôn trọng quyền tổ chức công đoàn & thương lượng tập thể; không can thiệp vào các tổ chức của người lao động hoặc thương lượng tập thể; thông báo cho nhân viên về các quyền này & không bị trả thù; nơi luật pháp hạn chế quyền, cho phép người lao động tự do bầu cử đại diện; đảm bảo không phân biệt đối xử với nhân viên tham gia vào các tổ chức của người lao động; và đảm bảo quyền tiếp cận của người đại diện với người lao động tại nơi làm việc. - Phân biệt đối xử: Không phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, nguồn gốc quốc gia hoặc xã hội, đẳng cấp, nơi sinh, tôn giáo, khuyết tật, giới tính, khuynh hướng tình dục, thành viên công đoàn, chính kiến và tuổi tác. Không phân biệt đối xử trong tuyển dụng, thù lao, tiếp cận đào tạo, thăng chức, thôi việc và nghỉ hưu. Không can thiệp vào việc thực hiện các nguyên lý hoặc thông lệ nhân sự; nghiêm cấm các hành vi đe dọa, lăng mạ, bóc lột, ép buộc tại nơi làm việc hoặc cơ sở của công ty; không thử thai hoặc trinh tiết trong bất kỳ trường hợp nào. - Thực hành Kỷ luật: Đối xử với tất cả nhân viên một cách công bằng và tôn trọng; không sử dụng nhục hình, lạm dụng tinh thần hoặc thể chất của nhân viên; không đối xử thô bạo hoặc vô nhân đạo. - Giờ làm việc: Tuân thủ luật pháp & tiêu chuẩn ngành; tuần làm việc bình thường, không bao gồm làm thêm giờ, không quá 48 giờ; 1 ngày nghỉ sau mỗi 6 ngày làm việc liên tục, với một số trường hợp ngoại lệ; làm thêm giờ là tự nguyện, không thường xuyên, không quá 12 giờ mỗi tuần; chỉ yêu cầu làm thêm giờ nếu được thương lượng trong CBA. - Chế độ đãi ngộ: Tôn trọng quyền của người lao động với mức lương đủ sống; tất cả người lao động được trả ít nhất mức lương tối thiểu hợp pháp; lương đủ để đáp ứng các nhu cầu cơ bản và phụ cấp; các khoản khấu trừ không vì mục đích kỷ luật, với một số trường hợp ngoại lệ; lương và phúc lợi được thông báo rõ ràng cho người lao động; thanh toán theo phương thức thuận tiện - tiền mặt hoặc hình thức chuyển khoản; làm thêm giờ được trả theo mức phí bảo hiểm; nghiêm cấm sử dụng lao động chỉ ký hợp đồng ngắn hạn, hợp đồng học nghề giả để trốn tránh nghĩa vụ pháp lý đối với nhân sự. Trang 145 Giáo trình An toàn lao động trong dệt may TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Mỹ Linh, Giáo trình Kỹ thuật an toàn và vệ sinh lao động trong ngành may, Đại hoc công nghiệp TPHCM, 2015. 2. Tim South, Managing Noise and Vibration at Work, Elsevier ButterworthHeinemann, 2004. 3. Juan Carlos Hi ba, Cải thiện điều kiện lao động và năng suất lao động trong ngành may mặc, Geneva Internationnal Labour Office, 2008. 4. Danuta Koradecka, Handbook of Occupational Safety and Health, CRC Press, 2010. 5. Dr Gordana Colovic, Ergonomics in the garment industry, Woohead Publishing India PVT LTD, 2014. 6. Bộ Luật lao động nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2004. 7. Bộ luật An toàn, vệ sinh lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2015. Trang 146
0
You can add this document to your study collection(s)
Sign in Available only to authorized usersYou can add this document to your saved list
Sign in Available only to authorized users(For complaints, use another form )