Tổng quan về Luận số toán mệnh không cần thầy Trong tư tưởng của người xưa, sự giàu sang, nghèo hèn, may rủi, họa phúc, sinh lão bệnh tử, được mất, sang hèn cho đến cả việc kinh doanh mưu cầu lợi nhuận của con người, không gì là không phụ thuộc vào một sức mạnh vô hình mà bản thân không thể nắm bắt được. Đó thường được gọi là vận mệnh. Khổng Tử nói: "Bất chi mệnh, bất dĩ vi quân tử, Sở Vân mệnh giả, kỳ nghĩa tại chi tiến chỉ dã", có nghĩa là không biết mệnh thì không phải là người quân tử. Cái gọi là mệnh, ý nghĩa của nó là chỗ biết khi nào nên tiến, khi nào nên lùi. Người xưa tin vào vận mệnh, tự nhiên sẽ dốc hết tâm huyết và trí lực để tạo ra các phương pháp dự đoán vận mệnh cốt để có thể tìm lành, tránh dữ, nắm bắt được số mệnh của mình. Do đó, trong văn hóa truyền thống đã lưu truyền lại một số di sản văn hóa vô cùng quý báu. Học thuật bói toán là một hình thức mê tín. Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão ngày nay thì điều này là một sự thật không cần bàn cãi. Tuy nhiên, kể từ khi học thuật này ra đời, từ việc hôn nhân cưới gả, kinh doanh làm giàu, thi cử cầu quan cho đến cả việc dụng binh đánh trận hay thi hành chính sách, tất cả mọi người từ đế vương quý tộc đến thường dân trăm họ, không ai không tìm đến nó để dự đoán Hùng Cát. Có thể thấy ảnh hưởng của học thuật bói toán đối với văn hóa và quan niệm của các dân tộc Đông Phương là vô cùng to lớn. Bất kể là người giàu hay người nghèo, là quan lớn hay thường dân đều không thể tránh khỏi bảy tai tám nạn. Cổ nhân nói: "quan vấn hình, phú vấn tai, bình dân bách tính vẫn phát tài". Có nghĩa là quan hỏi về hình phạt, giàu thì hỏi về tai ương, dân thường thì hỏi đường phát tài. Có người nói vận mệnh của mình do chính mình nắm giữ. Về bản chất, câu nói này là đúng nhưng nó phải có tiền đề là bạn phải dự đoán được vận mệnh của chính mình. Nếu không biết vận mệnh của mình ra sao mà lại muốn làm chủ nó thì đó cũng chỉ là một câu nói suông. Điều này cũng giống như một người không hiểu tính năng của xe, lại không giành kỹ thuật lái thì làm sao có thể lái xe tốt được. Con người luôn thường tò mò về vận mệnh, mỗi năm đều đi hỏi rất nhiều thầy, đồng thời cũng tốn không ít tiền của. Hễ gặp khó khăn là lại tìm đến thầy, còn phải hỏi cho gia Ngô ra khoai. Nhận thấy điều đó, loạt bài về luận số toán mệnh không cần thầy được biên soạn, chắt lọc tinh hoa từ các sách cổ, tổng hợp các sở trường của các trường phái, sử dụng các kỳ thư, sách quý hiếm và cả những phương pháp khoa học cận đại. Với lối hành văn, ngôn ngữ phổ thông dễ hiểu và dễ dàng ứng dụng cũng như mong muốn sẽ là kim chỉ nam chỉ đường dẫn lối cho vận mệnh, giúp con người dễ dàng làm chủ cuộc đời mình. Phần 1: Âm Dương Ngũ Hành Để bắt đầu cho loạt bài có chủ đề luận số toán mệnh không cần thầy, trước tiên sẽ tìm hiểu về phần một với chủ đề là Âm Dương Ngũ Hành. Trong các bộ môn khoa học dự trắc của Đông Phương, tất cả những phương pháp như bát quái, tứ trụ, Kỳ Môn, tinh phượng, phong thủy, âm dương vân vân đều lấy sự biến hóa của âm dương làm nguyên lý và lấy quy luật sinh khắc chế hóa ngũ hành làm ép tắc. Do đó, để dùng tứ trụ dự đoán thông tin cát hung của một người cũng cần phải hiểu rõ các nguyên lý, phương pháp và các mối quan hệ tương hỗ trong sự biến hóa sinh khắc của âm dương, ngũ hành. 1. Học thuyết Âm Dương Học thuyết Âm Dương là một dạng tư tưởng duy vật và biện chứng pháp mộc mạc được người lao động các dân tộc đông phương cổ đại xây dựng nên thông qua việc quan sát các sự vật và hiện tượng, từ đó phân loại vạn vật vạn tượng trong vũ trụ thành hai loại lớn là âm và dương. Học thuyết âm dương cho rằng sự hình thành, biến đổi và phát triển của mọi sự vật đều nằm ở sự vận động của hai khí âm và dương. Quy luật biến đổi của âm dương trong giới tự nhiên mà học thuyết này tổng kết được hoàn toàn tương đồng với tư tưởng triết học về sự đối lập và thống nhất. Học thuyết âm dương không chỉ được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khoa học mà còn trở thành nền tảng lý luận cho khoa học tự nhiên và thế giới quan duy vật của các dân tộc Đông Phương. 1.1. Nguồn gốc của học thuyết Âm Dương Học thuyết Âm Dương đã hình thành từ rất sớm ngay từ thời nhà hạ. Điều này có thể được chứng thực qua sự xuất hiện của các hào âm và hào dương trong bát quái của kinh dịch. Các hào âm được ký hiệu là những vạch đứt và hào dương là một vạch liền trong bát quái đã xuất hiện trong cuốn sách cổ "Liên Sơn" của nhà Hạ. Do đó, "Sơn Hải Kinh" cũng đoạn viết: "Phục khi được hà đồ. Người nhà Hạ dựa vào đó mà làm ra sách gọi là Liên Sơn. Hoàng đế được Hà Đồ. Người nhà Thương dựa vào đó mà làm ra sách được gọi là quy tàng. Liệt Sơn thị được hà đồ. Người nhà Chu dựa vào đó mà làm ra sách gọi là Chu Dịch". Điều này có nghĩa là từ thời nhà Hạ đã có sách về bát quái như Liên Sơn mà bát quái lại được cấu thành từ hai hào cơ bản nhất đó là âm và dương. Vì vậy việc cho rằng học thuyết âm dương khởi nguồn từ nhà Hạ là đáng tin cậy. 1.2. Sự đối lập của Âm Dương Sự đối lập về Âm Dương có nghĩa là vạn vật vạn tượng trong tự nhiên đều đồng thời tồn tại hai thuộc tính trái ngược nhau bên trong, tức là tồn tại hai phương diện đối lập là Âm và Dương. Ví dụ, bát quái được tạo thành từ hai loại ký hiệu đối lập là Âm và Dương. Cũng có thể nói bát quái được tạo thành từ bốn cặp ký hiệu đối lập và tiếp đó là 64 quẻ được tạo thành từ 32 cặp ký hiệu đối lập. Bởi vậy mà có câu: "Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, Tứ Tượng sinh bát quái và Bát Quái sinh vạn vật." Sách "Kinh Dịch" đã chỉ ra rằng càn khôn là căn bản của Âm Dương, là tổ tông của vạn vật. Vậy quẻ càn thuần Dương, quẻ khôn thuần Âm. Vì vậy có thể nói hai mâu thuẫn đối lập là Âm và Dương chính là mâu thuẫn căn bản của mọi sự vật. Mặc dầu Càn và Khôn là hai mâu thuẫn đối lập nhưng lại thống nhất với nhau. Chỉ có sự thống nhất này thì sau đó mới có thể nảy sinh biến hóa, sinh thành bản vật. Vì thế sự đối lập và thống nhất của Âm Dương chính là khởi đầu và kết thúc của mọi sự vật. 1.3. Thuộc tính Âm Dương Âm Dương không chỉ bao quát hai phương diện đối lập của vạn vật vạn tượng mà còn mang hai thuộc tính trái ngược nhau. Tuy nhiên, thuộc tính Âm Dương của hai mặt đối lập trong mỗi sự vật và hiện tượng không thể được gán đặt một cách tùy tiện, cũng không thể bị đảo ngược, mà ngược lại phân loại theo những quy luật nhất định. Vậy dùng tiêu chuẩn nào để phân chia thuộc tính Âm Dương của sự vật và hiện tượng? Trong "Kinh Dịch hệ từ" có viết: "Đạo của càn thành nam, đạo của khôn thành nữ. Càn là cha, khôn là mẹ. Sinh ra sáu người con là trấn, cấn, khảm, tốn, ly, đoài". Sáu người con này lại phân ra nam và nữ, tức là trời đất sinh ra vạn vật và vạn vật không gì là không phân chia thành hai giới tính. Trong "Kinh Dịch hệ từ" cũng viết: "Trời ở trên cao, đất ở giấy thấp, càn là vật dương, khôn là vật âm và quẻ dương là số lẻ, quẻ âm là số chẵn". Phàm những gì có tính chất tương tự như nam giới ở trên cao và là số lẻ đều thuộc phạm chủ của dương. Phàm những gì có tính chất tương tự như nữ giới ở giấy thấp và mềm mại đều thuộc phạm chủ của âm. 1.4. Sự tương hỗ nương tựa của Âm Dương Sự tương hỗ của Âm Dương có nghĩa là hai mặt đối lập trong một sự vật hoặc hiện tượng có mối liên hệ nương tựa vào nhau, làm tiền đề cho nhau. Mỗi một phương diện của Âm Dương đều lấy phương diện còn lại làm tiền đề tồn tại cho chính mình. Tức là không có Âm thì Dương không thể tồn tại và không có Dương thì Âm cũng không thể tồn tại. Giống như không có càn thì không có khôn, không có trời thì không có đất. Sách "Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận" có nói: "Âm ở trong Dương bảo vệ nó, Dương ở ngoài Âm sai khiến nó". Do đó Âm và Dương luôn nương tựa và làm tiền đề cho nhau. 1.5. Sự tiêu chưởng của Âm Dương Sự tiêu chuẩn của Âm Dương có nghĩa là hai mặt đối lập trong một sự vật hoặc hiện tượng luôn vận động và biến đổi. Sự vận động đó diễn ra theo hình thức bên này mất đi thì bên kia lớn lên gọi là tiêu chưởng. Do hai mâu thuẫn đối lập là Âm và Dương luôn ở trong trạng thái cân bằng động. Bên kia mất đi thì bên này lớn lên, bên này tiến lên thì bên kia lùi lại, nên mới có thể duy trì được sự phát triển và biến đổi bình thường của sự vật. "Kinh Dịch hệ từ" có viết: "Mặt trời đi thì mặt trăng đến, mặt trăng đi thì mặt trời đến. Mặt trời và mặt trăng thay phiên nhau mà tạo ra ánh sáng. Lạnh đi thì nóng đến, nóng đi thì lạnh đến. Nóng và lạnh thay phiên nhau mà làm nên một năm". Cái gọi là đi và đến chính là sự tiêu chưởng của Âm Dương. Ngày biến thành đêm, đêm biến thành ngày. Thời tiết từ nóng chuyển sang lạnh, từ lạnh chuyển sang nóng. Quy luật biến đổi của ngày và đêm, nóng lạnh được dùng để phản ánh quy luật phát triển của sự vật. Nếu sự biến đổi này trở nên bất thường, đó chính là phản ứng bất thường của quá trình tiêu chưởng âm dương. 1.6. Sự chuyển hóa của Âm Dương Sự chuyển hóa Âm Dương chính là sự biến đổi của Âm Dương là khi hai thuộc tính khác nhau của Âm Dương trong một sự vật hoặc hiện tượng dưới những điều kiện nhất định sẽ chuyển hóa thành mặt đối lập của nó. "Kinh Dịch hệ từ" có lời: "Âm Dương hợp đức thì cương và nhu có hình thể". Âm và Dương tuy đối lập nhưng lại nương tựa vào nhau. Chỉ khi Âm Dương thống nhất thì mới có thể thúc đẩy sự biến đổi và phát triển của sự vật. Và như vậy Âm Dương mới có thể cùng tồn tại lâu dài. Âm và Dương tuy có hai thuộc tính khác nhau nhưng lại có thể chuyển hóa lẫn nhau. Sự sinh sôi không ngừng được gọi là dịch. Đạo có biến động nên gọi là hào. Dịch chính là sự thay đổi lẫn nhau giữa Âm và Dương, tức là Âm cực sinh Dương, Dương cực sinh Âm. Vì vậy Âm biến thành Dương, Dương biến thành Âm. Hào Dương đầu tiên của quẻ Càn gọi là sơ cửu ở dưới cùng. Hào Âm đầu tiên của quẻ Khôn ở dưới cùng gọi là sơ lục bắt đầu ngưng tụ. Điều này cho thấy hai quẻ Càn và Khôn đại diện cho một thể thống nhất của mâu thuẫn Âm Dương. Sự giao thoa ban đầu của hai quẻ chính là sự khởi đầu của việc Âm Dương kết hợp và chuyển hóa. Điều này có nghĩa là sự chuyển hóa lẫn nhau của Âm Dương chính là quy luật tất yếu trong sự phát triển của sự vật. Sự vật chỉ cần phát triển thuận theo quy luật biến đổi của Âm Dương thì cuối cùng sẽ đạt được mục đích chuyển hóa lẫn nhau. 2. Học thuyết Ngũ Hành Sau phần tìm hiểu về học thuyết Âm Dương, tiếp theo sẽ tìm hiểu về học thuyết Ngũ Hành. Học thuyết Ngũ Hành cũng là một sáng tạo độc đáo của người Đông Phương. Tư tưởng triết học rực rỡ của nó đã có tác dụng thúc đẩy vô cùng to lớn với sự phát triển của sự nghiệp khoa học tại Đông Phương. Về bản chất, học thuyết Ngũ Hành cho rằng thế giới được cấu thành từ năm loại vật chất cơ bản, đó chính là Mộc, Thổ, Hỏa, Kim và Thủy. Sự phát triển và biến đổi của các sự vật hiện tượng trong giới tự nhiên, bao gồm cả con người đều là kết quả của sự vận động không ngừng và tương tác lẫn nhau của năm loại vật chất này. Phát hiện này đã tìm ra quy luật và nguyên nhân của sự sinh sôi và hủy diệt của vạn vật trong vũ trụ. Do đó, học thuyết Ngũ Hành cũng là một dạng chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng mộc mạc. Trong lĩnh vực khoa học, học thuyết Ngũ Hành có phạm vi ứng dụng vô cùng rộng rãi. 2.1. Nguồn gốc của học thuyết Ngũ Hành Nguồn gốc của học thuyết Ngũ Hành vẫn là một vấn đề chưa được làm rõ trong giới học thuật với ba luồng ý kiến đối lập rất rõ ràng. ● ● Giới dịch học: Cho rằng học thuyết Ngũ Hành rất có thể đã ra đời đồng thời với học thuyết Âm Dương. Giới sử học: Lại có người cho rằng người sáng lập học thuyết Ngũ Hành là Mạnh Tử. Ví dụ như học giả Phạm Văn Lan, trong cuốn "Trung Quốc thông sử giản biên" có viết: "Mạnh Tử là người khởi xướng học thuyết Ngũ Hành. Mạnh Tử có nói rằng cứ 500 năm ắt có bậc vua chúa nổi lên. Từ thời Ngêu Thuấn đến vua Thang là hơn 500 năm. Từ vua Văn Vương đến Khổng Tử cũng hơn 500 năm". Những cách nói này gần giống với sự vận hành tuần hoàn của Ngũ Hành. Sau Mạnh Tử một chút là Châu Diễn. đã mở rộng học thuyết Ngũ Hành và trở thành một nhà âm dương Ngũ Hành ra. Tuy nhiên, việc nói học thuyết Ngũ Hành do Mạnh Tử phát minh không có bằng chứng xác thực và chính Phạm Văn Lan cũng đã tự phủ nhận quan điểm của mình. Trong cùng một cuốn sách, ông lại viết: "Mặc Tử không tin vào Ngũ Hành đã từng phản bác thuật chiêm bốc dùng ● năm màu sắc của Thanh Long để định hùng cát". Điều này đủ thấy rằng thuyết Ngũ Hành đã định hành từ thời Đông Chu đến Châu Diễn thì được phát huy một cách đặc biệt. Mạnh Tử là người nước Lỗ thời Chiến Quốc. Trong khi học thuyết Ngũ Hành đã có từ thời Đông Chu, vậy thì rõ ràng không phải là do Mạnh Tử phát minh. Một số sách xử lại nói rằng học thuyết âm dương Ngũ Hành do Đổng Trọng Thư Thời Nhà án sáng lập, điều đó lại càng sai. Giới triết học: Các học giả như Vu Bạch Tuệ, Vương Liêm lại cho rằng văn bản ghi chép rõ ràng về Ngũ Hành được tìm thấy trong "Thượng Thư Hồng Phạm", tương truyền là văn tự đầu thời Tây Chu, nhưng theo khảo chứng của các học giả hiện đại thì có thể được viết vào thời Chiến Quốc. Ngũ hành gồm một là thủy, hai là hỏa, ba là mộc, bốn là kim, năm là thổ. Nước có tính thấm xuống, lửa có tính bốc lên, gỗ có tính cong thẳng, kim có tính thay đổi theo khuôn mẫu, đất thì dùng để gieo trồng gạt hái. Có thể thấy vấn đề về nguồn gốc học thuyết Ngũ Hành vẫn còn là một nghi án. 2.2. Đặc tính của Ngũ Hành Như đã nói, Ngũ Hành chính là năm vật chất cơ bản gồm Mộc, Hỏa, Thổ, Kim và Thủy. Trong đó: ● ● ● ● ● Mộc: Có đặc tính sinh sôi phát triển vươn thẳng. Hỏa: Có đặc tính nóng rực hướng lên trên. Thổ: Có đặc tính nuôi dưỡng sinh thành. Kim: Có đặc tính thanh tĩnh, thu liễm và sát phạt. Thủy: Có đặc tính lạnh lẽo đi xuống. Học thuyết Ngũ Hành sử dụng phương pháp lấy hình tượng để so sánh phân loại, phân chia các sự vật hoặc hiện tượng cần giải thích thành năm loại một cách mộc mạc. Nó quy những sự vật hoặc hiện tượng có thuộc tính tương tự vào từng hành trong Ngũ Hành và trên cơ sở thuộc tính Ngũ Hành vận dụng các quy luật của chúng để lý giải mối liên hệ và sự biến đổi của các sự vật hiện tượng đó. 2.3. Sự tương sinh tương khắc của Ngũ Hành Học thuyết Ngũ Hành cho rằng giữa các sự vật luôn tồn tại mối liên hệ nhất định và mối liên hệ này thúc đẩy sự phát triển và biến đổi của chúng. Giữa Ngũ Hành tồn tại quy luật tương sinh và tương khắc. Do đó sinh khắc chính là quan điểm cơ bản mà học thuyết Ngũ Hành dùng để khái quát và lý giải mối quan hệ cũng như sự phát triển biến đổi của sự vật. ● Tương sinh: Có nghĩa là mang ý nghĩa nuôi dưỡng, thúc đẩy giúp cho nhau tăng trưởng. ○ Mộc sinh Hỏa ○ Hỏa sinh Thổ ○ Thổ sinh Kim ○ Kim sinh Thủy ○ Thủy sinh Mộc ● Tương khắc: Mang ý nghĩa ràng buộc, khắc chế, kìm hãm lẫn nhau. ○ Mộc khắc Thổ ○ Thổ khắc Thủy ○ Thủy khắc Hỏa ○ Hỏa khắc Kim ○ Kim khắc Mộc Trong mối quan hệ tương sinh luôn có hai phương diện là sinh ra ta và ta sinh ra. Sinh ra ta gọi là phụ mẫu ấn thụ. Ta sinh ra là tử tôn gọi là thực thương. Khắc ta là quan quỷ, ta khắc là thê tài, ngang với ta là huynh đệ tỷ kiếp. Ví dụ như nếu nhật can tức là trụ ngày là thiên can, là canh thuộc hành kim thì thổ sinh kim nên thổ là phụ mẫu của kim. Hỏa khắc kim nên hỏa là quan quỷ của kim. Kim khắc mộc nên mộc là thê tài của kim. Kim sinh thủy nên thủy là tử tôn của kim và kim và kim tương đồng nên là tỷ kiếp tức là huynh đệ. Lưu ý thê tài đối với nam mệnh vừa đại diện cho tiền tài vừa đại diện cho người vợ. Quan quỷ đối với nữ mệnh vừa là quan tinh sự nghiệp vừa là người chồng. Tương sinh và tương khắc cũng giống như âm dương là hai phương diện không thể tách rời của sự bật. Không có sinh thì không có sự phát sinh và trưởng thành của sự vật. Không có khắc thì không thể duy trì sự cân bằng và hài hòa trong quá trình phát triển và biến đổi. Do đó, không có tương sinh thì không có tương khắc. Và ngược lại, mối quan hệ trong sinh có khắc, trong khắc có sinh đối lập mà tương trợ, làm tiền đề cho nhau này đã thúc đẩy và duy trì sự sinh trưởng, phát triển và biến đổi bình thường của sự vật. 2.4. Sự sinh khắc và phản khắc của Ngũ Hành Trong quy luật sinh khắc của Ngũ Hành, nếu chỉ biết đến quy luật sinh thuận, khắc thuận mà không hiểu đạo lý phản sinh phản khắc thì sẽ không thể vận dụng tốt lý luận này để dự đoán thông tin về con người. Trong sinh khắc Ngũ Hành, sách "Nguyên lý phú" của Từ Đại Thăng có viết: "Kim vượng hỏa mới thành khí cụ, hỏa vượng gặp thủy mới thành tương tế, thủy vượng gặp thổ mới thành ao hồ, thổ vượng gặp Mộc mới được hơi thông, Mộc vượng gặp kim mới thành cột giường". Ở đây câu "kim vượng gặp hỏa mới thành khí cụ" ý nói trong tứ trụ lấy nhật can thiên can làm chủ. Nếu thiên can là kim thì phải có hỏa khắc để rèn luyện thì mới thành kim hữu dụng. Thiên can phải vượng được thời được thế thì mới có thể đảm đương được quan hoặc sát đến khắc. Thiên can vượng mà thắng được khắc tinh cũng cần phải có sự kết hợp đúng đắn trong tứ trụ và gặp được đại vận lưu niên thì phù hợp mới là điềm lành. Nếu như thiên can yếu mà sát mạnh, tứ trụ lại thiên lệch khô héo, gặp phải đại vận lưu niên sai trái thì tự nhiên sẽ hung nhiều hơn cát. Vậy thì phản sinh thành khắc là như thế nào? Phản sinh thành khắc chính là: ● ● ● ● ● Kim nhờ Thổ sinh: Thổ nhiều Kim bị chôn vùi (thổ đa kim mai). Thổ nhờ Hỏa sinh: Hỏa nhiều Thổ bị cháy khô (hỏa đa thổ tiêu). Hỏa nhờ Mộc sinh: Mộc nhiều Hỏa bị nghẹt (mộc đa hỏa tắc). Mộc nhờ Thủy sinh: Thủy nhiều Mộc bị trôi giạt (thủy đa mộc phiêu). Thủy nhờ Kim sinh: Kim nhiều Thủy bị đục (kim đa thủy chọc). Thổ vốn sinh kim, nhưng nếu thổ quá nhiều thì ngược lại sẽ chôn vùi kim, làm kim mất đi tác dụng của nó. Ví dụ, một người có cơ thể vốn khỏe mạnh nhưng lại ăn thêm nhân sâm và đồ bổ, kết quả không những bổ thân mà còn vì bổ quá mà sinh bệnh như nhiệt nóng chảy máu cam, đó chính là phản sinh thành khắc. Trong bệnh lý Thổ sinh kim thì Thổ là ấn. Ấn là qua nhiều thì phải dùng tài để khắc chế. Nếu trong tứ trụ không có tài thì phải tìm cách bổ cứu, nếu không sẽ bị chôn vùi. Ví dụ có thể thêm vào tên một chữ liên quan đến tài để bổ cứu. Như Thổ sinh kim quá nhiều, Thổ là ấn, Mộc là tài, Mộc khắc Thổ. Nhưng trong trụ không có mộc thì có thể thêm vào các chữ có bộ mộc như Dương, Lâm vân vân. Nếu không cả đời sẽ không thuận lợi, thậm chí nửa đường đứt gánh. Tiết khí quá nhiều thành khắc: ● ● ● ● ● Kim có thể sinh Thủy: Thủy nhiều Kim bị chìm (thủy đa kim trầm). Thủy có thể sinh Mộc: Mộc thịnh Thủy bị cạn kiệt (mộc thịnh thủy xúc). Mộc có thể sinh Hỏa: Hỏa nhiều, Mộc bị thiêu dụi (hỏa đa mộc phần). Hỏa có thể sinh Thổ: Thổ nhiều Hỏa bị lưu mờ (thổ đa hỏa hối). Thổ có thể sinh Kim: Kim nhiều Thổ bị suy yếu (kim đa thổ hư). Kim sinh thủy là ta sinh ra, tức là thực thần thương quan, nếu sinh ra quá nhiều thì sẽ thành con vượng mà mẹ suy, tức là bản thân bị tiết khí quá độ mà trở nên yếu đi và bị khắc. Đây chính là tiết khí nhiều thành khắc. Nếu gặp thủy nhiều kim chìm, dụng thần và vận nên chọn tỷ kiếp để trợ giúp bản thân. Nếu lấy thổ để khắc thủy thì sẽ làm mất đi vẻ đẹp thanh tú của cách cục kim thủy. Mộc thịnh thủy cạn, mộc nhiều có thể lấy kim để khắc mộc, đồng thời sinh thủy. Hỏa nhiều, mộc bị thiêu, hỏa nhiều nên dùng thủy để khắc chế, đồng thời thủy sinh mộc. Nếu dùng tỷ kiếp, tức là huynh đệ là mộc thì mộc lại sinh hỏa, lam hỏa càng vượng hơn. Thổ nhiều hỏa bị lưu mờ. Thổ nhiều nên lấy mộc khắc thổ và sinh hỏa hoặc lấy kim để tiết khí thổ. Nhưng không thể dùng hỏa vì hỏa sinh thổ làm thổ càng vượng. Kim nhiều thì nên lấy thổ làm tỷ kiếp huynh đệ trợ giúp bản thân là tốt nhất. Hoặc dùng hỏa khắc kim để sinh thổ. Tiếp đến là phản khắc tức là khắc ngược. Trong Ngũ Hành không chỉ có khắc thuận, vượng khắc suy mạnh khắc yếu mà còn có khắc ngược tức là phản khắc, được trình bày như thế này: ● ● ● ● ● Kim có thể khắc Mộc: Nhưng Mộc cứng thì Kim bị sứt mẻ gọi là mộc kiên kim khuyết. Mộc có thể khắc Thổ: Nhưng Thổ nặng thì Mộc bị gãy, gọi là thổ trọng mộc chiết. Thổ có thể khắc Thủy: Nhưng Thủy nhiều thì Thổ bị cuốn trôi. Thủy đa thổ đãng. Thủy có thể khắc Hỏa: Nhưng Hỏa vượng thì Thủy bị cạn khô. Hỏa vượng thủy can. Hỏa có thể khắc Kim: Nhưng Kim nhiều thì Hỏa bị dập tắt. Kim đa hỏa tức. Phản khắc cũng giống như trường hợp "thân nhược tài đa bất thắng tài", thân yếu mà tài sản quá nhiều thì không gánh nổi, kết quả là vì tiền tài hoặc phụ nữ mà gặp họa. Nếu tứ trụ gặp phải tình huống này, tốt nhất là nên chọn tỷ kiếp huynh đệ trợ giúp bản thân để cứu giải. 2.5. Sự vượng cực và tương thừa của Ngũ Hành Cuối cùng trong phần học thuyết Ngũ Hành này, chúng ta sẽ tìm hiểu về sự vượng cực và tương thừa của Ngũ Hành. Sự vật khi thịnh đến cực điểm thì trở nên vượng cực, tức là quá vượng. Ví như trong tứ trụ, thiên can vốn đã vượng lại gặp tỷ kiếp huynh đệ trùng điệp, phàm sự vật khi đã vượng cực thì sẽ sinh ra hiện tượng tương thừa, tức là mạnh lấn yếu. Sự vật khi vượng cực quá mức thì thường dễ bị gãy đổ, cũng như ngọc cứng thì dễ vỡ, thép quá cương thì dễ gãy. Đây chính là đạo lý đó. Vì vậy mới có lý luận quý như vàng ngọc rằng "kim vượng gặp hỏa mới thành khí cụ". Kết luận Học thuyết Âm Dương và Ngũ Hành là những lý luận vô cùng uyên thâm là nguyên lý và quy tắc cốt lõi của hầu hết các bộ môn khoa học dự trắc phương Đông. Qua buổi chia sẻ này, chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu về các quy luật cơ bản của Âm Dương như sự đối lập, nương tựa, tiêu chuẩn và chuyển hóa. Đồng thời, cũng đã khám phá sự vận động không ngừng và các mối quan hệ tương tác phức tạp của năm loại vật chất cơ bản: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ thông qua các quy luật tương sinh tương khắc và cả những trường hợp đặc biệt như phản sinh, phản khắc. Những kiến thức này chính là nền tảng vững chắc để tiếp tục đi sâu vào những bí ẩn của vận mệnh. Buổi chia sẻ xin được khép lại tại đây. Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm theo dõi. Xin chào và hẹn gặp lại trong chương trình lần sau, nơi chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về một chủ đề hấp dẫn không kém, đó là Thiên Can và Địa Chi. Tự luận số toán mệnh xem bói không cần thầy: Phần Hai - Thiên Can và Địa Chi Ở phần trước của loạt bài "Tự luận số toán mệnh xem bói không cần thầy", đã giới thiệu về Âm Dương Ngũ Hành, bao gồm nguồn gốc và các đặc tính của chúng. Phần này sẽ tiếp tục đi sâu vào tìm hiểu chi tiết về Thiên Can và Địa Chi. 1. Giới thiệu Thiên Can và Địa Chi Thiên Can (10 Can) và Địa Chi (12 Chi) là hai yếu tố cơ bản trong hệ thống lịch pháp và dự đoán vận mệnh phương Đông. Sách "Sử Khí" gọi 10 can là "mẹ", 12 chi là "con", gọi tắt là can chi. Xét theo quá trình phát triển lịch sử, Thiên Can có lẽ được phát minh trước, sau đó mới đến Địa Chi, và cuối cùng là sự kết hợp "Giáp Tí". Ngay từ thời nhà Ân Thương (thế kỷ 16 trước Công nguyên) đã có can chi Giáp Tí. Thập Can ban đầu được dùng làm đế hiệu trong vương triều nhà Thương (ví dụ: Thành Thang tên là Thiên Ất, con trai ông tên là Đại Đinh Trung Bính, Trung Nhâm, cháu trai tên là Đại Giáp). Sách "Vận Khí Học" chép: "Đại Náo bắt đầu dùng giáp ất để đặt tên cho ngày gọi là can, dùng tí sửu để đặt tên cho tháng gọi là chi". Điều này chứng tỏ sự ra đời của Can chi có mối quan hệ mật thiết với lịch pháp. 12 Địa Chi được đặt tên cho tháng. Vì vậy trong sách "Nhĩ Nhã Thích Thiên" có viết: "tuế âm là Tí Sửu, Dần Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi". Sự khác biệt giữa Thiên Can và Địa Chi: ● ● Thiên Can: Chủ về trời, chủ về động, biểu lộ ra bên ngoài, có thể hành động. Có tính chất đơn nhất, đơn thuần. Sự cát hung của Thiên Can thì rõ ràng, dễ thấy. Địa Chi: Chủ về đất, chủ về tĩnh, ẩn tàng bên dưới, tĩnh để chờ được dùng. Ẩn tàng nhiều yếu tố, tính chất phức tạp. Cát hung ẩn tàng, nhất thời khó thấy họa phúc. Khi được tuế vận (vận trình của một năm) dẫn động thì cát hung mới tỏ tường. Mối quan hệ giữa Thiên Can và Địa Chi: ● ● ● ● ● Chi là gốc của can, can là mầm của chi. Địa Chi khi trực năm (Thái Tuế) là đứng đầu các loại sát. Khi trực tháng (Nguyệt Lệnh) thì nắm quyền sinh sát. Thiên Can không có đặc quyền này. Do đó, Địa Chi là mấu chốt quyết định trạng thái sinh vượng tử tuyệt của Thiên Can. Vì vậy, tầm quan trọng của Địa Chi lớn hơn Thiên Can, nặng hơn Thiên Can. 2. Thập Thiên Can 2.1. Âm Dương Ngũ Hành của Thập Can 10 Can bao gồm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. ● ● Dương Can: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm. Âm Can: Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý. Phân loại theo Ngũ Hành: ● ● ● ● ● Giáp Ất: Thuộc Mộc. Giáp là Dương Mộc, Ất là Âm Mộc. Bính Đinh: Thuộc Hỏa. Bính là Dương Hỏa, Đinh là Âm Hỏa. Mậu Kỷ: Thuộc Thổ. Mậu là Dương Thổ, Kỷ là Âm Thổ. Canh Tân: Thuộc Kim. Canh là Dương Kim, Tân là Âm Kim. Nhâm Quý: Thuộc Thủy. Nhâm là Dương Thủy, Quý là Âm Thủy. Diễn giải hình tượng: ● ● ● Giáp Mộc (Dương Mộc): Gỗ của rừng lớn (đại lâm mộc), vươn cao tới trời, cứng rắn, vật liệu làm cột và giường. Ất Mộc (Âm Mộc): Gỗ của hoa cỏ, mềm mại, tình cảm, vẻ đẹp rực rỡ. Bính Hỏa (Dương Hỏa): Lửa của mặt trời (Thái dương hỏa), soi sáng trời đất, mãnh liệt, át cả sương tuyết. ● ● ● ● ● ● ● Đinh Hỏa (Âm Hỏa): Lửa của đèn nến (đăng trúc hỏa), soi sáng ngàn nhà, mềm yếu, vì người chứ không vì mình. Mậu Thổ (Dương Thổ): Đất của tường thành (thành viên thổ), cao giáo, cứng rắn, nuôi dưỡng vạn vật. Kỷ Thổ (Âm Thổ): Đất của ruộng vườn (điền viên thổ), ẩm ướt, mềm mại, ở nơi trũng thấp, tạo phúc. Canh Kim (Dương Kim): Kim loại của gươm đao, cứng cáp, nghiêm khắc, sát phạt, mang khí túc sát. Tân Kim (Âm Kim): Châu ngọc, dùng để khảm nạm, ôn hòa, trong và nhuận, tô điểm. Nhâm Thủy (Dương Thủy): Nước của sông hồ, biển cả, mạnh mẽ, cứng rắn, tưới tiêu vạn vật. Quý Thủy (Âm Thủy): Nước của mưa sương (vũ lộ thủy), khí hóa, cực tĩnh, cực yếu nhưng là nguồn nuôi dưỡng vạn vật. 2.2. Thập Can phối với bốn mùa và phương vị ● ● ● ● ● Giáp Ất: Phương Đông, thuộc Mộc, mùa xuân (Mộc khí chạm đất sinh sôi). Bính Đinh: Phương Nam, thuộc Hỏa, mùa hạ (Lửa nóng giúp vạn vật sinh trưởng). Mậu Kỷ: Trung ương, thuộc Thổ, mùa trường hạ (cuối hạ, bao bọc vạn vật). Canh Tân: Phương Tây, thuộc Kim, mùa thu (Âm khí trỗi dậy, vạn vật ngừng phát triển). Nhâm Quý: Phương Bắc, thuộc Thủy, mùa đông (Khí âm hóa thành mềm nhuận, vạn vật ẩn tàng). Từ đó, sự phối hợp giữa thập can và bốn mùa là: Giáp Ất thuộc mùa xuân, Bính Đinh thuộc mùa hạ, Mậu Kỷ thuộc mùa trường hạ (cuối hạ), Canh Tân thuộc mùa thu, Nhâm Quý thuộc mùa đông. 2.3. Thập Can phối hợp với cơ thể người ● ● Phối với các bộ phận cơ thể: ○ Giáp: Đầu ○ Ất: Lông mày ○ Bính: Trán ○ Đinh: Răng, lưỡi ○ Mậu Kỷ: Mũi, mặt ○ Canh: Gân ○ Tân: Ngực ○ Nhâm: Cẳng chân ○ Quý: Bàn chân Phối với tạng phủ: ○ Giáp: Đởm (túi mật) ○ Ất: Can (gan) ○ Bính: Tiểu trường (ruột non) ○ Đinh: Tâm (tim) ○ Mậu: Vị (dạ dày hoặc xương) ○ ○ ○ ○ ○ Kỷ: Tỳ (lá lách) Canh: Đại tràng (ruột già) Tân: Phế (phổi) Nhâm: Bàng quang Quý: Thận Nguyên tắc: Can số lẻ (Dương Can) được gọi là phủ. Can số chẵn (Âm Can) được gọi là tạng. 2.4. Thập Can phối hợp với các thần sát (Lục Thần) ● ● ● ● ● ● Giáp Ất: Ứng với Thanh Long (vui mừng, hỉ khánh) Bính Đinh: Ứng với Chu Tước (khẩu thiệt, quan phi, tránh cãi kiện tụng) Mậu: Ứng với Câu Trận (nỗi lo ruộng đất, nhà cửa, tù ngục) Kỷ: Ứng với Đằng Xà (kinh sợ, hốt hoảng, bất ngờ, lo lắng không yên) Canh Tân: Ứng với Bạch Hổ (huyết quang, tai nạn đổ máu, tang tóc) Nhâm Quý: Ứng với Huyền Vũ (trộm cắp, lừa đảo, chuyện mờ ám) 2.5. Hóa hợp của Thập Can Sự hóa hợp của 10 Thiên Can bao gồm năm cặp: ● ● ● ● ● Giáp hợp với Kỷ Hóa Thổ Ất hợp với Canh Hóa Kim Bính hợp với Tân Hóa Thủy Đinh hợp với Nhâm Hóa Mộc Mậu hợp với Quý Hóa Hỏa Hai luồng quan điểm chính để giải thích về sự hóa hợp: 1. Dựa trên quy luật khởi đầu của tháng trong năm (Ngũ Hổ Độn): ○ Giáp Kỷ Hóa Thổ: Các năm Giáp và Kỷ có tháng Giêng bắt đầu là Bính Dần. Bính thuộc Hỏa, Hỏa sinh Thổ. ○ Ất Canh Hóa Kim: Các năm Ất và Canh có tháng Giêng bắt đầu là Mậu Dần. Mậu thuộc Thổ, Thổ sinh Kim. ○ Bính Tân Hóa Thủy: Các năm Bính và Tân có tháng Giêng bắt đầu là Canh Dần. Canh thuộc Kim, Kim sinh Thủy. ○ Đinh Nhâm Hóa Mộc: Các năm Đinh và Nhâm có tháng Giêng bắt đầu là Nhâm Dần. Nhâm thuộc Thủy, Thủy sinh Mộc. ○ Mậu Quý Hóa Hỏa: Các năm Mậu và Quý có tháng Giêng bắt đầu là Giáp Dần. Giáp thuộc Mộc, Mộc sinh Hỏa. 2. Dựa trên vị trí của Nhị Thập Bát Tú (28 chòm sao trên thiên thể): ○ Khi khí của hành Thổ trên trời đi qua các sao Tâm Vĩ, Giác Cang, nó sẽ trùng với phương vị của Giáp và Kỷ. Do đó, những năm Giáp hoặc Kỷ sẽ chịu sự chủ quản của khí vận hành Thổ. Vì vậy, trong Tứ Trụ khi Giáp gặp Kỷ thì sẽ hóa Thổ. Bản chất của Hóa Hợp: Sự hóa hợp của Thập Can là sự kết hợp giữa Dương và Âm, đây chính là Âm Dương chi hợp ("Kinh Dịch" có câu "một Âm một Dương gọi là Đạo"). Âm Dương tương hợp cũng như nam nữ kết hợp mà thành đạo vợ chồng. Ý nghĩa của từng cặp hóa hợp: ● ● ● ● ● Giáp hợp Kỷ (hợp của sự chung chính): Giáp là Dương Mộc (nhân từ), Kỷ là Âm Thổ (trầm lặng, nuôi dưỡng). Kết hợp này biểu thị sự trung chính. Người có cặp hợp này thường được tôn trọng, khoan dung, thẳng thắn. Nếu khuyết thiếu ngũ hành và mang sát tinh thì dễ nóng nảy, tùy hứng. Ất hợp Canh (hợp của sự nhân nghĩa): Ất là Âm Mộc (mềm dẻo, nhân từ), Canh là Dương Kim (cứng rắn, bất khuất). Sự kết hợp bổ trợ giữa cương và nhu, tạo ra sự nhân nghĩa. Người có cặp hợp này nếu ngũ hành sinh vượng thì cốt cách thanh tú, hình dáng trong sáng, quyết đoán, có nguyên tắc. Nếu gặp tử tuyệt và mang sát tinh thì dễ nóng nảy, hiếu thắng, hay gây chuyện thị phi. Bính hợp Tân (hợp của sự uy chế): Bính là Dương Hỏa (ánh sáng rực rỡ), Tân là Âm Kim (mềm mại nhưng sắc bén). Kết hợp này tạo ra tài năng có tính uy chế (uy nghiêm và kiểm soát). Người có cặp hợp này thường có tướng mạo uy nghiêm, khiến người khác nể sợ, nhưng cũng có thể tàn khốc, ham mê cờ bạc, sắc dục. Nếu mang sát tinh hoặc ngũ hành ở thế tử tuyệt thì trở thành người bạc ơn, thiếu nghĩa khí, vô tình. Đinh hợp Nhâm (hợp của sự dâm noãn tình cảm): Nhâm là Thủy thuần Dương (lạnh lẽo), Đinh là Hỏa tàng Âm (ánh sáng mờ ảo). Kết hợp này biểu thị sự gần gũi, đa tình, ướt át. Người có cặp hợp này thường có ánh mắt sáng, thần thái quyến rũ, đa tình, dễ rung động, không theo đuổi sự cao sang trong sạch, chỉ ham mê lạc thú sắc dục, dễ làm ô uế gia phong, thân với kẻ tiểu nhân mà xa lánh người quân tử, tham lam và hành động vọng động. Phụ nữ gặp phải có thể lấy chồng giả khi còn trẻ hoặc lấy chồng trẻ khi lớn tuổi. Cuộc đời có thể từ nghèo hèn mà trở nên tốt đẹp hoặc ngược lại. Mậu hợp Quý (hợp vô tình): Mậu là Dương Thổ (khô nóng, ví như chồng già), Quý là Âm Thủy (yếu đuối, ví như vợ trẻ). Kết hợp giữa lão Dương và thiếu Âm, gọi là hợp vô tình. Người có cặp hợp này có thể tốt hoặc xấu tùy thuộc vào sự tương tác. Nếu Mậu lực Quý (nam Mậu lấy vợ Quý) thì người vợ thường kiều diễm, xinh đẹp, người chồng lấy được vợ trẻ. Nếu Quý được Mậu (nữ Quý lấy chồng Mậu) thì người vợ lại có dung mạo mộc mạc, già dặn, người chồng lấy phải vợ già. 3. Thập Nhị Địa Chi 3.1. Âm Dương Ngũ Hành của Thập Nhị Địa Chi 12 Địa Chi bao gồm: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. ● ● Dương Chi: Tí, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất. Âm Chi: Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi. Phân loại theo Ngũ Hành: ● ● ● ● ● Dần Mão: Thuộc Mộc. Dần là Dương Mộc, Mão là Âm Mộc. Tỵ Ngọ: Thuộc Hỏa. Ngọ là Dương Hỏa, Tỵ là Âm Hỏa. Thân Dậu: Thuộc Kim. Thân là Dương Kim, Dậu là Âm Kim. Hợi Tí: Thuộc Thủy. Tí là Dương Thủy, Hợi là Âm Thủy. Thìn Tuất Sửu Mùi: Thuộc Thổ. Thìn Tuất là Dương Thổ, Sửu Mùi là Âm Thổ. ○ Mùi Tuất: Thổ khô (can thổ) do có tàng chứa Hỏa. ○ Sửu Thìn: Thổ ẩm thấp (âm thấp thổ) do có tàng chứa Thủy. Tính chất của 12 Địa Chi đều được biểu hiện rõ trong trời đất. Ví dụ, Dần ứng với đầu mùa xuân, phối với can Giáp nên là Dương Mộc. Mão ứng với mùa xuân, phối với can Ất nên là Âm Mộc. 3.2. Thập Nhị Địa Chi với bốn mùa và phương vị ● ● ● ● Dần Mão Thìn: Phương Đông, thuộc Mộc, mùa xuân (thiếu dương khí của Mộc). Tỵ Ngọ Mùi: Phương Nam, thuộc Hỏa, mùa hạ (thái dương khí của Hỏa). Thân Dậu Tuất: Phương Tây, thuộc Kim, mùa thu (thiếu âm khí của Kim). Hợi Tí Sửu: Phương Bắc, thuộc Thủy, mùa đông (thái âm khí của Thủy). ○ Thìn Tuất Sửu Mùi: Là Thổ của bốn mùa (Tứ Quý Thổ), là các tháng cuối cùng của mỗi mùa, lúc hành Thổ vượng nhất. Nguyên lý về sự phối hợp giữa chi với bốn mùa và phương vị này cũng tương đồng với nguyên lý Thập Thiên Can. 3.3. Thập Nhị Địa Chi phối với Nguyệt Kiến (các tháng trong năm) ● ● ● ● Tháng Giêng: Kiến Dần (Chi Dần đương lệnh, nắm quyền sau tiết Lập Xuân). Tháng Hai: Kiến Mão (quyền lệnh chuyển sang Mão Mộc sau tiết Kinh Chập). Và cứ thế tương tự cho các tháng còn lại: Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tí, Sửu. Quy luật Ngũ Hành theo tháng: ○ Tháng 1, tháng 2 thuộc Mộc. ○ Tháng 4, tháng 5 thuộc Hỏa. ○ Tháng 7, tháng 8 thuộc Kim. ○ Tháng 10, tháng 11 thuộc Thủy. ○ Tháng 3, 6, 9, 12 thuộc Thổ. Việc tháng Giêng Kiến Dần là do vào thời điểm đó cán của chòm sao Bắc Đẩu chỉ về phương vị của Dần trên bầu trời. 3.4. Thập Nhị Địa Chi phối với 12 thời thần Giờ Tí là canh ba, khoảng thời gian từ 23 giờ (11:00 đêm hôm trước) đến 1 giờ sáng hôm sau. Khi dự đoán tứ trụ cần phải xác định rõ là người đó sinh trước hay sau bắt đầu của một giờ. Cả 12 thời thần đều phải tuân theo quy tắc này. ● ● ● Quy ước về giờ Tí: Bất kể một người sinh ra trong khoảng thời gian từ 23 giờ đến 24 giờ của ngày hôm trước hay từ 0 đến 1 giờ của ngày hôm sau, can của trụ ngày đều được tính theo ngày hôm sau. Đối với người sinh ở nước ngoài: Bất kể thời gian sinh ra ở quốc gia nào đều phải quy đổi sang giờ địa phương tại nơi đang sinh sống rồi mới tiến hành lập tứ trụ, nếu không sẽ không chính xác. Giờ mùa hè: Những trường hợp sinh vào thời gian có áp dụng quy ước giờ mùa hè cũng phải đổi về giờ chuẩn (không phải giờ mùa hè) để tính toán giờ sinh. 3.5. Thập Nhị Địa Chi phối với các con giáp ● ● ● ● ● ● ● ● ● Tí: Cực âm, tĩnh lặng, ẩn tàng, phối với chuột (tính hay ẩn mình). Ngọ: Cực dương, rực rỡ, cương kiện, phối với ngựa (tính hay chạy nhanh). Sửu: Thuộc âm, dáng cúi xuống, hiện từ, phối với trâu (tính yêu thương con). Mùi: Thuộc dương, dáng ngẩng lên, giữ lễ, phối với dê (có đức quỳ xuống bú mẹ). Dần: Tam dương, khí dương thịnh, mạnh bạo, phối với hổ (tính hung bạo). Thân: Tam âm, khí âm thịnh, linh hoạt, phối với khỉ (tính hiếu động, lanh lợi). Mão và Dậu: Cửa ngõ của mặt trời và mặt trăng. Mèo và gà đều là loài chỉ có một khiếu. Thìn và Tỵ: Lúc dương khí trỗi dậy và biến hóa. Rồng mạnh hơn rắn thứ hai nên rồng và rắn phối với Thìn Tỵ. Rồng và rắn đều là những loài của sự biến hóa. Tuất và Hợi: Lúc âm khí thu lại và giữ gìn. Chó mạnh hơn lợn. Lợn thứ hai nên chó và lợn phối hợp với Tuất. Chó và lợn đều là những loài mang tính trấn tĩnh. 3.6. Thập Nhị Địa Chi phối với cơ thể con người ● ● Phối với các bộ phận cơ thể: ○ Tí: Tai ○ Sửu: Bụng, dạ con ○ Dần: Tay ○ Mão: Ngón tay ○ Thìn: Vai, ngực ○ Tỵ: Mặt, cổ, họng, răng ○ Ngọ: Mắt ○ Mùi: Xương sống ○ Thân: Kinh lạc ○ Dậu: Tinh huyết ○ Tuất: Mệnh môn, đùi, chân ○ Hợi: Đầu Phối hợp với các tạng phủ: ○ Dần: Đởm (túi mật) ○ ○ ○ ○ ○ ○ ○ ○ ○ Mão: Can (gan) Tỵ: Tâm (tim) Ngọ: Tiểu trường (ruột non) Thìn Tuất: Vị (dạ dày) Sửu Mùi: Tỳ (lá lách) Thân: Đại tràng (ruột già) Dậu: Phế (phổi) Hợi: Thận, Tâm Bào Tí: Bàng quang, Tam Tiêu 3.7. Sự hóa hợp của Thập Nhị Địa Chi 3.7.1. Thập Nhị Địa Chi Lục Hợp Sáu cặp Địa Chi kết hợp với nhau được gọi là lục hợp và hóa thành Ngũ Hành mới: ● ● ● ● ● ● Tí hợp với Sửu Hóa Thổ Dần hợp với Hợi Hóa Mộc Mão hợp với Tuất Hóa Hỏa Thìn hợp với Dậu Hóa Kim Tỵ hợp với Thân Hóa Thủy Ngọ hợp với Mùi Hóa Thổ (Ngọ là Thái Dương, Mùi là Thái Âm, hợp lại hóa Thổ) Ứng dụng của Lục Hợp: Chủ yếu trong Tứ Trụ (sự sắp xếp can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh). Ví dụ, nếu trong các Địa Chi của ngày, tháng, năm sinh có Tí và Sửu thì đó là Tí Sửu tương hợp. Tương hợp mang ý nghĩa hòa hợp tốt đẹp. Tuy nhiên, trong sự tương hợp lại được chia thành: ● ● Hợp trung hữu khắc (trong hợp có khắc): Chủ về mối quan hệ ban đầu tốt đẹp nhưng sau lại xấu đi, trước nồng ấm sau lạnh nhạt, trước hợp sau tan. Dấu hiệu trong Tứ Trụ có thể dẫn đến ly hôn hoặc tan vỡ. Ví dụ: Tí hợp Sửu (Tí Thủy bị Sửu Thổ khắc), Mão hợp Tuất (Mão Mộc khắc Tuất Thổ), Tỵ hợp Thân (Tỵ Hỏa khắc Thân Kim). Hợp trung hữu sinh (trong hợp có sinh): Dù là quan hệ vợ chồng hay bạn bè, càng gắn bó thì càng tốt đẹp. Đây là dấu hiệu tốt trong Tứ Trụ. Ví dụ: Dần hợp Hợi (Hợi Thủy sinh Dần Mộc), Thìn hợp Dậu (Thìn Thổ sinh Dậu Kim), Ngọ hợp Mùi (Ngọ Hỏa sinh Mùi Thổ). 3.7.2. Thập Nhị Địa Chi Tam Hợp Cục Tam Hợp Cục được diễn giải như sau: ● ● ● ● Thân Tí Thìn: Hợp hóa thành Thủy cục. Hợi Mão Mùi: Hợp hóa thành Mộc cục. Dần Ngọ Tuất: Hợp hóa thành Hỏa cục. Tỵ Dậu Sửu: Hợp hóa thành Kim cục. Tam Hợp Cục có cả tốt và xấu. Hợp cục mà sinh cho bản mệnh thì là tốt, hợp cục mà khắc bản mệnh thì là xấu. ● ● Ví dụ Hóa Sinh (tốt): Giả sử một người sinh vào năm Canh Thân, tháng Ất Dậu, ngày Giáp Thìn, giờ Giáp Tí. Trong Tứ Trụ này, Kim rất vượng, Mộc ở thế tử địa, chi ngày là Thìn thuộc Thổ, lại khắc chi giờ Tí là Thủy. Nhật Can Giáp Mộc cùng với Ất Mộc ở tháng và Giáp Mộc ở giờ đều bị khắc mà không có nguồn sinh trợ, là một hình tượng rất xấu. Tuy nhiên, trong Tứ Trụ lại có Thân Tí Thìn hợp thành Thủy cục, lại được Canh Kim của năm và Dậu Kim của tháng tương sinh nên Thủy cục này quay lại sinh cho Mộc giúp bản mệnh được cứu trợ. Đây là trường hợp Tam Hợp Cục hóa sinh là điểm tốt. Ví dụ Hóa Khắc (xấu): Giả sử một người sinh vào năm Canh Thân, tháng Mậu Tí, ngày Bính Ngọ, giờ Nhâm Thìn. Trong Tứ Trụ này Thủy rất vượng, Nhật Can Bính Hỏa ở thế tử địa lại bị Thủy vượng trong trụ khắc chế, vốn đã là điểm đại hung. Hơn nữa Tứ Trụ lại có Thân Tí Thìn hợp thành Thủy cục, càng làm tăng sức mạnh của Thủy để khắc Nhật Can Bính Hỏa và cả Ngọ Hỏa. Bính Hỏa chỉ bị khắc mà không có sinh trợ, bị khắc mà không được cứu là hung càng thêm hung. Đây là trường hợp Tam Hợp Hóa Khắc, chắc chắn là cục xấu. Nguyên tắc của Tam Hợp Cục: Được tạo thành từ ba giai đoạn: Trường Sinh, Đế Vượng và Mộ. ● ● ● ● Thủy Trường Sinh tại Thân, Đế Vượng tại Tí, nhập Mộ tại Thìn. Do đó, Thân Tí Thìn hợp thành Thủy cục. Mộc Trường Sinh tại Hợi, Đế Vượng tại Mão, nhập Mộ tại Mùi. Do đó, Hợi Mão Mùi hợp thành Mộc cục. Hỏa Trường Sinh tại Dần, Đế Vượng tại Ngọ, nhập Mộ tại Tuất. Do đó, Dần Ngọ Tuất hợp thành Hỏa cục. Kim Trường Sinh tại Tỵ, Đế Vượng tại Dậu, nhập Mộ tại Sửu. Do đó, Tỵ Dậu Sửu hợp thành Kim Cục. Sức mạnh của Tam Hợp Cục chỉ đứng sau Tam Hội Cục. Trong sách "Tam Mệnh Thông Hội" có viết, trong Ngũ Hành không nói đến Thổ là cả vì bốn hành kia đều thành cục dựa trên nền tảng của Thổ. Vạn vật đều được tàng chứa trong Thổ vậy. Nếu trong mệnh có đủ Thìn Tuất Sửu Mùi thì tự nó được luận là Thổ cục. 3.7.3. Khái niệm Bán Hợp Cục (nửa cục) Tam Hợp Cục phải có đủ ba chi mới thành cục. Thiếu một chi thì không thành. Tuy nhiên, thiếu một chi có thể tạo thành Bán Hợp Cục được chia làm hai loại: 1. Sinh Địa Bán Hợp Cục: Gồm chi Trường Sinh và chi Đế Vượng. Ví dụ: Hợi Mão, Dần Ngọ, Tỵ Dậu, Thân Tí. Lực của nó yếu hơn Tam Hợp Cục. 2. Mộ Địa Bán Hợp Cục: Gồm các chi Đế Vượng và chi Mộ. Ví dụ: Mão Mùi, Ngọ Tuất, Dậu Sửu, Tí Thìn. Lực của nó yếu hơn Sinh Địa Bán Hợp Cục. 3.7.4. Tổng luận về Tam Hợp và Lục Hợp Người có Tam Hợp, Lục Hợp trong mệnh thường có dung mạo xinh đẹp, thân khí ổn định, lòng dạ ngay thẳng, thông minh, tài cán, giao tiếp thuận lợi. ● ● ● ● ● ● ● ● Nếu hợp mà tương sinh cho Nhật Nguyên: Công việc hanh thông, đa tài, đa nghệ, lời nói hòa nhã, vẻ mặt vui tươi, không gây thị phi, lại có thêm phúc thần quý nhân thì cả đời phúc hậu. Nếu hợp mà khắc bản mệnh, khắc thân lại có thêm hung tinh: Hành động dễ tổn hại. Chuyện xấu kéo đến liên miên có tai họa bất ngờ. Nếu hợp mà rơi vào đất tử huyệt: Chủ về người có chí hướng nhưng khó thành, tinh thần tầm thường bị người coi rẻ, chí hướng thấp hèn, lòng dạ hẹp hòi, thích tiểu nhân, ghét quân tử, cả đời thấp kém, mọi việc ít khi được như ý. Nếu hợp với Kiến Lộc: Thường có hoạnh tài, được danh vọng bất ngờ. Nếu hợp với Chính Ấn Quý Nhân: Được ơn trên quý nhân nâng đỡ. Nếu hợp với Thực Thần: Áo cơm đủ đầy. Nếu hợp với Nguyên Thần, Đại Hao: Chủ về người vô lễ, lời nói thanh cao nhưng hành động dơ bẩn, gần gũi tiểu nhân khinh ghét quân tử. Nếu hợp cùng Hàm Chi (đào hoa): Chủ về gia đạo ngoại tình, dâm loạn, tham ô. Nhìn chung, Tam Hợp và Lục Hợp đối với nam giới thì chủ về tuấn tú, đối với nữ giới thì chủ về đa dâm, do đó phụ nữ kỵ có nhiều hợp trong mệnh. Tam Hợp Cục nếu hóa thành tài thì tài vượng, hóa thành quan thì quan vượng, hóa thành ấn thì ấn vượng, hóa thành sát thì sát vượng. Tóm lại, hóa thành cát tinh thì cát càng thêm cát, hóa thành hung tinh thì hung càng thêm hung. 3.7.5. Thập Nhị Địa Chi Tam Hội Cục Tam Hội Cục của Thập Nhị Địa Chi được diễn giải như thế này: ● ● ● ● Dần Mão Thìn: Tam hội phương Đông thành Mộc Cục. Tỵ Ngọ Mùi: Tam hội phương Nam thành Hỏa cục. Thân Dậu Tuất: Tam hội phương Tây thành Kim Cục. Hợi Tí Sửu: Tam hội phương Bắc thành Thủy cục. Sức mạnh của Tam Hội Cục lớn hơn Tam Hợp Cục vì nó là sự hội tụ toàn bộ khí của một phương, tức là một mùa. 3.8. Thập Nhị Địa Chi Hình Xung Khắc Hại 3.8.1. Thập Nhị Địa Chi Tương Xung (Lục Xung) Sáu cặp Địa Chi đối xung với nhau được gọi là lục xung: ● ● ● ● Tí và Ngọ tương xung Sửu và Mùi tương xung Dần và Thân tương xung Mão và Dậu tương xung ● ● Thìn và Tuất tương xung Tỵ và Hợi tương xung Tương xung thực chất là đối xung trên đồ hình Bát Quái (các cặp chi nằm ở các vị trí đối diện với nhau). Tương xung mang ý nghĩa tương khắc nhưng khi xuất hiện trong Tứ Trụ thì có cả tốt và xấu. Nếu xung mà mất đi cát thần (dụng thần) thì là hung. Nếu xung mà mất đi kỵ thần thì là cát. Lục xung là sự xung khắc của Ngũ Hành. Ngoài việc đối xung về vị trí, nó còn mang ý nghĩa về sự xung khắc giữa các thiên can tàng chứa bên trong mỗi địa chi. Ví dụ: ● ● ● ● ● ● Tí Ngọ Tương Xung: Quý Thủy trong Tí khắc Đinh Hỏa trong Ngọ; Kỷ Thổ tàng trong Ngọ khắc Quý Thủy trong Tí. Sửu Mùi Tương Xung: Tân Kim trong Sửu khắc Ất Mộc trong Mùi; Kỷ Thổ và Đinh Hỏa trong Mùi khắc Quý Thủy và Tân Kim trong Sửu. Dần Thân Tương Xung: Giáp Mộc trong Dần khắc với Mậu Thổ trong Thân; Canh Kim và Nhâm Thủy trong Thân lại khắc với Giáp Mộc và Bính Hỏa trong Dần. Mão Dậu Tương Xung: Tân Kim trong Dậu khắc Ất Mộc trong Mão. Thìn Tuất Tương Xung: Quý trong Thìn khắc với Đinh Hỏa trong Tuất; Tân Kim trong Tuất khắc với Ất Mộc trong Thìn. Tỵ Hợi Tương Xung: Canh Kim trong Tỵ khắc với Giáp Mộc trong Hợi; Nhâm Thủy trong Hợi khắc với Bính Hỏa trong Tỵ. Trong lục xung có một số trường hợp xung khắc một chiều mạnh hơn, ví dụ: Tí Ngọ Tương Xung (chủ yếu Tí Thủy xung khắc Ngọ Hỏa), Mão Dậu Tương Xung (chủ yếu Dậu Kim xung khắc Mão Mộc), Dần Thân Tương Xung (chủ yếu Thân Kim xung khắc Dần Mộc), Tỵ Hợi Tương Xung (chủ yếu Hợi Thủy xung khắc Tỵ Hỏa). Tương xung trong Tứ Trụ có xung liền kề và xung cách vị, có thuận xung và đảo xung. Ví dụ như một người sinh vào năm Bính Tí, tháng Canh Tí, ngày Đinh Mão, giờ Kỷ Dậu. Trong Tứ Trụ có Mão Dậu tương xung, đây là một hình tượng không tốt. Tuy nhiên, có một số trường hợp cực kỳ hiếm hoi khi mệnh cục đắc thế tắc địa thì lại là đại quý. Trong các loại xung, xung cách vị thì tai họa nhẹ hơn, xung liền kề thì tai họa nặng hơn. Điều này là do khi ở gần nhau thì lực xung mạnh, còn khi bị ngăn cách thì lực xung yếu đi. 3.8.2. Thập Nhị Địa Chi Tương Hại (Lục Hại) Sáu cặp Địa Chi tương hại với nhau gọi là lục hại: ● ● ● ● ● ● Tí và Mùi tương hại Sửu và Ngọ tương hại Dần và Tỵ tương hại Mão và Thìn tương hại Thân và Hợi tương hại Dậu và Tuất tương hại Nguyên nhân của tương hại: Đến từ việc lục hợp bị phá vỡ bởi lục xung. ● ● ● ● ● ● Tí Mùi tương hại: Tí và Sửu vốn hợp nhau nhưng Mùi đến xung với Sửu phá vỡ thế hợp. Do đó Tí và Mùi sinh ra tương hại. Sửu Ngọ tương hại: Sửu và Tí vốn hợp nhau nhưng Ngọ đến xung với Tí phá vỡ thế hợp. Do đó, Sửu và Ngọ sinh ra tương hại. Dần Tỵ tương hại: Dần và Hợi vốn hợp với nhau. Thế nhưng Tỵ đến xung với Hợi phá vỡ thế hợp. Do đó Dần và Tỵ sinh ra tương hại. Mão Thìn tương hại: Mão và Tuất vốn hợp nhau nhưng Thìn đến xung với Tuất phá vỡ thế hợp. Do đó Mão và Thìn sinh ra tương hại. Thân Hợi tương hại: Thân và Tỵ vốn hợp nhau nhưng Hợi đến xung với Tỵ phá vỡ thế hợp. Do đó, Thân và Hợi sinh ra tương hại. Dậu Tuất tương hại: Dậu và Thìn vốn hợp nhau nhưng Tuất đến xung Thìn phá vỡ thế hợp. Do đó Dậu và Tuất sinh ra tương hại. Đặc tính của từng cặp lục hại: ● ● ● ● ● ● Tí Mùi tương hại: Được gọi là thế gia tương hại (sự làm hại của kẻ có quyền thế), bất lợi cho cốt nhục lục thân. Sửu Ngọ tương hại: Ngọ dùng hỏa vượng để bắt nạt kim suy trong Sửu, được gọi là quan quỷ tương hại. Dần Tỵ tương hại: Cả hai đều đang ở đất Lâm Quan, cậy mình đang mạnh mà tranh giành nhau gây hại cho nhau. Mão Thìn tương hại: Mão dùng Mộc Vượng để bắt nạt Thổ suy trong Thìn, là kiểu kẻ trẻ bắt nạt người già. Thân Hợi tương hại: Cả hai cũng đều đang ở đất lâm quan ganh ghét tài năng của nhau tranh giành mà gây hại. Dậu Tuất tương hại: Tuất dùng hỏa suy để hại Dậu Kim đang vượng, được gọi là tật đố tương hại (làm hại vì ghen ghét). Do đó người có Dậu gặp Tuất thì hung, người có Tuất gặp Dậu thì không sao. Tổng luận về lục hại: Lục hại chủ về sự cản trở, cô độc, người thân bất hòa, tiền bạc đạm bạc, đặc biệt kỵ với nữ mệnh. Sách "Lạc Lục Tử" có viết: "Kẻ lục hại trong mệnh có chuyện của Thất Sát." Sách "Kim Thư Quyết" lại có câu: "Người lục hại kỵ nhất ở ngày giờ, tuổi già tàn tật biết nương tựa vào đâu, lại gặp Dương Nhận Thần Sát cùng phá, không bị gươm đao cũng bị hổ vồ." Có thể thấy mệnh phạm lục hại rất kỵ, can chi tương khắc và nguy hại nhất là khi nó xuất hiện ở trụ ngày và trụ giờ. Tương hại mang ý nghĩa bị hại, bị làm hại, cũng là một dạng của tương khắc. Giả sử như một người sinh vào năm Bính Thân, tháng Ất Mùi, ngày Mậu Tí, giờ Đinh Tỵ, trong tứ trụ có Tí Mùi tương hại. Tương hại đương nhiên là không tốt, nhưng còn phải xem nó có bị chế ngự hay không. Nếu có chế ngự thì không đáng ngại, không có chế ngự thì bất lợi. 3.8.3. Thập Nhị Địa Chi Tương Hình Các mối quan hệ tương hình (hình phạt, trừng phạt) của 12 Địa Chi được chia thành bốn loại chính: 1. 2. 3. 4. Hình vô lễ: Tí hình Mão, Mão hình Tí. Hình cậy thế (thị thế): Dần hình Tỵ, Tỵ hình Thân, Thân hình Dần. Hình vô ơn: Sửu hình Mùi, Mùi hình Tuất, Tuất hình Sửu. Tự hình: Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi khi tự gặp lại chính nó. Nguồn gốc của tương hình: Ân sinh ra tử hại, hại sinh ra tử hợp. Nguyên lý của tam hình được cho là sinh ra từ sự kết hợp giữa Tam Hợp và Tam Hội, cũng như Lục Hại sinh ra từ Lục Hợp. Cụ thể: ● ● ● ● Lấy Tam Hợp Thủy cục (Thân Tí Thìn) đặt cùng Tam Hội Mộc cục (Dần Mão Thìn) thì có Thân hình Dần, Tí hình Mão. Thìn gặp Thìn là tự hình. Lấy Tam Hợp Hỏa cục (Dần Ngọ Tuất) đặt cùng Tam Hội Hỏa cục (Tỵ Ngọ Mùi). Ta có Dần hình Tỵ, Tuất hình Mùi. Ngọ gặp Ngọ là tự hình. Lấy Tam Hợp Kim cục (Tỵ Dậu Sửu) đặt cùng Tam Hội Kim cục (Thân Dậu Tuất). Ta có Tỵ hình Thân, Dậu gặp Dậu là tự hình, Sửu hình Tuất. Lấy Tam Hợp Mộc cục (Hợi Mão Mùi) đặt cùng Tam Hội Thủy cục (Hợi Tí Sửu). Ta có Hợi gặp Hợi là tự hình, Mão hình Tí, Mùi hình Sửu. Sự hình phạt sinh ra ngay trong thế hợp cũng giống như vợ chồng tuy hòa hợp nhưng lại có thể dẫn đến sự tổn thương hình khắc. Diễn giải từng loại hình: ● ● ● Hình vô lễ (Tí Mão): Tí thuộc Thủy, Mão thuộc Mộc. Thủy sinh Mộc nên Tí Thủy là mẹ, Mão Mộc là con. Nay con lại hình phạt mẹ, đó là hành động vô lễ. Hình cậy thế (Sửu Tuất Mùi): ○ Sửu có Thủy vượng, cậy mình vượng mà hình Tuất (mộ của Hỏa). ○ Tuất là nơi tôn quý của Lục Giáp, Mùi là nơi thấp hèn của Lục Quý. Tuất cậy mình ở vị thế tôn quý mà hình Mùi ở vị thế thấp hèn hơn. ○ Mùi cậy mình có Thổ vượng mà hình Thủy vượng trong Sửu. Đây đều là những hành động lấy mạnh hiếp yếu, cậy quyền thế mà chèn ép nhau nên gọi là hình cậy thế. Hình vô ơn (Dần Tỵ Thân): ○ Cách giải thích thứ nhất: Giáp Mộc trong Dần hình Mậu Thổ trong Tỵ. Mậu Thổ lại hợp với Quý Thủy là vợ, mà Quý Thủy là mẹ của Giáp Mộc, nên Mậu Thổ được xem như cha của Giáp Mộc. Con trai hình khắc với cha mình thì chính là tội vô ơn. Tương tự, Bính Hỏa trong Tỵ hình Canh Kim trong Thân, Canh Kim trong Thân lại hình Giáp Mộc trong Dần cũng cùng một ý nghĩa. ○ Cách giải thích thứ hai: Dần chứa Hỏa Trường Sinh hình với Tỵ chứa Kim Trưởng Sinh. Tỵ chứa Kim lại hình Thân chứa Thủy Trưởng Sinh, Thân chứa Thủy lại hình Dần chứa Hỏa Trưởng Sinh. Chúng không đoái hoài đến cái mà ● mình sinh ra, ngược lại còn quay sang khắc chiến lẫn nhau nên gọi là hình vô ơn. Tự hình (Thìn Ngọ Dậu Hợi): ○ Trong Tứ Sinh (Dần Thân Tỵ Hợi) đã có Dần Thân Tỵ tương hình, chỉ riêng Hợi không có đối tượng để hình. ○ Trong Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) đã có Tuất Sửu Mùi tương hình, chỉ riêng Thìn không có đối tượng để hình. ○ Trong Tứ Vượng (Tí Ngọ Mão Dậu) đã có Tí Mão tương hình, chỉ còn Ngọ và Dậu không có đối tượng để hình. ○ Thìn là mộ khố của Thủy, Ngọ là nơi Hỏa Đế Vượng, Dậu là nơi Kim Đế Vượng, Hợi là nơi Thủy Đế Vượng. Chúng đều cậy vào khí vượng của bản thân mà trở nên thái quá, mọi sự thái quá đều sẽ sinh ra tai họa, do đó gọi là tự hình. Tổng luận về tương hình: Tự hình kỵ nhất là Thìn gặp Thìn, Ngọ gặp Ngọ, Dậu gặp Dậu, Hợi gặp Hợi. Sách xưa có câu: "Tự hình mang sát chẳng phải lành, năm tháng có hình thân thể khó an, không chết trong ngục tù thì cũng vong mạng dưới lưỡi gươm đào. Thìn Ngọ Dậu Hợi tự hình đến trung niên mắt mờ." Tam hình có cả tốt và xấu. Nếu vị trí của tam hình có tam kỳ, thiên ất quý nhân cũng xuất hiện ở trụ ngày và trụ giờ, lại có thiên can mang đức thì người đó có thể làm quan đến cực phẩm. Có thể thấy tam hình cần có sự cân bằng và mang theo các cát thần mới tốt. Nếu phụ nữ gặp phải tam hình, đa phần có tai ương về thai sản, cả đời bất lợi cho người thân, nhưng tính tình lại khá liêm chính. Hình có nghĩa là hình phạt. Người có hình trong mệnh thường dính dáng đến pháp luật, kiện tụng hoặc chủ về tai nạn thương tật, bệnh tật đau đớn. Phàm trong tứ trụ thấy có tương hình là không tốt. Nếu biết tuân thủ pháp luật, không làm chuyện xấu thì có thể tránh được cảnh tù tội. Về phần bệnh tật cần phòng bị nhiều hơn, kiên trì rèn luyện sức khỏe thì có thể tránh được nỗi lo bệnh tật. Ý nghĩa thực tế của từng loại hình: ● ● ● ● Hình vô lễ: Gây ra tai họa hoặc phạm pháp vì những hành vi vô lễ, thiếu tôn trọng. Hình cậy thế: Gây ra tai họa hoặc phạm pháp vì cậy mình có quyền thế làm càn, chèn ép người khác. Hình vô ơn: Gây ra tội ác vì biết ơn, được ơn mà không báo đáp, ngược lại còn hãm hại hoặc sát hại ân nhân của mình. Tự hình: Gây ra tội lỗi cho chính bản thân mình vì muốn đạt được âm mưu hay mục đích nào đó mà bất chấp thủ đoạn. Kết luận Hành trình khám phá những ẩn số thú vị của Thiên Can và Địa Chi đã tạm dừng tại đây. Hy vọng rằng qua những chia sẻ vừa rồi, đã có thêm một chìa khóa để tự mình mở ra cánh cửa tìm hiểu về vận mệnh của bản thân. Phần tiếp theo sẽ cùng nhau tìm hiểu một chủ đề vô cùng hấp dẫn đó là luận giải chi tiết về Lục Thập Giáp Tí.
0
You can add this document to your study collection(s)
Sign in Available only to authorized usersYou can add this document to your saved list
Sign in Available only to authorized users(For complaints, use another form )