lOMoARcPSD|25759910 Tổng hợp tự luận KTCT Kinh tế chính trị (Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) Scan to open on Studocu Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 ÔN THI MÔN KTCT Câu 1: Kinh tế thị trường định hướng XHCN có mấy thành phần kte? Thành phần kte nào giữ vtro chủ đạo. Nêu đặc trưng KTTT định hướng XHCN? Câu 2: CMCN thì vtro của máy móc như thế nào đối với việc tạo ra giá trị thặng dư? Câu 3: Phân tích các điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá và những ưu thế của sản xuất hàng hoá so với kinh tế tự nhiên k là mẹ Câu 4: Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá và quan hệ của hai thuộc tính đó với tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá. Câu 5: Phân tích lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá. Câu 6: Phân tích nội dung (yêu cầu), tác dụng của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn. Những biểu hiện của quy luật này trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản? Câu 7: Thế nào là thị trường? Mối quan hệ giữa phân công lao động XH với thị trường. Phân tích các chức năng của thị trường. Câu 8: Tại sao cạnh tranh là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá? Câu 9: Trình bày nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản. Câu 10: phương pháp sx GTTD tuyệt đối và tương đối: Câu 11: Căn cứ và ý nghĩa của các cách phân chia tư bản trên đây. Câu 12: So sánh giá trị thặng dư với lợi nhuận, tỷ suất giá trị thặng dư và tỷ suất lợi nhuận. Tốc độ chu chuyển của tư bản có ảnh hưởng như thế nào tới nhu cầu về tư bản, tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư hằng năm? Câu 13: Phân tích những ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ tư bản. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này. Câu 14: Trình bày các khái niệm chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận. Các khái niệm trên đã che dấu quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa như thế nào? Chủ đề 1: Câu 1: So với kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hóa có những ưu việt và hạn chế gì? Câu 2: Tại sao nói phân công lao động càng phát triển thì trao đổi mua ngày càng mở rộng? Câu 3: Tại sao nói giá trị hàng hóa là phạm trù lịch sử? Câu 4: Bạn hãy chỉ ra giá trị, giá trị sử dụng, giá cả của cây bút? Câu 5: Bạn hãy lấy 1 vd về năng suất lao động? Theo bạn, khi tăng năng suất lao động thì lượng giá trị của 1 hàng hóa tăng hay giảm? Câu 6: Tại sao ở các nước đang và kém phát triển, năng suất lao động của họ lại khá thấp? Câu 7: Theo bạn, tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động thì biện pháp nào tối ưu…giải tại sao? Câu 8: Theo bạn, trong cùng 1 đơn vị thời gian, cùng sản xuất 1 loại sản phẩm thì loại hình lao động nào sẽ tạo ra 1 hàng hóa có lượng giá trị thấp hơn? Tại sao Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Câu 9: Với tư cách là chủ DN, nghiên cứu giá trị sử dụng của hàng hóa có ý nghĩa gì? Câu 10: Nghiên cứu giá trị hàng hóa có ý nghĩa gì? Câu 11: Giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng có mối quan hệ với nhau như thế nào? Câu 12: Sự phân công lao động hiểu theo nghĩa rộng nhất sẽ chia nền kinh tế thành mấy ngành, đó là những ngành nào? Câu 13: Tại sao nói sự tách biệt giữa các chủ thể kinh tế chỉ là tương đối mà không phải tuyệt đối Câu 14: Theo bạn, tiền cất trữ thì giá trị của nó có được bảo tồn không? Tại sao? Câu 15: Theo bạn, tiền áo khác với tiền giấy như thế nào? Chủ đề 2: Câu 1: Hãy kể tên các yếu tố của thị trường. Bạn nghĩ ntn khi có quan điểm cho rằng các yếu tố thị trường Việt Nam chưa đầy đủ? Câu 2: Tại sao nói thị trường thực hiện giá trị hàng hoá, là điều kiện, môi trường cho sản xuất phát triển? Câu 3: Tại sao nói thị trường kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, tạo ra cách thức phân bổ các nguồn lực hiệu quả trong nền kinh tế? Câu 4: Tại sao khi nói thị trường giúp gắn kết nền kinh tế thành một chính thể, gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới? Câu 5: tại sao nói cơ chế thị trường là phương thức để phân phối, sử dụng các nguồn vốn, tài nguyên, công , sức lao động. Câu 6: Kể tên các nguồn lực kinh tế? Tại sao trong nền KTTT, thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ nguồn lực? Câu 7: Tại sao nói KTT là nền kinh tế mở? Câu 8: Tại sao nền kinh tế thị trường có thể tạo ra những vi phạm về môi trường, cạn kiệt tài nguyên và phân hóa giàu nghèo. Câu 9: Tại sao trong nền kinh tế thị trường, người nào hao phí lao động cá biệt càng thấp thì càng phát triển và ngược lại? Câu 10: Thế nào là điều tiết sản xuất, kết quả của điều tiết sản xuất là gì? Thế nào là điều tiết lưu thông, kết quả của lưu thông hàng hóa? Câu 11: Tại sao quy luật giá trị kích thích người sản xuất luôn tìm cách đổi mới kỹ thuật theo hướng hiện đại? VDMH? Câu 12: Sự tác động cung - cầu có tác động như thế nào đến hoạt động sản xuất? Cho VDMH Câu 13: Tại sao nói cạnh tranh là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội? Câu 14: Bạn hiểu như thế nào về lạm phát kinh tế? Theo bạn lạm phát là tốt hay xấu đối với KTXH? Câu 15: Việc cạnh tranh nội bộ ngành thường được tiến hành bằng những hình thức nào? VDMH? Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Chủ đề 3 Câu 1: Bạn hiểu như thế nào là tư bản? Tiền có phải là tư bản hay không? Tư bản có phải là CNTB không? Tự tiền có tạo ra tiền lời hay không? Câu 2: Mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản T-H-T’ là gì? Câu 3: Tại sao nói công thức T-H-T’ là công thức chung của tư bản? Câu 4: Tại sao nói giá trị HHSLĐ mang yếu tố vật chất, tinh thần và lịch sử? Câu 5: Tại sao nói SLĐ là hàng hoá đặc biệt? Câu 6: Tại sao nói HH SLĐ là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản? Câu 7: Theo bạn, lưu thông có tạo ra giá trị thặng dư không? Ví dụ Câu 8: Thế nào là tư bản bất biến, tư bản khả biến? ví dụ Câu 9: Chu chuyển tư bản phụ thuộc vào những nhân tố nào? Để tăng tốc độ chu chuyển tư bản, nhà sản xuất kinh doanh cần làm gì? Câu 10: Việc trả tiền công cho người lao động theo thời gian và theo sản phẩm có những ưu và hạn chế gì? Câu 11: Hãy so sánh sự giống và khác nhau giữa hàng hoá thông thường với HHSLĐ? Câu 12: Tại sao người ta thường lầm tưởng tiền công là giá cả của lao động? Câu 13: Bạn hiểu như thế nào là thời gian lao động tất yếu (cần thiết)? Việc giảm thời gian lao động tất yếu trong điều kiện NSLĐ không đổi thì tiền công nhân có giảm không? Câu 14: Thế nào là hao mòn vô hình? Ví dụ? Câu 15: Việc phân chia tư bản thành bất biến (C) và khả biến (V) có ý nghĩa gì? Câu 16: Anh A làm 1 tháng nhận được 15 triệu, vậy 15 triệu anh A nhận được là TC danh nghĩa hay TC thực tế? Chủ đề 4 Câu 1:Tại sao nói giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mang bản chất Kinh tế- Xã hội là quan hệ giai cấp ? Câu 2: Nhìn vào công thức tính tỷ suất giá trị thặng dư, nếu m’ = 200% có nghĩa là gì ? Câu 3:Thế nào là thời gian lao động tất yếu ? Ví dụ minh hoạ? Việc thời gian lao động tất yếu có ảnh hưởng gì đến tiền lương của công nhân khi năng suất lao động thay đổi ? Câu 4: Theo bạn, để khai thác sức lao động của công nhân, ông chủ cần làm gì ? Câu 5: Hạn chế của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là gì ? Câu 6: Điều kiện để thực hiện phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là gì ?Phương pháp này tạo ra những hệ quả gì cho xã hội ? Câu 7: Theo bạn giữa phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối, phương pháp nào tối ưu hơn ? Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Câu 8: Hạn chế của phương pháp sản xuất thặng dư tương đối là gì ? Câu 9: Tại sao nói giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ là hiện tượng tạm thời trong từng doanh nghiệp nhưng luôn tồn tại trong xã hội ? Câu 10: Tại sao nói giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất của các nhà sản xuất ? Câu 11 :Tại sao nói giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối ? Câu 12: Theo bạn, ở nước ta hiện nay các doanh nghiệp đang áp dụng phưong pháp nào nhiều nhất ? Câu 13: Nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư có ý nghĩa gì đối với chúng ta ? Câu 14: Hãy so sánh sự giống và khác nhau giữa phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối ? Câu 15: Nếu gạt bỏ tính chất bóc lột nặng nề, thì phương pháp sản xuất giá trị thặng dư có ý nghĩa gì đối với sự triển xã hội ? Câu 1: Kinh tế thị trường định hướng XHCN có mấy thành phần kte? Thành phần kte nào giữ vtro chủ đạo. Nêu đặc trưng KTTT định hướng XHCN? ● Khái niệm: SGK 170 ● Có 4 thành phần kinh tế: - - - - Kinh tế nhà nước là công cụ, nắm giữ các lĩnh vực then chốt, lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường. Bao gồm: DN nhà nước, quỹ dự trữ quốc gia,… Kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, các hợp tác xã, tổ hợp tác có phạm vi hoạt động rộng lớn, với vai trò cung cấp dịch vụ cho các thành viên; liên kết, phối hợp sản xuất kinh doanh, bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện để các thành viên nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển bền vững. Tăng cường liên kết giữa các hợp tác xã, hình thành các hiệp hội, liên hiệp hợp tác xã. Nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà hợp tác xã là nòng cốt. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của kinh tế quốc dân, có vai trò lớn trong huy động nguồn vốn đầu tư, công nghệ, phương thức quản lý hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu. ● Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo vì: - - Kinh tế nhà nước (KTNN) được hiểu bao gồm các cấu thành sau: 1- Bộ phận doanh nghiệp (DN) gồm các DN mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và DN mà Nhà nước nắm cổ phần hoặc phần vốn chi phối; 2- Bộ phận phi DN, ngoài các tài sản thuộc sở hữu nhà nước còn bao gồm cả đất đai, rừng, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên, tư liệu sản xuất, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia... tập hợp sức mạnh kinh tế thể hiện trên các ngành, lĩnh vực trọng yếu từ các định chế tài chính, pháp luật, sức mạnh quản lý đến điều hành của hệ thống chính trị. sở hữu nhà nước và KTNN giữ vị trí trọng yếu, vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo nền tảng cơ bản để phát triển mọi ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế và loại hình DN trong nền kinh tế quốc dân. thành phần KTNN nắm giữ những vị trí then chốt của nền kinh tế và là lực lượng có khả năng can thiệp, điều tiết, hướng dẫn, giúp đỡ, liên kết, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. để đảm bảo được lợi ích của đại đa số nhân dân lao động, KTNN - chủ yếu dựa trên chế độ sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện - phải giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế đó. Đây cũng thể hiện rõ bản chất, đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 ● Đặc trưng: SGK 178-185 Câu 2: CMCN thì vai trò của máy móc như thế nào đối với việc tạo ra giá trị thặng dư? - tư bản bất biến (máy móc, trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu) không tạo ra giá trị thặng dư, nó là điều kiện cần thiết để cho quá trình sản xuất giá trị thặng dư được diễn ra. Nguồn gốc tạo giá trị thặng là sức lao động của người làm thuê. Câu 3: Phân tích các điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá và những ưu thế của sản xuất hàng hoá so với kinh tế tự nhiên. - - - - Kinh tế tự nhiên là kiểu sản xuất tự cung tự cấp, sản phẩm làm ra nhằm thoả mãn nhu cầu của người trực tiếp sản xuất ra nó. Kiểu sản xuất này gắn liền với nền sản xuất nhỏ, lực lượng lao động phát triển thấp, phân công lao động kém phát triển. Kn sx hàng hóa: tài liệu Điều kiện ra đời của sxhh: tài liệu So với sản xuất tự cung tự cấp thì sản xuất hàng hoá có những ưu thế hơn hẳn: + Do sản xuất hàng hoá dựa trên sự phân công lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất nên nó khai thác được những lợi thế tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương. Đồng thời, sản xuất hàng hoá cũng tác động trở lại làm cho phân công lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng tăng, mối quan hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc. Từ đó, làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của XH được đáp ứng đầy đủ hơn. + Trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nguồn lực và nhu cầu của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực XH. Từ đó, tạo điều kiện cho việc ứng dụng những thành tựu KH – KT vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn. + Trong nền sản xuất hàng hóa, để tồn tại và sản xuất có lãi, người sản xuất phải luôn luôn năng động, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Nhờ đó, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, năng suất lao động tăng, hiệu quả kinh tế ngày càng cao. + Sự phát triển sản xuất, mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, các vùng, các nước… không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hoá, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú và đa dạng hơn. + Tóm lại, trong khi sản xuất tự cung tự cấp bị giới hạn bởi như cầu và nguồn lực cá nhân, gia đình, quy mô sản xuất nhỏ, không tạo được động lực thúc đẩy sản xuất phát triển thì sản xuất hàng hoá lại tạo được động lực sản xuất phát triển, làm cho sản xuất phù hợp với nhu cầu, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân và toàn XH. Câu 4: Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá và quan hệ của hai thuộc tính đó với tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá. Kn hàng hóa Hai thuộc tính: + Để hiểu giá trị của hàng hoá, trước hết, ta phải hiểu giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác. Ví dụ như: 1m vải có giá trị trao đổi bằng 5 kg thóc. + Hai hàng hoá khác nhau như vậy có thể trao đổi với nhau thì giữa chúng phải có một cơ sở chung. Lao động hao phí tạo ra hàng hoá chính là cơ sở chung cho việc trao đổi đó và tạo ra giá trị của hàng hoá. Vậy giá trị của hàng hoá là lao động XH của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong sản phẩm. Giá trị trao đổi là biểu hiện bên ngoài của giá trị, giá trị là nội dung bên trong, là cơ sở của giá trị trao đổi. + Giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá. Vì vậy, giá trị là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá. Hai thuộc tính đó của hàng hoá vừa mâu thuẫn, vừa thống nhất. Chúng thống nhất ở chỗ: chúng cùng tồn tại trong hàng hoá, một hàng hoá phải có hai thuộc tính này, thiếu một trong hai thuộc tính thì không phải là hàng hoá. Tuy nhiên, chúng mâu thuẫn ở hai điểm: thứ nhất, về một giá trị sử dụng thì hàng hoá khác nhau về chất còn về mặt giá trị thì hàng hoá lại giống nhau về chất; Thứ hai, giá trị được sử dụng trong quá trình lưu thông còn giá trị sử dụng được thực hiện trong quá trình tiêu dùng. + tài liệu. Hai thuộc tính của hàng hoá này không phải là do có hai thứ lao động khác nhau kết tinh trong hàng hoá mà là do lao động sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt, vừa có tính trừu tượng (lao động trừu tượng), vừa có tính cụ thể (lao động cụ thể) + tài liệu. Câu 5: Phân tích lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 - Kn lượng giá trị: tài liệu ● nhân tố ảnh hưởng: - - - - Thứ nhất, đó là năng suất lao động. Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động. Nó được đo bằng số sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Năng suất lao động tăng lên tức là thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm giảm xuống, tức là giá trị của một đơn vị hàng hoá giảm và ngược lại. Vậy, giá trị của hàng hoá tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Mặt khác, năng suất lao động lai phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như điều kiện tự nhiên, trình độ trung bình của người công nhân, mức độ phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, quy mô sản xuất… nên để tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu tố trên. Thứ hai, đó là cường độ lao động. Cường độ lao động phản ánh mức độ hao phí lao động trong một đơn vị thời gian. Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động. Cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hoá sản xuất ra tăng lên và sức lao động hao phí cũng tăng lên tương ứng. Do đó, giá trị của một đơn vị hàng hoá là không đổi vì thực chất tăng cường độ lao động chính là việc kéo dài thời gian lao động. Cường độ lao động phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý, quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất và đặc biệt là thể chất và tinh thần của người lao động. Chính vì vậy mà tăng cường độ lao động không có ý nghĩa tích cực với sự phát triển kinh tế bằng việc tăng năng suất lao động. Thứ ba là mức độ phức tạp của lao động. Theo đó, ta có thể chia lao động thành hai loại là lao động giản đơn và lao động phức tạp. Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người lao động bình thường nào không cần phải trải qua đào tạo cũng có thể thực hiện được. Còn lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề nhất định mới có thể thực hiện được. Trong cùng một thời gian lao động thì lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn bởi vì thực chất lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân lên. Trong quá trinh trao đổi mua bán, lao động phức tạp được quy đổi thành lao động giản đơn trung bình một cách tự phát. Câu 6: Phân tích nội dung (yêu cầu), tác dụng của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn. Những biểu hiện của quy luật này trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản? Phân tích nội dung: tài liệu Tác động của quy luật giá trị: + nó điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá. Khi một hàng hoá có giá cả cao hơn giá trị, bán có lãi, người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư tư liệu sản xuất và sức lao động, đồng thời những người sản xuất các hàng hoá khác có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này. Còn nếu mặt hàng đó có giá cả thấp hơn giá trị, bị lỗ vốn thì người sản xuất phải thu hẹp sản xuất hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác. Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu xã hội. Đồng thời, nó còn thu hút hàng hoá từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, góp phần làm cho hàng hoá giữa các vùng có sự cân bằng nhất định. + Quy luật giá trị cũng kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng xuất lao động, hạ giá thành sản phẩm… Bởi vì trong sản xuất hàng hoá, để tồn tại và có lãi, mọi người sản xuất đều phải tìm làm cho mức hao phí lao động cá biệt của mình thấp hơn hoặc bằng mức lao động xã hội cần thiết. Cuộc canh tranh càng khiến cho những người sản xuất tích cực cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động… mạnh mẽ hơn. Mọi người sản xuất đều làm như vậy sẽ làm cho năng suất lao động của toàn xã hội tăng lên, sản xuất ngày càng phát triển. + quy luật giá trị cũng tự phát phân hoá người sản xuất ra thành người giàu và người nghèo. Người sản xuất nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động XH cần thiết sẽ thu được nhiều lãi và giàu lên, mở rộng sản xuất, thậm chí trở thành ông chủ thuê nhân công. Còn những người sản xuất có mức hao phí lao động cá biệt cao hơn mức hao phí lao động XH cần thiết sẽ thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản và trở thành công nhân làm thuê. + Vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực. Chúng ta cần phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó. + Trong giai đoạn sản xuất tư bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh, giá trị hàng hóa trở thành giá cả sản xuất. Giá trị là cơ sở của giá cả sản xuất. Khi giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất thì quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất. Còn trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, do nắm được vị trí thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, các tổ chức có khả năng định ra giá cả độc quyền. Giá cả độc quyền là giá cả hàng hoá có sự chênh lệch rất lớn so với giá cả sản xuất. Tuy nhiên, cơ sở của giá cả độc quyền vẫn là giá trị và tổng giá cả độc quyền vẫn bằng tổng giá trị. Khi đó, quy luật giá trị biểu hiện ra thành quy luật giá cả độc quyền. Câu 7: Thế nào là thị trường? Mối quan hệ giữa phân công lao động XH với thị trường. Phân tích các chức năng của thị trường. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 - - - kn: tài liệu mối quan hệ: + Phân công lao động XH góp phần tạo ra thị trường. Do có sự phân công lao động XH, mỗi cá thể chỉ sản xuất một hoặc một vài sản phẩm trong khi họ có như cầu sử dụng nhiều loại sản phẩm. Chính vì vậy, sinh ra việc trao đổi buôn bán và dẫn đến hình thành thị trường. + thị trường cũng làm cho phân công lao động XH ngày càng sâu sắc hơn. Thị trường thúc đẩy sản xuất một số mặt hàng và hạn chế sản xuất một số mặt hàng khác tùy theo không gian và thời gian. Do đó, phân công lao động XH ở từng ngành, từng khu vực trở nên sâu sắc hơn. Chức năng: + Chức năng thừa nhận công dụng XH của hàng hoá (giá trị sử dụng XH) và lao động đã chi phí để sản xuất ra nó. Nếu hàng hoá bán được và bán với giá cả bằng giá trị thì XH đã thừa nhận công dụng của nó cũng như thừa nhận mức hao phí lao động để sản xuất ra nó phù hợp với mức hao phí lao động XH cần thiết, giá trị hàng hoá được thực hiện. Nếu hàng hoá không bán được thì hoặc là công dụng của hàng hoá không được thừa nhận, hoặc là do chi phí sản xuất cao hơn mức trung bình của XH nên XH không chấp nhận. Nếu hàng hoá bán được với giá cả thấp hơn giá trị thì có nghĩa là XH chỉ thừa nhận công dụng của nó và một phần chi phí sản xuất ra nó. + Thứ hai là chức năng cung cấp thông tin cho người sản xuất và tiêu dùng về cơ cấu hàng hoá, giá cả, chất lượng… + Chức năng kích thích hoặc hạn chế sản xuất và tiêu dùng. Từ những thông tin thu được trên thị trường, người sản xuất hay tiêu dùng sẽ có những điều chỉnh kịp thời để phù hợp với biến đổi của thị trường. Nhờ đó mà sản xuất và tiêu dùng được hạn chế hoặc kích thích. Ví dụ như giá cả một hàng hoá nào đó tăng, người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất còn người tiêu dùng sẽ hạn chế nhu cầu… Câu 8: Tại sao cạnh tranh là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá? Cạnh tranh là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá bởi thực chất nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Trong sản xuất hàng hoá, sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động XH tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển… nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động XH cần thiết để thu được nhiều lãi. Khi còn sản xuất hàng hoá, còn phân công lao động thì còn có cạnh tranh. Câu 9: Trình bày nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản. - - - - - Giả sử để chế tạo ra 1 kg sợi, nhà tư bản phải bỏ ra 28.000 đơn vị tiền tệ bao gồm 20.000 đơn vị tiền tệ mua 1 kg bông, 3.000 đơn vị cho hao phí máy móc và 5.000 đơn vị mua sức lao động của công nhân điều khiển máy móc trong 1 ngày (10 giờ). Giả định việc mua này là đúng giá trị. Đồng thời giả định, mỗi giờ lao động, người công nhân tạo ra 1.000 đơn vị giá trị mới kết tinh vào trong sản phẩm. Vậy bằng lao động cụ thể, người công nhân đã chuyển giá trị của bông và hao mòn máy móc vào trong sợi và bằng lao động trừu tượng của mình, mỗi giờ công nhân lại tạo thêm một lượng giá trị mới là 1.000 đơn vị. Nếu chỉ trong vòng 5 giờ, công nhân đã kéo xong 1kg sợi thì giá trị 1kg sợi là: – Giá trị của 1 kg bông = 20.000 đơn vị – Hao mòn máy móc = 3.000 đơn vị – Giá trị mới tạo ra (trong 5 giờ lao động, phần này vừa đủ bù đắp giá trị sức lao động) = 5.000 đơn vị Vậy tổng cộng giá trị của 1 kg sợi là 28.000 đơn vị. Tuy nhiên, do nhà tư bản đã thuê người công nhân trong 10 giờ nên trong 5 giờ lao động tiếp theo, nhà tư bản không phải bỏ ra 5.000 đơn vị mua sức lao động nữa mà chỉ cần bỏ ra 20.000 đơn vị tiền tệ để mua thêm 1kg bông, 3.000 đơn vị cho hao mòn máy móc, tức là với 23.000 đơn vị tiền tệ, nhà tư bản có thêm được 1kg sợi. Như vậy. trong một ngày lao động, nhà tư bản bỏ ra 51.000 đơn vị tiền tệ để thu được 2 kg sợi. Trong khi đó, giá trị của 2 kg sợi là: 28.000 . 2 = 56.000 đơn vị tiền tệ. Do đó, nhà tư bản thu được 1 phần giá trị dôi ra, tức là giá trị thặng dư, bằng 5.000 đơn vị tiền tệ. Từ ví dụ trên, ta thấy giá trị thặng dư chính là phần giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra ngoài sức lao động, là kết quả lao động không công của công nhân cho nhà tư bản. Chú ý rằng, phần lao động không công đó trở thành giá trị thặng dư vì nó thuộc sở hữu của nhà tư bản chứ không phải là của người lao động. Sở dĩ nhà tư bản chi phối được số lao động không công ấy là vì nhà tư bản là người sở hữu tư liệu sản xuất. Câu 10: phương pháp sx GTTD tuyệt đối và tương đối: Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 ● GTTD tuyệt đối: - Ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động cần thiết (t) là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư (t’) là 4 giờ, mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị mới là 10 đơn vị thì giá trị thặng dư tuyệt đối là 40 và tỷ suất giá trị thặng dư là: m’ = (t/t’) . 100% = 4/4 . 100% = 100% Nhưng nếu ta kéo dài ngày lao động thêm 2 tiếng thì t vẫn bằng 4 giờ nhưng thời gian lao động thặng dư lức này lại là t’= 6. Do đó, giá trị thặng dư tuyệt đối sẽ là 60 đơn vị và tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là: m’ = 6/4 . 100% = 150% Do việc tăng thời gian lao động không thể vượt quá giới hạn sinh lý của công nhân nên khi thời gian lao động không thể kéo dài thêm được nữa, nhà tư bản sẽ tìm cách tăng cường độ lao động. Về thực chất thì tăng cường độ lao động cũng tương tự như kéo dài ngày lao động. Vì vậy, tăng thời gian lao động hoặc tăng cường độ lao động là để sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối. ● GTTD tương đối: - Ngày lao động là 10 giờ, trong đó 5 giờ là thời gian lao động tất yếu và 5 giờ là thời gian lao đông thặng dư. Nhờ tăng năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, giá cả sinh hoạt rẻ hơn dẫn đến giá trị sức lao động cũng bị hạ thấp. Giả sử giá trị sức lao động giảm đi 1 giờ. Khi đó thời gian lao động tất yếu chỉ còn 4 giờ và thời gian lao động thặng dư tăng lên thành 6 giờ. Khi đó, tỷ suất giá trị thặng dư tăng từ 100% lên 150%. - Như vậy, bằng cách tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất phục vụ cho ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt mà giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân giảm đi, kéo theo giá trị sức lao động của người lao động giảm đi và đem lại giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản mà không phải tăng thời gian lao động hay cường độ lao động. - - - Câu 11: Căn cứ và ý nghĩa của các cách phân chia tư bản trên đây. Việc phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến là dựa vào vai trò của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư còn việc phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động là dựa vào phương thức chuyển dịch giá trị của chúng vào sản phẩm trong quá trình sản xuất hay dựa vào tính chất chu chuyển của tư bản. Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến phản ánh được nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư. Trong quá trình sản xuất, tư bản bất biến chỉ là điều kiện để sinh ra giá trị thặng dư còn tư bản khả biến mới là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư. Việc phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động tuy không phản ánh nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý kinh tế. Nó là cơ sở để quản lý, sử dụng vốn cố định và vốn lưu động một cách có hiệu quả cao. Câu 12: So sánh giá trị thặng dư với lợi nhuận, tỷ suất giá trị thặng dư và tỷ suất lợi nhuận. Tốc độ chu chuyển của tư bản có ảnh hưởng như thế nào tới nhu cầu về tư bản, tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư hằng năm? 1. Ta biết rằng, nhà tư bản bỏ ra tư bản bao gồm tư bản bất biến c và tư bản khả biến v để sản xuất ra giá trị thặng dư m. Nhưng các nhà tư bản đã đưa ra một khái niệm mới là chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa K– đó là phần giá trị bù lại giá cả của những tư liệu sản xuất © và giá cả sức lao động (v) đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hoá cho nhà tư bản, nghĩa là K = c +v Khi c + v chuyển thành K như vậy thì số tiền nhà tư bản thu được trội hơn so với chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa được gọi là lợi nhuận P. Như vậy, lợi luận thực chất là giá trị thặng dư được quan niệm là kết quả của toàn bộ tư bản ứng trước. Khi đó, giá trị hàng hóa G = c + v + m biến thành G = K + P. Về bản chất thì P chính là m nhưng cái khác nhau ở chỗ, m hàm ý so sánh với v còn P lại hàm ý so sánh nó với K = c + v. P và m thường không bằng nhau. P có thể cao hơn hoặc thấp hơn m, phụ thuộc vào giá cả hàng hoá do quan hệ cung – cầu quy định. Nhưng nếu xét trên phạm vi toàn XH, tổng lợi nhuận luôn bằng tổng giá trị thặng dư. 2. Khi giá trị thặng dư chuyển thành lợi nhuận thì tỷ suất giá trị thặng dư cũng chuyển thành tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất giá trị thặng dư m’ là tỷ lệ phần trăm giữa số lượng giá trị thặng dư m với tư bản khả biến v: m’ = m/v . 100 Tỷ suất lợi nhuận P’ là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước: P’ = m/(c + v) . 100 . Trong thực tế người ta thường tính P’ bằng tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận thu được P với tổng tư bản ứng trước K: P’ = P/K . 100 . Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Xét về lượng thì tỷ suất lợi nhuận P’ luôn nhỏ hơn tỷ suất giá trị thặng dư m’. Về chất, tỷ suất giá trị thặng dư biểu hiện đúng mức độ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động còn tỷ suất lợi nhuận chỉ nói lên mức doanh lợi của việc đầu tư tư bản. P’ chỉ cho nhà đầu tư tư bản biết đầu tư vào đâu là có lợi. Tỷ suất lợi nhuận phụ thuộc vào tỷ suất thặng dư: tỷ suất thặng dư tăng thì tỷ suất lợi nhuận tăng; tốc độ chu chuyển tư bản, cấu tạo hữu cơ của tư bản và tiết kiệm tư bản bất biến. 3. Chu chuyển tư bản là sự tuần hoàn của tư bản được lặp đi lặp lại định kỳ, đổi mới không ngừng. Tốc độ chu chuyển tư bản là số vòng chu chuyển của tư bản trong một năm. Tốc độ chu chuyển của tư bản có ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu về tư bản, tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư. Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định làm tăng quỹ khấu hao tài sản cố định, lượng tư bản sử dụng tăng lên và tránh được những thiệt hai do hao mòn hữu hình và vô hình gây ra. Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động sẽ làm tăng lượng tư bản lưu động được sử dụng trong một năm, nhờ đó, sẽ tiết kiệm được tư bản ứng trước. Mặt khác, do tăng tỷ suất của tư bản khả biến mà tỷ suất giá trị thặng dư trong năm sẽ tăng lên. Tóm lại, tăng tốc độ chu chuyển tư bản khả biến giúp cho các nhà tư bản tiết kiệm được tư bản ứng trước, nâng cao tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư trong năm. Câu 13: Phân tích những ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ tư bản. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này. 1. Tích luỹ tư bản là quá trình chuyển một phần giá trị thặng dư trở lại thành tư bản. Nếu khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư cho tích lũy và tiêu dùng. Nếu tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư đã được xác định thì quy mô tích luỹ tư bản sẽ phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư. Mà khối lượng giá trị thặng dư thì lại phụ thuộc vào 3 yếu tố là trình độ bóc lột giá trị thặng dư (m’), chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng, quy mô tư bản ứng trước. Thứ nhất, quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào trình độ bóc lột giá trị thặng dư của nhà tư bản. Để tăng thêm khối lượng giá trị thặng dư, nhà tư bản không tăng thêm thiết bị, máy móc, thuê thêm nhân công mà bắt số công nhân hiện có cung cấp thêm một lượng lao động bằng cách tăng thời gian lao động và cường độ lao động, tận dụng triệt để công suất của máy móc hiện có, chỉ tăng thêm phần nguyên liệu tương ứng. Một cách khác là tăng năng suất lao động. Khi năng suất lao động XH tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt giảm. Điều này tạo ra hai kết quả: một là với khối giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tích luỹ có thể tăng thêm bằng cách lấn sang phần dành cho tiêu dùng mà việc tiêu dùng của nhà tư bản không giảm, có khi còn cao hơn trước; hai là một lượng giá trị thặng dư nhất định có thể mua được một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động nhiều hơn do giá tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động giảm. Không những thế, tăng năng suất lao động sẽ làm cho giá trị của tư bản cũ tái hiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh hơn. Thứ hai là chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng. Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu sản xuất mà toàn bộ quy mô hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất hàng hoá còn tư bản tiêu dùng là phần giá trị những tư liệu sản xuất ấy được chuyển vào sản phẩm theo từng chu kỳ sản xuất dưới dạng khấu hao. Sự chênh lệch giữa chúng là thước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất. Sau khi trừ đi những tổn phí hàng ngày trong việc sử dụng máy móc và công cụ lao động, nhà tư bản sử dụng các công cụ lao động đó mà không mất thêm chi phí nào khác. Sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng càng lớn thì sự phục vụ không công của tư liệu sản xuất càng nhiều. Cuối cùng, đó là quy mô tư bản ứng trước.Theo công thức M = m’ . V, nếu tỷ suất giá trị thặng dư m’ không đổi thì khối lượng giá trị thặng dư M chỉ tăng khi tổng tư bản khả biến V tăng và tất nhiên tư bản bất biến cũng sẽ phải tăng lên theo quan hệ tỷ lệ nhất định. Do đó, muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư phải tăng quy mô tư bản ứng trước. Đại lượng tư bản ứng trước càng lớn thì quy mô sản xuất càng được mở rộng theo chiều rộng và theo chiều sâu. 2. Nếu ta bỏ qua tính chất tư bản chủ nghĩa thì tích luỹ tư bản có ý nghĩa quan trọng trong việc tích luỹ vốn cho sản xuất. Để nâng cao quy mô tích luỹ, cần khai thác tốt nhất lực lượng lao động XH, tăng năng suất lao động, sử dụng triệt để năng lực sản xuất của máy móc, thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu, khai thác các nguồn vốn nhàn rỗi trong XH. Đây chính là ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này. Câu 14: Trình bày các khái niệm chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận. Các khái niệm trên đã che dấu quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa như thế nào? 4. Đối với nhà tư bản, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là giới hạn hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhà tư bản. Sự xuất hiện khái niệm này đã xoá đi ranh giới giữa tư bản bất biến c và tư bản khả biến v, che dấu đi nguồn gốc của giá trị thặng dư (đó là tư bản khả biến v). Khái niệm lợi nhuận thực chất cũng chỉ là biến tướng của giá trị thặng dư. Nó phản ánh sai lệch bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Theo khái niệm này thì phần dôi ra đó không phải là do giá trị sức lao động (v) của công nhân làm thuê tạo ra mà là do chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa của nhà tư bản tạo ra. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Khái niệm tỷ suất lợi nhuận cũng vậy. Nó không biểu hiện đúng mức độ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động như tỷ suất giá trị thặng dư m’ (m’ càng tăng, chứng tỏ nhà tư bản bóc lột càng nhiều). Tỷ suất lợi nhuận chỉ nói lên mức doanh lợi của việc đầu tư tư bản. P’ càng tăng thì đầu tư càng có lợi Tóm lại, bằng việc đưa ra ba khái niệm trên, các nhà tư bản đã che dấu bản chất bóc lột của mình, che dấu đi cái thực chất sinh ra giá trị thặng dư là lao động không công của người công nhân làm thuê. CHƯƠNG 2 CÂU HỎI ÔN TẬP Câu 1: Phân tích 2 thuộc tính cơ bản của hàng hóa và mối quan hệ giữa nó? Tại sao hàng hóa lại có những thuộc tính đó? * Thuộc tính cơ bản của hàng hóa: giá trị sử dụng và giá trị + Giá trị sử dụng của hàng hóa: l Khái niệm: Tr37. Ví dụ: công dụng của gạo là để ăn, cho nên giá trị sử dụng của gạo là để ăn.. l Đặc trưng: + Giá trị sử dụng của hàng hóa là do những thuộc tính tự nhiên (vật lí, hóa học) của thực thể hàng hóa quyết định, do đó, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn. Ví dụ: thuộc tính tự nhiên của nước là một chất lỏng, không màu, không mùi, không vị do vậy nó có thể dùng trong cả sinh hoạt, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp. + Giá trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học - kỹ thuật và của lực lượng sản xuất vì vậy khi xã hội càng tiến bộ, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chủng loại giá trị sử dụng ngày càng phong phú, chất lượng ngày càng cao. Ví dụ: than đá, dầu mỏ lúc đầu làm chất đốt sau đó dùng làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp để chế biến ra nhiều loại sản phẩm: như dược phẩm... + Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng cho xã hội, cho người mua chứ không phải cho người sản xuất trực tiếp ra nó. Giá trị sử dụng của hàng hóa đến tay người mua thông qua trao đổi mua bán. Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải luôn quan tâm đến nhu cầu xã hội, làm cho sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của xã hội thì hàng hóa của họ mới bán được. => Trong nền sản xuất hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi, người ta không trao đổi những vật phẩm không có giá trị sử dụng. + Giá trị của hàng hóa: Để hiểu được giá trị của hàng hóa ta cần đi từ giá trị trao đổi: Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác. Ví dụ: 1m vải = 5kg thóc. Tức là 1m vải có giá trị bằng 5kg thóc. Sở dĩ các hàng hóa này được trao đổi với nhau là vì chúng có một điểm chung: đều là sản phẩm của lao động. Chính lao động hao phí để tạo ra hàng hóa là cơ sở chung của việc trao đổi và nó tạo thành giá trị của hàng hóa. l Khái niệm: Giá trị hàng hóa là lao động XH của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. l Giá trị hàng hóa mà chúng ta đề cập ở trên chỉ là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị, còn giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi. Giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 hóa, khi nào còn sản xuất và trao đổi hàng hóa thì những người sản xuất còn quan tâm đến giá trị. Vì vậy giá trị là một phạm trù lịch sử. * Mối quan hệ giữa 2 thuộc tính của hàng hóa. Hai thuộc tính của hàng hóa có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau. l Mặt thống nhất : Hai thuộc tính này cùng đồng thời tồn tại trong một hàng hóa. Nếu một vật có giá trị sử dụng (tức có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, của XH), nhưng không có giá trị (tức không do lao động tạo ra, không có kết tinh lao động) như không khí tự nhiên sẽ không phải là hàng hóa. Ngược lại một vật có giá trị (tức có lao động kết tinh) nhưng không có giá trị sử dụng (tức không thể thỏa mãn n là hu cầu nào của con người, xã hội) cũng không trở thành hàng hóa. l Mặt mâu thuẫn: + Thứ nhất: Với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hóa khác nhau về chất (sắt thép, lúa gạo,...) Nhưng ngược lại với tư cách là giá trị thì chúng lại đồng nhất về chất, đều là do kết tinh của lao động. + Thứ hai: Quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng có sự tách biệt về cả không gian và thời gian: Giá trị thì thực hiện trước, trong lĩnh vực lưu thông. Giá trị sử dụng thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng. Người sản xuất quan tâm đến giá trị, nhưng để đạt được mục đích giá trị bắt buộc họ cũng phải chú ý đến giá trị sử dụng, ngược lại người tiêu dùng quan tâm đến giá trị sử dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của mình. Nhưng muốn có giá trị sử dụng họ phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó. Như vậy trước khi thực hiện giá trị sử dụng phải thực hiện giá trị của nó. Nếu không thực hiện giá trị sẽ không có giá trị sử dụng. Mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị sử dụng cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng sản xuất hàng hóa. * Tại sao hàng hóa lại có 2 thuộc tính đó: Hàng hóa có 2 thuộc tính không phải là do có hai thứ lao động khác nhau kết tinh trong nó mà là lao động của sản xuất hàng hóa có tính hai mặt: vừa mang tính cụ thể (LĐ cụ thể) vừa mang tính trừu tượng (LĐ trừu tượng). C.Mác là người đã phát hiện ra tính hai mặt đó. Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công cụ lao động, kết quả lao động riêng. Những cái riêng đó là cơ sở để phân biệt các loại hàng hóa khác nhau. Ví dụ lao động của người thợ may, thợ mộc là những loại lao động cụ thể khác nhau nó tạo ra giá trị sử dụng khác nhau của hàng hóa. LĐ cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa. Lao động trừu tượng là lao động xã hội của người .. (Tr41) Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa. Vậy có thể nói giá trị của hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. LĐTT là cơ sở để ss, trao đổi các GTSD khác nhau Câu 2: Phân tích các điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá và những ưu thế của sản xuất hàng hoá so với kinh tế tự nhiên. * Khái niệm KTTN: Kinh tế tự nhiên là kiểu sản xuất tự cung tự cấp, sản phẩm làm ra nhằm thoả mãn nhu cầu của người trực tiếp sản xuất ra nó. Kiểu sản xuất này gắn liền với nền sản xuất nhỏ, lực lượng lao động phát triển thấp, phân công lao động kém phát triển. * Khái niệm SXHH: Tr35 Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 * Điều kiện ra đời của SXHH: Tr36 * So với sản xuất tự cung tự cấp thì sản xuất hàng hoá có những ưu thế hơn hẳn: + Do sản xuất hàng hoá dựa trên sự phân công lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất nên nó khai thác được những lợi thế tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương. Đồng thời, sản xuất hàng hoá cũng tác động trở lại làm cho phân công lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng tăng, mối quan hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc. Từ đó, làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của XH được đáp ứng đầy đủ hơn. + Trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nguồn lực và nhu cầu của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực XH. Từ đó, tạo điều kiện cho việc ứng dụng những thành tựu KH – KT vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn. + Trong nền sản xuất hàng hóa, để tồn tại và sản xuất có lãi, người sản xuất phải luôn luôn năng động, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Nhờ đó, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, năng suất lao động tăng, hiệu quả kinh tế ngày càng cao. + Sự phát triển sản xuất, mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, các vùng, các nước… không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hoá, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú và đa dạng hơn. + Tóm lại, trong khi sản xuất tự cung tự cấp bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực cá nhân, gia đình, quy mô sản xuất nhỏ, không tạo được động lực thúc đẩy sản xuất phát triển thì sản xuất hàng hoá lại tạo được động lực sản xuất phát triển, làm cho sản xuất phù hợp với nhu cầu, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân và toàn XH. Câu 3: Phân tích nội dung, yêu cầu và tác động của quy luật giá trị trong sản xuất hàng hóa. Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu quy luật này? * KN QLGT: Tr67 * Nội dung: Sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết. * Yêu cầu: + Trong sản xuất: Trong nền sản xuất hàng hóa, nhà sản xuất có điều kiện sản xuất khác nhau do vậy mà hao phí lao động cá biệt cũng rất khác nhau nhưng khi trao đổi hàng hóa phải căn cứ vào hao phí lao động xã hội. Do vậy muốn bán được hàng hóa, bù đắp được chi phí sản xuất và có lãi đòi hỏi nhà sản xuất phải hạ được chi phí cá biệt nhỏ hơn hoặc bằng chi phí xã hội. + Trong trao đổi: Phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá, lấy giá trị hàng hóa làm cơ sở, không dựa trên giá trị cá biệt. Nếu bán cao hơn giá trị thì hàng hóa không bán được, không thu hồi được vốn. Ngược lại nếu bán thấp hơn giá trị thì sẽ bị thua lỗ dẫn đến phá sản. + Thông qua sự vận động của giá cả thị trường sẽ thấy được sự hoạt động của quy luật giá trị. Những người sản xuất và trao đổi hàng hóa phải tuân thủ mệnh lệnh của giá cả thị trường. * Tác động của quy luật giá trị: Thứ nhất là điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa. Trong sản xuất, điều tiết sản xuất hàng hóa được thể hiện trong hai trường hợp sau: + Nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả cao hơn giá trị, hàng hóa bán chạy và lãi cao, những người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất. Mặt khác, những người sản xuất hàng hóa khác cũng có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này, do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên, quy mô sản xuất càng được mở rộng. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 + Nếu như một mặt hàng nào đó có giá cả thấp hơn giá trị, sẽ bị lỗ vốn. Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất mặt hàng này hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi, ở ngành khác lại có thể tăng lên. Còn nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng giá trị thì người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này. Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Ví dụ: công ty cổ phần bột giặt Lix chủ yếu sản xuất bột giặt, nước rửa chén, sau đó để đáp ứng nhu cầu xã hội ngày càng cao trong thời kì dịch Covid 19 đã cho ra mắt gel rửa tay khô On1. Trong lưu thông, Tác động điều tiết lưu thông hàng hóa của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá cả thấp hơn đến nơi có giá cả cao hơn, và do đó, góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định. Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lí hóa SX, tăng năng suất lao động. Để có giá trị cá biệt hàng hóa nhỏ hơn hoặc bằng giá trị xã hội. Đòi hỏi người SX không ngừng cải tiến kĩ thuật, áp dụng công nghệ mới, đổi mới phương pháp quản lí, thực hiện tiết kiệm...nhằm tăng năng suất lao động và giảm chi phí sản xuất. Trong sự cạnh tranh quyết liệt trên, nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy thì sẽ dẫn đến toàn bộ năng suất lao động xã hội sẽ tăng lên, chi phí sản xuất sẽ giảm xuống. Thứ ba, phân hóa những người sản xuất thành những người giàu và nghèo một cách tự nhiên. Trong cạnh tranh, người sản xuất nào nhạy bén với thị trường, có hao phí cá biệt thấp hơn mức hao phí chung của xã hội sẽ có thu nhập cao, trở nên giàu có. Ngược lại nếu giá trị cá biệt cao hơn giá trị XH, dẫn đến thua lỗ, phá sản và trở thành người nghèo. * Ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu quy luật này: Quy luật giá trị vừa có những giá trị tích cực và tiêu cực đối với người sản xuất. Quy luật giá trị làm phân hóa những người sản xuất hàng hóa, đây là sự lựa chọn tự nhiên, nó đào thải những yếu kém, kích thích những nhân tố tích cực. Nếu xét ở góc độ này nó là động lực để thúc đẩy phát triển sản xuất, nhanh chóng chuyển nền sản xuất nhỏ sang nền sản xuất lớn hiện đại, cơ cấu kinh tế hiện đại, linh hoạt. Nếu xét ở góc độ xã hội, sự phân hóa giàu nghèo của sản xuất hàng hóa có tác động tiêu cực. Bên cạnh đó, QLGT cũng dẫn đến khai thác cạn kiệt, quá mức các tài nguyên, ô nhiễm môi trường. Do đó, nhà nước cần có những biện pháp để phát huy những mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó. Riêng đối Việt Nam, trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN thì điều này còn có ý nghĩa quan trọng hơn cả. * Những biểu hiện của quy luật này trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản? Trong giai đoạn sản xuất tư bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh, giá trị hàng hóa trở thành giá cả sản xuất. Giá trị là cơ sở của giá cả sản xuất. Khi giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất thì quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất. Còn trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, do nắm được vị trí thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, các tổ chức có khả năng định ra giá cả độc quyền. Giá cả độc quyền là giá cả hàng hoá có sự chênh lệch rất lớn so với giá cả sản xuất. Tuy nhiên, cơ sở của giá cả độc quyền vẫn là giá trị và tổng giá cả độc quyền vẫn bằng tổng giá trị. Khi đó, quy luật giá trị biểu hiện ra thành quy luật giá cả độc quyền. Câu 4: Thế nào là thị trường? Mối quan hệ giữa phân công lao động XH với thị trường. Phân tích các chức năng của thị trường. * KN Tr57 * Mối quan hệ: Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 + Phân công lao động XH góp phần tạo ra thị trường. Do có sự phân công lao động XH, mỗi cá thể chỉ sản xuất một hoặc một vài sản phẩm trong khi họ có như cầu sử dụng nhiều loại sản phẩm. Chính vì vậy, sinh ra việc trao đổi buôn bán và dẫn đến hình thành thị trường. + Thị trường cũng làm cho phân công lao động XH ngày càng sâu sắc hơn. Thị trường thúc đẩy sản xuất một số mặt hàng và hạn chế sản xuất một số mặt hàng khác tùy theo không gian và thời gian. Do đó, phân công lao động XH ở từng ngành, từng khu vực trở nên sâu sắc hơn. * Chức năng: + Chức năng thừa nhận công dụng XH của hàng hoá (giá trị sử dụng XH) và lao động đã chi phí để sản xuất ra nó. Nếu hàng hoá bán được và bán với giá cả bằng giá trị thì XH đã thừa nhận công dụng của nó cũng như thừa nhận mức hao phí lao động để sản xuất ra nó phù hợp với mức hao phí lao động XH cần thiết, giá trị hàng hoá được thực hiện. Nếu hàng hoá không bán được thì hoặc là công dụng của hàng hoá không được thừa nhận, hoặc là do chi phí sản xuất cao hơn mức trung bình của XH nên XH không chấp nhận. Nếu hàng hoá bán được với giá cả thấp hơn giá trị thì có nghĩa là XH chỉ thừa nhận công dụng của nó và một phần chi phí sản xuất ra nó. + Thứ hai là chức năng cung cấp thông tin cho người sản xuất và tiêu dùng về cơ cấu hàng hoá, giá cả, chất lượng… + chức năng kích thích hoặc hạn chế sản xuất và tiêu dùng. Từ những thông tin thu được trên thị trường, người sản xuất hay tiêu dùng sẽ có những điều chỉnh kịp thời để phù hợp với biến đổi của thị trường. Nhờ đó mà sản xuất và tiêu dùng được hạn chế hoặc kích thích. Ví dụ như giá cả một hàng hoá nào đó tăng, người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất còn người tiêu dùng sẽ hạn chế nhu cầu… Câu 1: Kinh tế thị trường định hướng XHCN có mấy thành phần kte? Thành phần kte nào giữ vtro chủ đạo. Nêu đặc trưng KTTT định hướng XHCN? ● Khái niệm: SGKT 170 ● Có 4 tphan kte: - - Kinh tế nhà nước là công cụ, nắm giữ các lĩnh vực then chốt, lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường. Bao gồm: DN nhà nước, quỹ dự trữ quốc gia,… Kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, các hợp tác xã, tổ hợp tác có phạm vi hoạt động rộng lớn, với vai trò cung cấp dịch vụ cho các thành viên; liên kết, phối hợp sản xuất kinh doanh, bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện để các thành viên nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển bền vững. Tăng cường liên kết giữa các hợp tác xã, hình thành các hiệp hội, liên hiệp hợp tác xã. Nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà hợp tác xã là nòng cốt. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của kinh tế quốc dân, có vai trò lớn trong huy động nguồn vốn đầu tư, công nghệ, phương thức quản lý hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu. ● Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo vì: - - Kinh tế nhà nước (KTNN) được hiểu bao gồm các cấu thành sau: 1- Bộ phận doanh nghiệp (DN) gồm các DN mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và DN mà Nhà nước nắm cổ phần hoặc phần vốn chi phối; 2- Bộ phận phi DN, ngoài các tài sản thuộc sở hữu nhà nước còn bao gồm cả đất đai, rừng, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên, tư liệu sản xuất, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia... tập hợp sức mạnh kinh tế thể hiện trên các ngành, lĩnh vực trọng yếu từ các định chế tài chính, pháp luật, sức mạnh quản lý đến điều hành của hệ thống chính trị. sở hữu nhà nước và KTNN giữ vị trí trọng yếu, vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo nền tảng cơ bản để phát triển mọi ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế và loại hình DN trong nền kinh tế quốc dân. thành phần KTNN nắm giữ những vị trí then chốt của nền kinh tế và là lực lượng có khả năng can thiệp, điều tiết, hướng dẫn, giúp đỡ, liên kết, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. để đảm đảm được lợi ích của đại đa số nhân dân lao động, KTNN - chủ yếu dựa trên chế độ sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện - phải giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế đó. Đây cũng thể hiện rõ bản chất, đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 ● Đặc trưng: SGK 178-185 Câu 2: CMCN thì vtro của máy móc như thế nào đối với việc tạo ra giá trị thặng dư? - - tư bản bất biến (máy móc, trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu) không tạo ra giá trị thặng dư, nó là điều kiện cần thiết để cho quá trình sản xuất giá trị thặng dư được diễn ra. Nguồn gốc tạo giá trị thặng là sức lao động của người làm thuê. Câu 8: Tại sao cạnh tranh là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá? cạnh tranh là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá bởi thực chất nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Trong sản xuất hàng hoá, sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động XH tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển… nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động XH cần thiết để thu được nhiều lãi. Khi còn sản xuất hàng hoá, còn phân công lao động thì còn có cạnh tranh. Câu 9: Trình bày nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản. - - - Giả sử để chế tạo ra 1 kg sợi, nhà tư bản phải bỏ ra 28.000 đơn vị tiền tệ bao gồm 20.000 đơn vị tiền tệ mua 1 kg bông, 3.000 đơn vị cho hao phí máy móc và 5.000 đơn vị mua sức lao động của công nhân điều khiển máy móc trong 1 ngày (10 giờ). Giả định việc mua này là đúng giá trị. Đồng thời giả định, mỗi giờ lao động, người công nhân tạo ra 1.000 đơn vị giá trị mới kết tinh vào trong sản phẩm. Vậy bằng lao động cụ thể, người công nhân đã chuyển giá trị của bông và hao mòn máy móc vào trong sợi và bằng lao động trừu tượng của mình, mỗi giờ công nhân lại tạo thêm một lượng giá trị mới là 1.000 đơn vị. Nếu chỉ trong vòng 5 giờ, công nhân đã kéo xong 1kg sợi thì giá trị 1kg sợi là: – Giá trị của 1 kg bông = 20.000 đơn vị – Hao mòn máy móc = 3.000 đơn vị – Giá trị mới tạo ra (trong 5 giờ lao động, phần này vừa đủ bù đắp giá trị sức lao động) = 5.000 đơn vị Vậy tổng cộng giá trị của 1 kg sợi là 28.000 đơn vị. Tuy nhiên, do nhà tư bản đã thuê người công nhân trong 10 giờ nên trong 5 giờ lao động tiếp theo, nhà tư bản không phải bỏ ra 5.000 đơn vị mua sức lao động nữa mà chỉ cần bỏ ra 20.000 đơn vị tiền tệ để mua thêm 1kg bông, 3.000 đơn vị cho hao mòn máy móc, tức là với 23.000 đơn vị tiền tệ, nhà tư bản có thêm được 1kg sợi. Như vậy. trong một ngày lao động, nhà tư bản bỏ ra 51.000 đơn vị tiền tệ để thu được 2 kg sợi. Trong khi đó, giá trị của 2 kg sợi là: 28.000 . 2 = 56.000 đơn vị tiền tệ. Do đó, nhà tư bản thu được 1 phần giá trị dôi ra, tức là giá trị thặng dư, bằng 5.000 đơn vị tiền tệ. Từ ví dụ trên, ta thấy giá trị thặng dư chính là phần giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra ngoài sức lao động, là kết quả lao động không công của công nhân cho nhà tư bản. Chú ý rằng, phần lao động không công đó trở thành giá trị thặng dư vì nó thuộc sở hữu của nhà tư bản chứ không phải là của người lao động. Sở dĩ nhà tư bản chi phối được số lao động không công ấy là vì nhà tư bản là người sở hữu tư liệu sản xuất. Câu 10: phương pháp sx GTTD tuyệt đối và tương đối: ● GTTD tuyệt đối: - Ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động cần thiết (t) là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư (t’) là 4 giờ, mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị mới là 10 đơn vị thì giá trị thặng dư tuyệt đối là 40 và tỷ suất giá trị thặng dư là: m’ = (t/t’) . 100% = 4/4 . 100% = 100% Nhưng nếu ta kéo dài ngày lao động thêm 2 tiếng thì t vẫn bằng 4 giờ nhưng thời gian lao động thặng dư lức này lại là t’= 6. Do đó, giá trị thặng dư tuyệt đối sẽ là 60 đơn vị và tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là: m’ = 6/4 . 100% = 150% Do việc tăng thời gian lao động không thể vượt quá giới hạn sinh lý của công nhân nên khi thời gian lao động không thể kéo dài thêm được nữa, nhà tư bản sẽ tìm cách tăng cường độ lao động. Về thực chất thì tăng cường độ lao động cũng tương tự như kéo dài ngày lao động. Vì vậy, tăng thời gian lao động hoặc tăng cường độ lao động là để sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối. ● GTTD tương đối: - Ngày lao động là 10 giờ, trong đó 5 giờ là thời gian lao động tất yếu và 5 giờ là thời gian lao đông thặng dư. Nhờ tăng năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, giá cả sinh hoạt rẻ hơn dẫn đến giá trị sức lao động cũng bị hạ thấp. Giả sử giá trị sức lao động giảm đi 1 giờ. Khi đó thời gian lao động tất yếu chỉ còn 4 giờ và thời gian lao động thặng dư tăng lên thành 6 giờ. Khi đó, tỷ suất giá trị thặng dư tăng từ 100% lên 150%. - Như vậy, bằng cách tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất phục vụ cho ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt mà giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân giảm đi, kéo theo giá trị sức lao động của người lao động giảm đi và đem lại giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản mà không phải tăng thời gian lao động hay cường độ lao động. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 - Câu 11: Căn cứ và ý nghĩa của các cách phân chia tư bản trên đây. Việc phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến là dựa vào vai trò của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư còn việc phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động là dựa vào phương thức chuyển dịch giá trị của chúng vào sản phẩm trong quá trình sản xuất hay dựa vào tính chất chu chuyển của tư bản. Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến phản ánh được nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư. Trong quá trình sản xuất, tư bản bất biến chỉ là điều kiện để sinh ra giá trị thặng dư còn tư bản khả biến mới là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư. Việc phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động tuy không phản ánh nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý kinh tế. Nó là cơ sở để quản lý, sử dụng vốn cố định và vốn lưu động một cách có hiệu quả cao. Câu 12: So sánh giá trị thặng dư với lợi nhuận, tỷ suất giá trị thặng dư và tỷ suất lợi nhuận. Tốc độ chu chuyển của tư bản có ảnh hưởng như thế nào tới nhu cầu về tư bản, tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư hằng năm? 1. Ta biết rằng, nhà tư bản bỏ ra tư bản bao gồm tư bản bất biến c và tư bản khả biến v để sản xuất ra giá trị thặng dư m. Nhưng các nhà tư bản đã đưa ra một khái niệm mới là chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa K– đó là phần giá trị bù lại giá cả của những tư liệu sản xuất © và giá cả sức lao động (v) đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hoá cho nhà tư bản, nghĩa là K = c+v Khi c + v chuyển thành K như vậy thì số tiền nhà tư bản thu được trội hơn so với chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa được gọi là lợi nhuận P. Như vậy, lợi luận thực chất là giá trị thặng dư được quan niệm là kết quả của toàn bộ tư bản ứng trước. Khi đó, giá trị hàng hóa G = c + v + m biến thành G = K + P. Về bản chất thì P chính làm những cái khác nhau ở chỗ, m hàm ý so sánh với v còn P lại hàm ý so sánh nó với K = c + v. P và m thường không bằng nhau. P có thể cao hơn hoặc thấp hơn m, phụ thuộc vào giá cả hàng hoá do quan hệ cung – cầu quy định. Nhưng nếu xét trên phạm vi toàn XH, tổng lợi nhuận luôn bằng tổng giá trị thặng dư. 2. Khi giá trị thặng dư chuyển thành lợi nhuận thì tỷ suất giá trị thặng dư cũng chuyển thành tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất giá trị thặng dư m’ là tỷ lệ phần trăm giữa số lượng giá trị thặng dư m với tư bản khả biến v: m’ = m/v . 100 Tỷ suất lợi nhuận P’ là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước: P’ = m/(c + v) . 100 . Trong thực tế người ta thường tính P’ bằng tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận thu được P với tổng tư bản ứng trước K: P’ = P/K . 100 . Xét về lượng thì tỷ suất lợi nhuận P’ luôn nhỏ hơn tỷ suất giá trị thặng dư m’. Về chất, tỷ suất giá trị thặng dư biểu hiện đúng mức độ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động còn tỷ suất lợi nhuận chỉ nói lên mức doanh lợi của việc đầu tư tư bản. P’ chỉ cho nhà đầu tư tư bản biết đầu tư vào đâu là có lợi. Tỷ suất lợi nhuận phụ thuộc vào tỷ suất thặng dư: tỷ suất thặng dư tăng thì tỷ suất lợi nhuận tăng; tốc độ chu chuyển tư bản, cấu tạo hữu cơ của tư bản và tiết kiệm tư bản bất biến. 3. Chu chuyển tư bản là sự tuần hoàn của tư bản được lặp đi lặp lại định kỳ, đổi mới không ngừng. Tốc độ chu chuyển tư bản là số vòng chu chuyển của tư bản trong một năm. Tốc độ chu chuyển của tư bản có ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu về tư bản, tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư. Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định làm tăng quỹ khấu hao tài sản cố định, lượng tư bản sử dụng tăng lên và tránh được những thiệt hai do hao mòn hữu hình và vô hình gây ra. Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động sẽ làm tăng lượng tư bản lưu động được sử dụng trong một năm, nhờ đó, sẽ tiết kiệm được tư bản ứng trước. Mặt khác, do tăng tỷ suất của tư bản khả biến mà tỷ suất giá trị thặng dư trong năm sẽ tăng lên. Tóm lại, tăng tốc độ chu chuyển tư bản khả biến giúp cho các nhà tư bản tiết kiệm được tư bản ứng trước, nâng cao tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư trong năm. Câu 13: Phân tích những ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ tư bản. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này. 1. Tích luỹ tư bản là quá trình chuyển một phần giá trị thặng dư trở lại thành tư bản. Nếu khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư cho tích luỹ và tiêu dùng. Nếu tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư đã được xác định thì quy mô tích luỹ tư bản sẽ phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư. Mà khối lượng giá trị thặng dư thì lại phụ thuộc vào 3 yếu tố là trình độ bóc lột giá trị thặng dư (m’), chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng, quy mô tư bản ứng trước. Thứ nhất, quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào trình độ bóc lột giá trị thăng dư của nhà tư bản. Để tăng thêm khối lượng giá trị thặng dư, nhà tư bản không tăng thêm thiết bị, máy móc, thuê thêm nhân công mà bắt số công nhân hiện có cung cấp thêm một lượng lao động bằng cách tăng thời gian lao động và cường độ lao động, tận dung triệt để công suất của máy móc hiện có, chỉ tăng thêm phần nguyên liệu tương ứng. Một cách khác là tăng năng suất lao động. Khi năng suất lao động XH tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt giảm. Điều này tạo ra hai kết quả: một là với khối giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tích luỹ có thể tăng thêm bằng cách lấn sang phần dành cho tiêu dùng mà việc tiêu dùng của nhà tư bản không giảm, có khi còn cao hơn trước; hai là một lượng giá trị thặng dư nhất định có thể mua được một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động nhiều hơn do giá tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động giảm. Không những thế, tăng năng suất lao động sẽ làm cho giá trị của tư bản cũ tái hiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh hơn. Thứ hai là chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng. Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu sản xuất mà toàn bộ quy mô hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất hàng hoá còn tư bản tiêu dùng là phần giá trị những tư liệu sản xuất ấy được chuyển vào sản phẩm theo từng chu kỳ sản xuất dưới dạng khấu hao. Sự chênh Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 lệch giữa chúng là thước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất. Sau khi trừ đi những tổn phí hàng ngày trong việc sử dụng máy móc và công cụ lao động, nhà tư bản sử dụng các công cụ lao động đó mà không mất thêm chi phí nào khác. Sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng càng lớn thì sự phục vụ không công của tư liệu sản xuất càng nhiều. Cuối cùng, đó là quy mô tư bản ứng trước.Theo công thức M = m’ . V, nếu tỷ suất giá trị thặng dư m’ không đổi thì khối lượng giá trị thặng dư M chỉ tăng khi tổng tư bản khả biến V tăng và tất nhiên tư bản bất biến cũng sẽ phải tăng lên theo quan hệ tỷ lệ nhất định. Do đó, muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư phải tăng quy mô tư bản ứng trước. Đại lượng tư bản ứng trước càng lớn thì quy mô sản xuất càng được mở rộng theo chiều rộng và theo chiều sâu. 2. Nếu ta bỏ qua tính chất tư bản chủ nghĩa thì tích luỹ tư bản có ý nghĩa quan trọng trong việc tích luỹ vốn cho sản xuất. Để nâng cao quy mô tích luỹ, cần khai thác tốt nhất lực lượng lao động XH, tăng năng suất lao động, sử dụng triệt để năng lực sản xuất của máy móc, thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu, khai thác các nguồn vốn nhàn rỗi trong XH. Đây chính là ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này. Câu 14: Trình bày các khái niệm chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận. Các khái niệm trên đã che dấu quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa như thế nào? 4. Đối với nhà tư bản, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là giới hạn hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhà tư bản. Sự xuất hiện khái niệm này đã xoá đi ranh giới giữa tư bản bất biến c và tư bản khả biến v, che dấu đi nguồn gốc của giá trị thặng dư (đó là tư bản khả biến v). Khái niệm lợi nhuận thực chất cũng chỉ là biến tướng của giá trị thặng dư. Nó phản ánh sai lệch bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Theo khái niệm này thì phần dôi ra đó không phải là do giá trị sức lao động (v) của công nhân làm thuê tạo ra mà là do chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa của nhà tư bản tạo ra. Khái niệm tỷ suất lợi nhuận cũng vậy. Nó không biểu hiện đúng mức độ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động như tỷ suất giá trị thặng dư m’ (m’ càng tăng, chứng tỏ nhà tư bản bóc lột càng nhiều). Tỷ suất lợi nhuận chỉ nói lên mức doanh lợi của việc đầu tư tư bản. P’ càng tăng thì đầu tư càng có lợi Tóm lại, bằng việc đưa ra ba khái niệm trên, các nhà tư bản đã che dấu bản chất bóc lột của mình, che dấu đi cái thực chất sinh ra giá trị thặng dư là lao động không công của người công nhân làm thuê. Chủ đề 1: Bài làm Câu 1: So với kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hóa có những ưu việt và hạn chế gì? Kinh tế tự nhiên là nền kinh tế mà các hộ gia đình tự sản xuất ra những gì họ cần để đáp ứng nhu cầu của bản thân. Họ không sản xuất hàng hóa để trao đổi với người khác. Kinh tế hàng hóa là nền kinh tế mà các hộ gia đình sản xuất ra hàng hóa để trao đổi với người khác. Họ sản xuất ra những gì họ giỏi nhất và trao đổi với người khác để có được những thứ họ cần. Ưu điểm: ● Năng suất cao hơn: Do chuyên môn hóa và trao đổi, các hộ gia đình trong nền kinh tế hàng hóa có thể sản xuất ra nhiều hàng hóa hơn so với nền kinh tế tự nhiên. ● Sự đa dạng của sản phẩm: Nền kinh tế hàng hóa cung cấp nhiều loại sản phẩm hơn cho người tiêu dùng lựa chọn. ● Hiệu quả: Nền kinh tế hàng hóa khuyến khích sử dụng hiệu quả các nguồn lực vì các hộ gia đình chỉ sản xuất những gì họ giỏi nhất và trao đổi những thứ họ không cần. ● Tăng trưởng kinh tế: Nền kinh tế hàng hóa có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn nền kinh tế tự nhiên vì nó khuyến khích đổi mới và đầu tư. Hạn chế: ● Bất bình đẳng: Nền kinh tế hàng hóa có thể dẫn đến bất bình đẳng thu nhập và sự tập trung tài sản. ● Thiếu ổn định: Nền kinh tế hàng hóa dễ bị ảnh hưởng bởi các cú sốc kinh tế, chẳng hạn như suy thoái kinh tế. ● Tác động tiêu cực đến môi trường: Nền kinh tế hàng hóa có thể dẫn đến ô nhiễm môi trường và khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức. ● Giảm tính tự chủ: Nền kinh tế hàng hóa khiến các hộ gia đình phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường và ít tự chủ hơn trong việc đáp ứng nhu cầu của bản thân. Câu 2: Tại sao nói phân công lao động càng phát triển thì trao đổi mua ngày càng mở rộng? 1. Chuyên môn hóa sản xuất: Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 ● Khi phân công lao động phát triển, mỗi người, mỗi gia đình, mỗi doanh nghiệp tập trung vào sản xuất một loại sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định mà họ làm tốt nhất. Nhờ chuyên môn hóa, năng suất lao động tăng lên, sản phẩm được sản xuất với chất lượng cao hơn và giá thành rẻ hơn. ● Tuy nhiên, để đáp ứng đầy đủ nhu cầu cho bản thân và gia đình, họ cần trao đổi mua bán những sản phẩm khác do người khác sản xuất. Việc trao đổi mua bán diễn ra ngày càng rộng rãi và đa dạng để đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của con người. 2. Mở rộng thị trường: ● Khi phân công lao động phát triển, sản phẩm được sản xuất ra nhiều hơn, không chỉ để đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang các nước khác. Trao đổi mua bán diễn ra không chỉ trong phạm vi địa phương, quốc gia mà còn vươn ra thị trường quốc tế. ● Việc mở rộng thị trường giúp các doanh nghiệp tiếp cận được nhiều khách hàng hơn, tăng doanh thu và lợi nhuận. Đồng thời, người tiêu dùng cũng có nhiều lựa chọn sản phẩm hơn, với giá cả cạnh tranh hơn. 3. Tăng cường sự phụ thuộc lẫn nhau: ● Khi phân công lao động phát triển, mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi doanh nghiệp đều phụ thuộc vào nhau trong việc sản xuất và tiêu dùng sản phẩm. Họ không thể tự cung tự cấp hoàn toàn cho mọi nhu cầu của bản thân. ● Trao đổi mua bán trở thành cầu nối để kết nối những người sản xuất với người tiêu dùng, giúp họ đáp ứng nhu cầu của nhau và cùng nhau phát triển. 4. Phát triển hệ thống tiền tệ: ● Khi trao đổi mua bán ngày càng mở rộng, việc trao đổi sản phẩm bằng sản phẩm (hàng đổi ngang) trở nên khó khăn và bất tiện. Do đó, hệ thống tiền tệ ra đời để làm trung gian cho việc trao đổi mua bán. ● Tiền tệ giúp việc trao đổi mua bán diễn ra dễ dàng, thuận lợi hơn, thúc đẩy giao thương phát triển. 5. Tăng cường trao đổi hàng hóa: Với việc phân công lao động, người sản xuất không chỉ sản xuất cho nhu cầu cá nhân mà còn để trao đổi với những người khác. Sự tách rời giữa thành thị và nông thôn, cùng với việc lấy trao đổi hàng hoá làm một giá, tạo điều kiện cho việc trao đổi sản phẩm trở nên tất yếu 6. Phát triển các hình thức trao đổi mua bán: ● Khi phân công lao động phát triển, các hình thức trao đổi mua bán cũng ngày càng đa dạng và phong phú. Bên cạnh hình thức mua bán trực tiếp, còn có các hình thức mua bán qua mạng, qua trung gian, qua đấu giá,... ● Việc phát triển các hình thức trao đổi mua bán giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và công sức cho người mua và người bán, đồng thời tạo điều kiện cho việc trao đổi mua bán diễn ra một cách hiệu quả hơn. Câu 3: Tại sao nói giá trị hàng hóa là phạm trù lịch sử? - Khái niệm: Giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Đặc điểm của giá trị: - Giá trị là cơ sở, là nội dung bên trong của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị. - Giá trị trao đổi hay giá trị là thuộc tính đặc trưng của hàng hóa, bởi vì một vật phẩm là hàng hóa phải được dùng để trao đổi, phải so sánh với hàng hóa khác. - Giá trị trao đổi hay giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa, bởi vì nó biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa. - Giá trị trao đổi hay giá trị chỉ được xét đến trong điều kiện kinh tế hàng hóa, do vậy nó được xem là một phạm trù lịch sử. Câu 4: Bạn hãy chỉ ra giá trị, giá trị sử dụng, giá cả của cây bút? - - Khái niệm: - Giá trị là lao động xã hội đã hao phí để tạo ra hàng hóa - Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm, có thể thõa mãn nhu cầu nào đó của con người - Giá cả là giá trị biểu hiện ra bên ngoài, là số tiền mà người mua phải trả để sở hữu nó. Giá cả của cây bút phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất liệu, thương hiệu, kiểu dáng, và chức năng. Ví dụ: - Giá trị: nhà sản xuất đã bỏ ra nhiều thời gian và công sức để tạo nên những cây bút đó. - Giá trị sử dụng: giúp ta viết, ghi chú, vẽ tranh,... - Giá cả: 3000 đồng để mua một cây bút bi xanh Thiên Long dùng để ghi bài Câu 5: Bạn hãy lấy 1 vd về năng suất lao động? Theo bạn, khi tăng năng suất lao động thì lượng giá trị của 1 hàng hóa tăng hay giảm? - Ví dụ về năng suất lao động: Công ty sản xuất giày dép: Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 ● Trước đây: 10 công nhân làm việc 8 tiếng mỗi ngày để sản xuất 100 đôi giày. Năng suất lao động của mỗi công nhân là 10 đôi giày/ngày. ● Sau khi áp dụng các biện pháp cải tiến năng suất: 10 công nhân chỉ cần làm việc 6 tiếng mỗi ngày để sản xuất 120 đôi giày. Năng suất lao động của mỗi công nhân tăng lên 12 đôi giày/ngày. Lượng giá trị của 1 đôi giày: ● Trước đây: Chi phí sản xuất 1 đôi giày là 100.000 đồng. Giá bán 1 đôi giày là 150.000 đồng. Lượng giá trị của 1 đôi giày là 50.000 đồng. ● Sau khi cải thiện năng suất: Chi phí sản xuất 1 đôi giày giảm xuống còn 80.000 đồng. Giá bán 1 đôi giày vẫn là 150.000 đồng. Lượng giá trị của 1 đôi giày tăng lên 70.000 đồng. - Kết luận: Như vậy, khi tăng năng suất lao động, lượng giá trị của 1 hàng hóa có thể tăng. Câu 6: Tại sao ở các nước đang và kém phát triển, năng suất lao động của họ lại khá thấp? Năng suất lao động thấp ở các nước đang phát triển và kém phát triển có nhiều nguyên nhân phức tạp: 1. Hạ tầng kém phát triển: Các nước đang phát triển thường thiếu hạ tầng cơ sở, như giao thông, điện lực, nước sạch, và viễn thông. Điều này ảnh hưởng đến khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lao động. 2. Giáo dục và đào tạo: Hệ thống giáo dục và đào tạo kém phát triển dẫn đến việc thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc. Người lao động không được đào tạo đúng cách để tận dụng tối đa năng suất lao động. 3. Sản xuất thủ công và công nghệ thấp: Các nước đang phát triển thường dựa vào sản xuất thủ công hoặc sử dụng công nghệ thấp. Điều này làm giảm năng suất lao động vì quá trình sản xuất không được tự động hóa và hiệu quả. 4. Yếu tố xã hội và văn hóa: Các yếu tố xã hội như, đạo đức lao động, và tư duy về công việc cũng ảnh hưởng đến năng suất lao động. Nếu người lao động không coi trọng công việc, năng suất sẽ giảm. Yếu tố văn hóa: Thiếu ý thức tuân thủ kỷ luật lao động, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ còn hạn chế. 5. Yếu tố sức khỏe: Sức khỏe của người lao động ảnh hưởng đến năng suất. Các vấn đề sức khỏe như bệnh tật, dinh dưỡng kém, và điều kiện làm việc không an toàn có thể làm giảm năng suất lao động. 6. Cơ cấu kinh tế: ● Tỷ trọng lao động cao trong lĩnh vực nông nghiệp, vốn có năng suất lao động thấp hơn so với các ngành công nghiệp và dịch vụ. ● Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, hạn chế sự phát triển của các ngành có năng suất cao. 7. Yếu tố lịch sử: Di sản của chế độ thuộc địa, chiến tranh để lại nhiều khó khăn cho quá trình phát triển kinh tế xã hội. Câu 7: Theo bạn, tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động thì biện pháp nào tối ưu…giải tại sao? - Việc lựa chọn giữa tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động cần được cân nhắc kỹ lưỡng dựa trên nhiều yếu tố, bao gồm: Lợi ích: ● Tăng năng suất lao động: ○ Giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. ○ Nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. ○ Cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. ○ Góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. ● Tăng cường độ lao động: ○ Tăng sản lượng sản xuất trong một thời gian nhất định. ○ Đáp ứng nhu cầu thị trường cao. ○ Tăng thu nhập cho người lao động. Hạn chế: ● Tăng năng suất lao động: ○ Yêu cầu đầu tư lớn cho công nghệ, máy móc thiết bị. ○ Cần thời gian để đào tạo và nâng cao trình độ cho người lao động. ○ Có thể dẫn đến mất việc làm cho một số người. ● Tăng cường độ lao động: ○ Gây ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần của người lao động. ○ Giảm chất lượng sản phẩm. ○ Tăng nguy cơ xảy ra tai nạn lao động. ○ Gây mâu thuẫn giữa người lao động và chủ sử dụng lao động. - Theo quan điểm của tôi, tăng năng suất lao động là biện pháp tối ưu hơn so với tăng cường độ lao động. Lý do là vì: Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 ● Lợi ích lâu dài: Tăng năng suất lao động mang lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp, người lao động và nền kinh tế. ● Phát triển bền vững: Tăng năng suất lao động góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững. ● Nhân văn: Tăng năng suất lao động đảm bảo điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh, nâng cao sức khỏe và đời sống cho người lao động. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc loại bỏ hoàn toàn biện pháp tăng cường độ lao động. Trong một số trường hợp nhất định, tăng cường độ lao động có thể là giải pháp cần thiết để đáp ứng nhu cầu thị trường hoặc giải quyết tình huống khẩn cấp. Tuy nhiên, cần đảm bảo thực hiện biện pháp này một cách khoa học, hợp lý và có biện pháp bảo vệ sức khỏe cho người lao động. - Kết luận: Lựa chọn biện pháp nào để nâng cao hiệu quả lao động cần phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp, từng ngành nghề và từng giai đoạn phát triển. Cần cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố lợi ích và hạn chế của từng biện pháp để đưa ra quyết định phù hợp nhất. Câu 8: Theo bạn, trong cùng 1 đơn vị thời gian, cùng sản xuất 1 loại sản phẩm thì loại hình lao động nào sẽ tạo ra 1 hàng hóa có lượng giá trị thấp hơn? Tại sao Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, trong cùng một đơn vị thời gian, cùng sản xuất một loại sản phẩm, loại hình lao động đơn giản sẽ tạo ra một hàng hóa có lượng giá trị thấp hơn so với loại hình lao động phức tạp. Lý do: ● Lao động đơn giản là lao động chỉ đòi hỏi sức lao động cơ bắp, kỹ năng và trình độ chuyên môn thấp. Loại lao động này chỉ tạo ra giá trị theo bản năng lao động, tức là giá trị được tạo ra tỷ lệ thuận với thời gian lao động. ● Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, kỹ năng và kiến thức chuyên môn sâu rộng. Loại lao động này không chỉ tạo ra giá trị theo bản năng lao động mà còn tạo ra giá trị thặng dư, tức là giá trị vượt quá giá trị cần thiết để tái sản xuất sức lao động. Ví dụ: ● Công nhân làm việc trong nhà máy dệt chỉ cần thực hiện các thao tác đơn giản như lắp đặt nguyên liệu, vận hành máy móc và kiểm tra sản phẩm. Đây là loại hình lao động đơn giản. ● Kỹ sư thiết kế máy móc cần có trình độ chuyên môn cao, kiến thức chuyên môn về cơ khí, điện tử, lập trình,... để thực hiện công việc. Đây là loại hình lao động phức tạp. Trong cùng một đơn vị thời gian, kỹ sư thiết kế máy móc sẽ tạo ra giá trị cao hơn so với công nhân làm việc trong nhà máy dệt. Do đó, hàng hóa được sản xuất ra bởi kỹ sư thiết kế máy móc sẽ có lượng giá trị cao hơn so với hàng hóa được sản xuất ra bởi công nhân làm việc trong nhà máy dệt. Câu 9: Với tư cách là chủ DN, nghiên cứu giá trị sử dụng của hàng hóa có ý nghĩa gì? Đối với chủ doanh nghiệp, nghiên cứu giá trị sử dụng của hàng hóa đóng vai trò vô cùng quan trọng, mang lại nhiều lợi ích thiết thực, cụ thể như sau: 1. Hiểu rõ nhu cầu khách hàng: Nắm bắt được những nhu cầu, mong muốn cụ thể của khách hàng đối với sản phẩm/dịch vụ. Xác định những tính năng, đặc điểm nào thực sự mang lại giá trị cho khách hàng, từ đó tập trung phát triển và hoàn thiện sản phẩm/dịch vụ. Tránh lãng phí nguồn lực vào những tính năng không cần thiết, ít được khách hàng quan tâm. 2. Tăng lợi thế cạnh tranh: Đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng, mang lại trải nghiệm sử dụng hài lòng, từ đó thu hút và giữ chân khách hàng hiệu quả. Tạo ra sản phẩm/dịch vụ khác biệt so với đối thủ cạnh tranh, thu hút sự chú ý và lựa chọn của khách hàng. Xây dựng thương hiệu uy tín, tạo dựng lòng tin và sự trung thành của khách hàng. 3. Nâng cao hiệu quả kinh doanh: Tăng tỷ lệ chuyển đổi khách hàng tiềm năng thành khách hàng thực sự. Giảm thiểu tỷ lệ hàng tồn kho, lãng phí. Tối ưu hóa chi phí sản xuất, kinh doanh. Nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 4. Phát triển sản phẩm/dịch vụ mới: Dựa trên nhu cầu và mong muốn của khách hàng, doanh nghiệp có thể đưa ra ý tưởng cho những sản phẩm/dịch vụ mới tiềm năng. Tăng khả năng sáng tạo, đổi mới, bắt kịp xu hướng thị trường. Mở rộng thị trường, tiếp cận nhiều khách hàng tiềm năng hơn. 5. Đưa ra chiến lược marketing hiệu quả: Xác định đúng đối tượng khách hàng mục tiêu, thông điệp truyền thông phù hợp. Lựa chọn kênh truyền thông, quảng cáo hiệu quả để tiếp cận khách hàng. Tăng hiệu quả của các chiến dịch marketing, tiết kiệm chi phí. Ví dụ: Một doanh nghiệp sản xuất điện thoại thông minh nghiên cứu thị trường và nhận thấy nhu cầu của khách hàng ngày càng cao đối với camera chụp ảnh. Doanh nghiệp tập trung phát triển camera với độ phân giải cao, nhiều tính năng chụp ảnh chuyên nghiệp, thu hút được sự quan tâm của khách hàng và trở thành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác. Một doanh nghiệp bán lẻ thực phẩm nghiên cứu thói quen tiêu dùng của khách hàng và nhận thấy nhu cầu mua sắm thực phẩm online ngày càng tăng. Doanh nghiệp đầu tư phát triển ứng dụng mua sắm trực tuyến, mang đến trải nghiệm mua sắm tiện lợi cho khách hàng, từ đó thu hút thêm nhiều khách hàng mới và tăng doanh thu bán hàng. Câu 10: Nghiên cứu giá trị hàng hóa có ý nghĩa gì? Nghiên cứu giá trị hàng hóa có ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực, bao gồm: Kinh tế: Hiểu rõ bản chất của giá trị: Nghiên cứu giá trị hàng hóa giúp chúng ta hiểu rõ bản chất của giá trị, là gì và được tạo ra như thế nào. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các lý thuyết kinh tế, phân tích thị trường và đưa ra các chính sách kinh tế hiệu quả. Đo lường giá trị: Nghiên cứu giá trị hàng hóa giúp chúng ta phát triển các phương pháp đo lường giá trị một cách chính xác và khách quan. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc định giá hàng hóa, dịch vụ, tài sản và các yếu tố sản xuất khác. Phân tích thị trường: Nghiên cứu giá trị hàng hóa giúp chúng ta phân tích thị trường và đưa ra dự báo về giá cả hàng hóa trong tương lai. Điều này có ý nghĩa quan trọng cho các doanh nghiệp trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh sáng suốt. Xã hội: Phân phối thu nhập: Nghiên cứu giá trị hàng hóa giúp chúng ta hiểu rõ các quy luật phân phối thu nhập trong xã hội. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các chính sách xã hội công bằng và bình đẳng. Phát triển kinh tế: Nghiên cứu giá trị hàng hóa giúp chúng ta xác định những ngành, lĩnh vực có tiềm năng phát triển cao. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của người dân. Bảo vệ môi trường: Nghiên cứu giá trị hàng hóa giúp chúng ta đánh giá tác động của hoạt động sản xuất, kinh doanh đối với môi trường. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các chính sách bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Cá nhân: Tiêu dùng thông minh: Nghiên cứu giá trị hàng hóa giúp người tiêu dùng hiểu rõ giá trị thực sự của hàng hóa, từ đó đưa ra lựa chọn mua sắm thông minh và tiết kiệm. Đánh giá đầu tư: Nghiên cứu giá trị hàng hóa giúp nhà đầu tư đánh giá tiềm năng sinh lời của các dự án đầu tư. Nâng cao nhận thức: Nghiên cứu giá trị hàng hóa giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả và tiết kiệm. Câu 11: Giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng có mối quan hệ với nhau như thế nào? Xét về lao động cụ thể, mỗi người sản xuất hàng hóa sản xuất cái gì, như thế nào là việc riêng của họ. Vì vậy, lao động đó mang tính chất tư nhân và lao động cụ thể của họ là biểu hiện của lao động tư nhân. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Còn Xét về lao động trừu tượng, khi gạt bỏ các hình thức cụ thể, thì lao động của người sản xuất hàng hóa chỉ được xét là một bộ phận của toàn bộ lao động xã hội, nên nó có tính chất xã hội. Phân công lao động xã hội tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất hàng hóa. Họ Làm việc cho nhau thông qua trao đổi hàng hóa.Từ đó, tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa phản ánh tính chất tư nhân và tính chất xã hội của lao động của người sản xuất hàng hóa. Hai tính chất này, mâu thuẫn với nhau: Thứ nhất, Sản phẩm do người sản xuất hàng hóa tư nhân tạo ra chưa chắc đã ăn khớp với nhu cầu của xã hội ( Ví dụ: tôi là nhà sx tư nhân, tôi sản xuất được 5 triệu đôi dép/năm, số lượng dép đó chưa chắc đã phù hợp với nhu cầu của xã hội). Khi sản xuất vượt quá nhu cầu của xã hội, sẽ có một số dép không bán được, tức không thực hiện được giá trị. Vậy, tính chất tư nhân và tính chất xã hội mâu thuẫn với nhau. Lý do thứ hai là, mức tiêu hao lao động cá biệt của người sản xuất hàng hóa cao hơn so với mức tiêu hao mà xã hội có thể chấp nhận được. Ví dụ: Tôi sản xuất dép, theo tính toán về chi phí sản xuất, 1 đôi dép của tôi phải bán ra với giá thành 2 triệu/ đôi mới có lãi. Nhưng với mức giá đó, xã hội không chấp nhận được, người tiêu dùng có thể mua dép trung quốc với giá vài trăm nghìn đồng mà được đôi dép với mẫu mã cũng rất bắt mắt. Khi đó hàng hóa cũng không bán được hoặc bán được nhưng không thu hồi đủ chi phí lao động bỏ ra. Vậy, tính chất tư nhân và tính chất xã hội mâu thuẫn với nhau ở chỗ đó Hậu quả, việc mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là khủng hoảng “sản xuất thừa”. Đây là mầm mống của mọi mâu thuẫn trong nền sản xuất hàng hóa. Chính vì những mâu thuẫn đó mà sản xuất hàng hóa vừa vận động phát triển, vừa tiềm ẩn khả năng khủng hoảng. Câu 12: Sự phân công lao động hiểu theo nghĩa rộng nhất sẽ chia nền kinh tế thành mấy ngành, đó là những ngành nào? Sự phân công lao động theo nghĩa rộng nhất chia nền kinh tế thành ba ngành chính: - - Ngành I (Nông nghiệp): Bao gồm các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, khai thác khoáng sản, đánh bắt thủy sản,... Cung cấp nguyên liệu cho các ngành khác và đáp ứng nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm cho con người. Ngành II (Công nghiệp): Bao gồm các hoạt động chế biến nguyên liệu thành sản phẩm hoàn chỉnh hoặc bán thành phẩm. Gồm các ngành như công nghiệp nặng (sản xuất máy móc, thiết bị), công nghiệp nhẹ (dệt may, da giày), công nghiệp chế biến thực phẩm, ... Góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế và đáp ứng nhu cầu vật chất ngày càng cao của con người. Ngành III (Dịch vụ): Bao gồm các hoạt động phi vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần và đời sống của con người. Gồm các lĩnh vực như giáo dục, y tế, du lịch, vận tải, bưu điện, viễn thông, tài chính, ngân hàng, ... Phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế hiện đại, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Ngoài ra, một số nhà kinh tế còn chia ngành dịch vụ thành hai nhóm: - Dịch vụ sản xuất: Bao gồm các hoạt động trực tiếp tạo ra sản phẩm vật chất như sửa chữa, bảo dưỡng máy móc, thiết bị, vận tải hàng hóa,... Dịch vụ phi sản xuất: Bao gồm các hoạt động phi vật chất như giáo dục, y tế, du lịch, giải trí,... Sự phân công lao động theo nghĩa rộng nhất là một quá trình khách quan, tất yếu của sự phát triển kinh tế xã hội. Nó góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống con người. Câu 13: Tại sao nói sự tách biệt giữa các chủ thể kinh tế chỉ là tương đối mà không phải tuyệt đối Sự tách biệt giữa các chủ thể kinh tế chỉ là tương đối mà không phải tuyệt đối vì những lý do sau: 1. Mối quan hệ tương tác và phụ thuộc lẫn nhau: Các chủ thể kinh tế dù có độc lập về mặt kinh tế nhưng vẫn có mối quan hệ tương tác và phụ thuộc lẫn nhau trong hoạt động sản xuất và kinh doanh. Ví dụ: Doanh nghiệp A sản xuất nguyên liệu cho doanh nghiệp B, doanh nghiệp B sản xuất thành phẩm cung cấp cho doanh nghiệp C,... Sự phụ thuộc lẫn nhau này tạo nên sự kết nối giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế. 2. Ảnh hưởng lẫn nhau: Hoạt động của mỗi chủ thể kinh tế đều có thể ảnh hưởng đến hoạt động của các chủ thể khác. Ví dụ: Khi giá cả nguyên liệu tăng cao, doanh nghiệp A sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến việc tăng giá thành phẩm cung cấp cho doanh nghiệp B, từ đó ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa tiêu dùng của người tiêu dùng. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 3. Sự tác động của Nhà nước: Nhà nước thông qua các chính sách kinh tế, luật pháp có thể điều chỉnh hoạt động của các chủ thể kinh tế, tạo sự liên kết và hợp tác giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Ví dụ: Chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, chính sách thuế, chính sách tiền tệ,... 4. Quá trình toàn cầu hóa: Trong xu thế toàn cầu hóa, các chủ thể kinh tế ngày càng kết nối chặt chẽ với nhau trên phạm vi quốc tế. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh tế thường xuyên diễn ra xuyên quốc gia, tạo nên sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế. Ví dụ: Doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất khẩu sản phẩm sang các quốc gia khác; người tiêu dùng Việt Nam có thể mua sắm sản phẩm từ các quốc gia khác. 5. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật: Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin, tạo điều kiện cho việc kết nối và trao đổi thông tin giữa các chủ thể kinh tế một cách nhanh chóng và hiệu quả. Góp phần thúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế. Ví dụ: Doanh nghiệp có thể bán hàng trực tuyến cho khách hàng trên toàn thế giới. Ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ thanh toán trực tuyến cho khách hàng. Câu 14: Theo bạn, tiền cất trữ thì giá trị của nó có được bảo tồn không? Tại sao? Giá trị của tiền cất trữ có thể được bảo tồn nhưng không hoàn toàn. Tiền cất trữ có chức năng lưu giữ giá trị qua thời gian, giúp người nắm giữ có thể sử dụng nó trong tương lai để mua sắm hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, giá trị của tiền cất trữ có thể bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố, bao gồm: Lạm phát: Khi lạm phát tăng, giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên, đồng nghĩa với việc một đơn vị tiền tệ có thể mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây. Do đó, giá trị thực của tiền cất trữ sẽ bị giảm đi.Nếu bạn cất trữ 100.000 đồng ngày hôm nay, nhưng tỷ lệ lạm phát trung bình hàng năm là 5% trong 10 năm tới, thì giá trị thực của 100.000 đồng sau 10 năm sẽ chỉ còn 62.092 đồng. Lãi suất: Lãi suất là khoản bồi thường mà người cho vay nhận được từ người vay. Khi lãi suất tăng, người nắm giữ tiền cất trữ có thể kiếm được nhiều tiền hơn bằng cách gửi tiết kiệm hoặc cho vay. Tuy nhiên, lãi suất cũng có thể ảnh hưởng đến giá trị của tiền cất trữ theo cách khác. Ví dụ, nếu lãi suất tăng cao hơn tỷ lệ lạm phát, thì giá trị thực của tiền cất trữ sẽ được bảo tồn, thậm chí có thể tăng lên. Biến động tỷ giá hối đoái: Nếu giá trị của đồng tiền mà bạn cất trữ giảm so với các đồng tiền khác, thì giá trị của tiền cất trữ của bạn sẽ bị giảm đi khi bạn đổi sang các đồng tiền khác.Ví dụ: Nếu bạn cất trữ 100 USD ngày hôm nay, nhưng tỷ giá USD/VND giảm 10% trong 1 năm tới, thì bạn sẽ chỉ còn nhận được 90.000 VND khi đổi USD sang VND. Rủi ro chính trị và kinh tế: Những sự kiện chính trị và kinh tế bất ổn có thể dẫn đến giảm giá trị của đồng tiền, từ đó ảnh hưởng đến giá trị của tiền cất trữ. Ví dụ: Nếu ngân hàng mà bạn gửi tiền tiết kiệm bị phá sản, bạn có thể mất một phần hoặc toàn bộ số tiền gửi. Do đó, mặc dù tiền cất trữ có thể giúp bảo tồn giá trị tài sản của bạn qua thời gian, nhưng nó không phải là một phương pháp hoàn toàn an toàn. Để bảo vệ giá trị tài sản của mình, bạn nên cân nhắc đầu tư vào các kênh khác nhau, chẳng hạn như bất động sản, cổ phiếu, trái phiếu,... Ngoài ra, bạn cũng cần lưu ý rằng giá trị của tiền cất trữ còn phụ thuộc vào mục tiêu tài chính của bạn. Nếu bạn chỉ cần cất trữ tiền trong một thời gian ngắn, thì rủi ro biến động giá trị sẽ thấp hơn. Tuy nhiên, nếu bạn cần cất trữ tiền trong một thời gian dài, thì bạn cần phải cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố rủi ro liên quan để lựa chọn phương thức cất trữ phù hợp. Câu 15: Theo bạn, tiền ảo khác với tiền giấy như thế nào? Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Chủ đề 2: Câu 1: Hãy kể tên các yếu tố của thị trường. Bạn nghĩ ntn khi có quan điểm cho rằng các yếu tố thị trường Việt Nam chưa đầy đủ? Có những yếu tố chủ yếu sau: - độc lập của các chủ thể trong nền kinh tế hệ thống đồng bộ các thị tường và thể chế tương ứng hệ thống giá cả được xác lập thông qua tương quan cung-cầu quyết định sự vận hành của nền kinh tế thị trường cơ chế căn bản vận hành của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh tự do vai trò điều tiết nền kinh tế của nhà nước Bạn nghĩ ntn: Câu 2: Tại sao nói thị trường thực hiện giá trị hàng hoá là điều kiện, môi trường cho sản xuất phát triển? 1. **Tích cực hóa sự sáng tạo và năng suất:** Trong môi trường cạnh tranh của thị trường, các doanh nghiệp phải liên tục cải tiến và tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới để thu hút khách hàng. Điều này thúc đẩy sự sáng tạo và nâng cao năng suất trong quá trình sản xuất. 2. **Thúc đẩy hiệu quả sử dụng tài nguyên:** Với áp lực cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải tìm cách tối ưu hóa sử dụng tài nguyên của mình. Điều này dẫn đến việc tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng và công nghệ sản xuất tiên tiến hơn để giảm chi phí và tăng hiệu quả. 3. **Đáp ứng nhu cầu của thị trường:** Thị trường thường phản ánh nhu cầu của người tiêu dùng. Điều này khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm mà người tiêu dùng muốn mua. Việc này giúp đảm bảo rằng sản xuất được tập trung vào những gì thực sự được thị trường yêu cầu. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 4. **Khuyến khích sự đầu tư và phát triển:** Khi các doanh nghiệp thấy có cơ hội để tạo ra lợi nhuận từ việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ, họ sẽ đầu tư vào nghiên cứu phát triển và mở rộng quy mô sản xuất. Thị trường là nguồn cung cấp vốn và kích thích sự đầu tư trong kinh tế. 5. **Phân phối tài nguyên hiệu quả hơn:** Thị trường giúp tài nguyên được phân phối theo cách hiệu quả nhất dựa trên cầu và cung. Các tài nguyên có thể chuyển từ những người không sử dụng hiệu quả đến những người sẵn sàng trả giá cao hơn, tạo ra lợi ích cho cả hai bên. 6. **Khuyến khích đổi mới công nghệ:** Áp lực cạnh tranh thúc đẩy việc tìm kiếm và áp dụng các công nghệ mới để tạo ra sản phẩm và dịch vụ tốt hơn. Điều này góp phần thúc đẩy sự tiến bộ công nghệ và thúc đẩy sự phát triển Tóm lại, thị trường thực hiện giá trị hàng hóa và tạo điều kiện cho sản xuất phát triển bởi vì nó thúc đẩy sự cạnh tranh, sáng tạo, hiệu quả sử dụng tài nguyên và đáp ứng nhu cầu của thị trường. Điều này tạo ra môi trường kinh doanh động và khuyến khích sự phát triển bền vững trong nền kinh tế Câu 3: Tại sao nói thị trường kích thích sự sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, tạo ra cách thức phân bổ các nguồn lực hiệu quả trong nền kinh tế? Câu 4: Tại sao khi nói thị trường giúp gắn kết nền kinh tế thành một chính thể, gắn kết nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới 1. Khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng: Thị trường cho phép người tiêu dùng và doanh nghiệp lựa chọn từ một loạt các sản phẩm và dịch vụ đa dạng. Điều này khuyến khích các doanh nghiệp cạnh tranh và phát triển các sản phẩm mới, dịch vụ mới để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. 2. Cạnh tranh thúc đẩy cải tiến: Trong môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp phải cải tiến và tạo ra giá trị để thu hút khách hàng. Sự cạnh tranh thúc đẩy sự sáng tạo và tìm kiếm các cách mới để cung cấp sản phẩm và dịch vụ tốt hơn. 3. Khuyến khích nỗ lực cá nhân: Thị trường tạo ra cơ hội để cá nhân và doanh nghiệp thể hiện năng lực và nỗ lực của họ. Sự thành công và phát triển kinh doanh thường phụ thuộc vào năng lực, ý tưởng sáng tạo và nỗ lực của mỗi người. 4. Phân bổ nguồn lực dựa trên sự hiệu quả: Thị trường cho phép nguồn lực được phân bổ dựa trên cơ hội thị trường và khả năng sản xuất. Các doanh nghiệp và cá nhân có khả năng tốt hơn trong sản xuất một mặt hàng cụ thể thường có lợi thế cạnh tranh và thu được lợi nhuận hơn. 5. Khả năng thích nghi với biến đổi:Thị trường có khả năng thích nghi tốt với sự biến đổi trong kinh tế và xã hội. Các biến đổi này có thể đến từ sự thay đổi trong công nghệ, thị trường, hoặc chính trị. Thị trường cho phép các nguồn lực được chuyển đổi từ các ngành công nghiệp cũ sang các ngành mới phù hợp với tình hình thay đổi Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng thị trường cũng có thể có những hạn chế, như tạo ra sự bất công xã hội hoặc không đảm bảo quyền truy cập công bằng đối với các dịch vụ cơ bản. Điều này đòi hỏi sự can thiệp của chính phủ và các cơ chế điều chỉnh để đảm bảo rằng thị trường hoạt động theo cách tạo lợi ích tốt nhất cho xã hội. Câu 6: Kể tên các nguồn lực kinh tế? Tại sao trong nền KTTT, thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ nguồn lực? 1. **Sức lao động:** Đây là nguồn lực của các lao động viên và công nhân, bao gồm cả kiến thức, kỹ năng và năng lực để tham gia vào quá trình sản xuất. 2. **Tài nguyên tự nhiên:** Bao gồm các tài nguyên như đất, khoáng sản, nước, dầu mỏ, cây trồng và động vật. Các tài nguyên này cung cấp nguyên liệu và năng lượng cho quá trình sản xuất. 3. **Vốn:** Đây là nguồn tài chính mà doanh nghiệp và cá nhân sử dụng để mua thiết bị, phát triển dự án và đầu tư vào hoạt động kinh doanh. 4. **Công nghệ:** Công nghệ bao gồm các quy trình, phương pháp, kiến thức và kỹ thuật mới để tối ưu hóa quá trình sản xuất và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao. Trong nền kinh tế thị trường, thị trường đóng vai trò quyết định quan trọng trong việc phân bố các nguồn lực. Điều này xảy ra vì: Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 - **Cạnh tranh:** Sự cạnh tranh trên thị trường thúc đẩy sự tối ưu hóa sử dụng nguồn lực. Các doanh nghiệp cạnh tranh để tạo ra sản phẩm và dịch vụ tốt nhất với giá cả hợp lý, từ đó cải thiện cách họ sử dụng các nguồn lực. - **Cung cầu:** Thị trường tạo ra cơ hội cho việc cân nhắc cung cấp và cầu cần thiết. Khi nhu cầu tăng cao, thị trường kích thích sự tăng sản xuất và đầu tư để đáp ứng nhu cầu. - **Giá cả và giá trị:** Thị trường xác định giá cả của các sản phẩm và dịch vụ dựa trên sự cạnh tranh và tương tác giữa người mua và người bán. Điều này hướng dẫn nguồn lực vào những lĩnh vực nơi có nhu cầu cao và giá trị tốt nhất. - **Tự do kinh doanh:** Thị trường thể hiện tinh thần tự do kinh doanh, cho phép doanh nghiệp và cá nhân quyết định cách họ sử dụng nguồn lực của mình để tạo ra giá trị và lợi nhuận. Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường, thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định cách phân bố các nguồn lực kinh tế như lao động, tài nguyên, vốn và công nghệ để tối ưu hóa sản xuất và đáp ứng nhu cầu của xã hội Câu 7: Tại sao nói KTT là nền kinh tế mở? Kinh tế thị trường được gọi là "nền kinh tế mở" vì nó dựa trên nguyên tắc của tự do kinh doanh và sự tương tác giữa các thực thể kinh doanh, cá nhân và tổ chức. Khái niệm "mở" ở đây liên quan đến sự kết nối và tương tác rộng rãi của nền kinh tế với các thị trường, nguồn cung cấp và người tiêu dùng ở cả trong nước và nước ngoài. Dưới đây là một số lý do vì sao kinh tế thị trường được xem là nền kinh tế mở: -Tự do thị trường: Kinh tế thị trường cho phép doanh nghiệp và người tiêu dùng tương tác và quyết định về sản xuất, tiêu dùng, đầu tư và thương mại một cách tự do. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để thị trường có thể kết nối với các nền kinh tế khác và tham gia vào giao thương quốc tế. -Thương mại quốc tế: Kinh tế thị trường khuyến khích sự tham gia vào thị trường quốc tế. Doanh nghiệp có khả năng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài và nhập khẩu sản phẩm từ nước khác để đáp ứng nhu cầu trong nước. -Cạnh tranh: Kinh tế thị trường thúc đẩy cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Sự cạnh tranh này không chỉ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ, mà còn thúc đẩy việc cải tiến công nghệ và hiệu suất sản xuất. Điều này tạo ra sự hấp dẫn đối với các đối tác quốc tế và giúp nền kinh tế liên kết với nền kinh tế toàn cầu. -Luồng vốn đầu tư: Kinh tế thị trường thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài và khuyến khích sự đầu tư trong nước. Sự kết nối với thị trường toàn cầu tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội đầu tư và phát triển. -Sự đa dạng hóa: Kinh tế thị trường thường có sự đa dạng hóa trong nguồn cung cấp, sản phẩm và dịch vụ. Điều này giúp giảm rủi ro cho nền kinh tế khi một lĩnh vực hoặc thị trường cụ thể gặp khó khăn. Tóm lại, khái niệm "nền kinh tế mở" trong kinh tế thị trường thể hiện sự mở cửa và kết nối của nền kinh tế với thị trường quốc tế, thúc đẩy sự giao thương, đầu tư và cạnh tranh Câu 8: Tại sao nền kinh tế thị trường có thể tạo ra những vi phạm về môi trường, cạn kiệt tài nguyên và phân hóa giàu nghèo. 1. **Ưu tiên lợi nhuận:** Trong kinh tế thị trường, việc tối ưu hóa lợi nhuận thường là mục tiêu chính củacác doanh nghiệp. Điều này có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp không tuân thủ các quy định môi trườngđể tiết kiệm chi phí sản xuất. Khi không có sự giám sát hoặc quy định nghiêm ngặt, vi phạm môi trường có thể xảy ra. 2. **Hiệu ứng bên ngoài không được tính đến:** Trong môi trường thị trường, một số hệ quả môi trường không được phản ánh trong giá cả của hàng hóa và dịch vụ. Điều này dẫn đến việc người sản xuất và người tiêu dùng không phải trả giá thực sự cho việc sử dụng tài nguyên và gây ra ô nhiễm, làm cho việc cạn kiệt tài nguyên và gây hại cho môi trường trở nên không rõ ràng. 3. **Khoản đầu tư ban đầu lớn:** Một số giải pháp bảo vệ môi trường có thể yêu cầu một khoản đầu tư ban đầu lớn, nhưng lợi ích của chúng thường không thể thấy ngay. Trong kinh tế thị trường, việc đầu tư nguồn lực và tài chính vào Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 các giải pháp bảo vệ môi trường có thể bị hạn chế nếu không có sự hỗ trợ hoặc khuyến khích từ chính phủ hoặc xã hội. 4. **Cạnh tranh gay gắt:** Sự cạnh tranh trong môi trường kinh tế thị trường có thể đẩy các doanh nghiệp và người sản xuất đến việc tìm kiếm cách tiết kiệm chi phí và tối ưu hóa quá trình sản xuất. Điều này có thể dẫn đến việc sử dụng tài nguyên không bền vững hoặc gây hại cho môi trường. 5. **Phân hóa giàu nghèo:** Kinh tế thị trường không đảm bảo rằng tất cả mọi người có cơ hội tương đồng để tiếp cận nguồn lực và lợi ích kinh tế. Khi người giàu có có thể tận dụng tốt hơn các cơ hội kinh doanh và đầu tư, việc phân hóa giàu nghèo có thể gia tăng Tóm lại, mặc dù kinh tế thị trường có nhiều ưu điểm, nhưng nó cũng có thể dẫn đến các vấn đề về môi trường, cạn kiệt tài nguyên và phân hóa giàu nghèo nếu không có sự quản lý và điều chỉnh thích hợp từ phía chính phủ, cơ quan quản lý và xã hội Câu 9: Tại sao tỏng nền kinh tế thị trường, người nào hao phí lao động cá biệt càng thấp thì càng phát triển và ngược lại? 1. **Hiệu quả lao động:** Trong môi trường cạnh tranh, người làm việc hiệu quả hơn và ít hao phí lao động sẽ có khả năng nắm bắt cơ hội và hoàn thành công việc tốt hơn. Điều này giúp họ phát triển nghề nghiệp và đạt được kết quả cao hơn. 2. **Cơ hội tạo giá trị:** Người tập trung vào công việc có giá trị thực sự và đóng góp tích cực hơn cho xã hội thường được thúc đẩy trong môi trường kinh tế thị trường. Việc họ tạo ra giá trị thực sự làm cho họ có cơ hội phát triển và thúc đẩy sự thành công. 3. **Tích cực hóa học tập và phát triển cá nhân:** Người tập trung vào việc học hỏi và phát triển bản thân có khả năng thích nghi và cải thiện kỹ năng của mình theo thời gian. Điều này giúp họ trở thành nguồn nhân lực giá trị và tạo ra lợi ích tối đa từ năng lực của mình. 4. **Tạo giá trị cho doanh nghiệp và xã hội:** Người làm việc hiệu quả và không hao phí lao động thường tạo ra giá trị cho doanh nghiệp và xã hội. Họ giúp tối ưu hóa quá trình sản xuất và cung cấp giá trị tốt hơn cho khách hàng, đóng góp vào sự phát triển và thịnh vượng của tất cả. 5. **Thuận lợi trong sự cạnh tranh:** Trong môi trường cạnh tranh, người có hiệu quả lao động cao hơn thường dễ dàng thu hút cơ hội việc làm tốt hơn, được thăng tiến và tạo ra sự nổi bật trong thị trường lao động. Tuy nhiên, việc có hao phí lao động thấp không phải lúc nào cũng đi đôi với phát triển và thành công. Một số trường hợp khác cũng cần xem xét như yếu tố xã hội, giáo dục, và cơ hội công việc có thể ảnh hưởng đến việc phát triển cá nhân trong môi trường kinh tế thị trường. Câu 10: Thế nào là điều tiết sản xuất, kết quả của điều tiết sản xuất là gì? Thế nào là điều tiết lưu thông, kết quả của lưu thông hàng hóa? Trong sản xuất, thông qua sự biến động của giá cả, người sản xuất sẽ biết đượctình hình cung - cầu về hàng hóa đó và quyết định phương án sản xuất. Nếu giá cảhàng hóa bằng hoặc lớn hơn giá trị thì việc sản xuất nên được tiếp tục, mở rộng. Tưliệu sản xuất, sức lao động sẽ được tự phát dịch chuyển vào ngành đang có giá cảcao. c2: Trong sản xuất, thông qua giá cả thị trường, người sản xuất sẽ biết được nên đầu tư vàongành nào, sản xuất sản phẩm gì để thu lợi nhuận cao, từ đó chuyển hướng sản xuất từngành lợi nhuận thấp sang ngành lợi nhuận cao Ví dụ: Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay, ngoài xã hội có hiện tượng người sản xuấtluôn luôn đổi nghề hoặc ngành. Khi chưa có dịch Covid, giá khẩu trang khá rẻ. Tuynhiên, khi dịch Covid bùng phát, giá khẩu trang tăng lên rất cao. Vì thế, một số nhà máychuyển sang sản xuất khẩu trang. Trong lưu thông, quy luật giá trị điều tiết hàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến nơicó giá cả cao, từ nơi cung lớn hơn cầu đến nơi cung nhỏ hơn cầu. Thông qua mệnhlệnh của giá cả thị trường, hàng hoá ở nơi có giá cả thấp được thu hút, chảy đếnnơi có giá cả cao hơn, góp phần làm cho cung - cầu hàng hoá giữa các vùng đượccân bằng, phân phối lại thu nhập giữa các vùng, miền, điều chỉnh sức mua của thịtrường (nếu giá cao thì mua ít, giá thấp thì mua nhiều)... Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 c2: Trong lưu thông, thông qua mệnh lệnh của giá cả thị trường, người bán hàng hóa biếtđược hàng hóa ở đâu bán được giá cao, qua đó điều tiết hàng hóa từ nơi giá thấp sang giácao Ví dụ: Tại Hải Dương vào dịp hè lượng vải thiều rất dồi dào nhưng nếu chỉ bán ở địaphương thì sẽ không thu được lợi nhuận cao vì giá thấp do cung lớn hơn cầu. Do đó, tiểuthương và người nông dân có xu hướng vận chuyển vải thiều đến các tỉnh thành khác, cácquốc gia khác có cung vải thiều nhỏ hơn cầu để bán được giá cao hơn, thu về lợi nhuậnlớn hơn. Như vậy, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa sẽ giúp phân phối lại cácyếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động từ ngành sản xuất này sang ngành sản xuấtkhác đồng thời giúp phân phối lại nguồn hàng từ nơi này sang nơi khác. Câu 11: Tại sao quy luật giá trị kích thích người sản xuất luôn tìm cách đổi mới kỹ thuật theo hướng hiện đại? VDMH? Trên thị trường hàng hóa được trao đổi theo giá trị xã hội. Để đứng vữngtrong cạnh tranh và tránh không bị phá sản, thua lỗ thì người sản xuất luôn tìmcách làm cho hao phí lao động các biệt nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hộicần thiết thì như vậy mới thu được lợi nhuận, bù đắp được chi phí sản xuất hànghóa, tiếp tục có vốn đầu tư vào sản xuất. Muốn vậy, người sản xuất phải cải tiến kĩthuật, áp dụng công nghệ mới, đổi mới phương pháp quản lý, thực hiện tiết kiệm,…Kết quả là lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, năng suất lao động xã hộităng lên, chi phí sản xuất hàng hóa giảm xuống. Trong lưu thông để bán được nhiều hàng hóa, người sản xuất phải khôngngừng nâng cao chất lượng phục vụ; quảng cáo sản phẩm và kèm theo nhiều chương trình khuyến mại thu hút được nhiều khách hàng làm cho quá trình lưuthông được hiệu quả cao hơn, nhanh chóng thuận tiện với chi phí thấp nhất. kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nhằm tăng năng suất lao độngĐể có giá trị cá biệt hàng hóa nhỏ hơn hoặc bằng giá trị xã hội. Người sản xuất phải cảitiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, đổi mới phương pháp quản lý, thực hiện tiếtkiệm,... Kết quả năng suất lao động xã hội tăng lên, chi phí sản xuất hàng hóa giảmxuống. Ví dụ: Trong lĩnh vực kinh doanh điện thoại di động, để hạ thấp hao phí lao động cá biệt,các hãng điện thoại không ngừng đổi mới công nghệ, cải tiến kỹ thuật, đổi mới phươngthức quản lý… Điều này đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển, giá thành sản phẩmđiện thoại ngày càng rẻ hơn, chất lượng, tính năng vượt trội hơn. Hơn nữa, ngoài việc đổimới kỹ thuật, công nghệ sản xuất, dịch vụ chăm sóc, hậu mãi khách hàng cũng ngày càngtốt hơn. Thứ ba, phân hóa những người sản xuất thành những người giàu, người nghèo một cáchtự nhiên Trong cạnh tranh, người sản xuất nào nhạy bén với thị trường, có hao phí cá biệt thấp hơnmức hao phí chung của xã hội sẽ có thu nhập cao hơn giá trị xã hội sẽ có thu nhập caotrở nên giàu có. Ngược lại, nếu giá trị cá biệt cao hơn giá trị xã hội, dẫn đến thua lỗ, phásản c2:Trong quá trình cạnh tranh, những người sản xuất nhạy bén với thị trường,trình độ năng lực giỏi, sản xuất với hao phí cá biệt thấp hơn mức hao phí chungcủa xã hội sẽ trở nên giàu có. Ngược lại, những người do hạn chế về vốn, kinhnghiệm sản xuất thấp kém, trình độ công nghệ lạc hậu thì giá trị cá biệt sẽ cao hơngiá trị xã hội và dẫn đến tình trạng thua lỗ, dẫn đến phá sản, thậm chí phải đi làmthuê. Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác dụng đào thải cái lỗi thời, lạc hậu, kíchthích sự tiến bộ, làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, vừa có tácdụng lựa chọn, đánh giá người sản xuất, bảo đảm sự bình đẳng người sản xuất.Tuy nhiên, quy luật giá trị tồn tại những tác động tiêu cực vì do chạy theo lợi ích cánhân, đầu tư gian lận, xuất hiện những người sản xuất làm ra sản phẩm giá thànhrẻ, chất lượng kém bán tràn lan trên thị trường ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tiềnbạc người tiêu dùng Ví dụ: Trong xã hội Việt Nam ngày nay, những doanh nhân không nhạy bén với thịtrường, không áp dụng cải tiến kỹ thuật,… có hao phí cá biệt lớn hơn giá trị xã hội, họ trởnên thua lỗ và phá sản, trở thành người làm công cho người khác. Và ngược lại, cũng cónhững người nhạy bén với thị trường, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sảnxuất, họ có hao phí cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, do đó trở nên giàu có. Câu 12: Sự tác động cung - cầu có tác động như thế nào đến hoạt động sản xuất? cCho VDMH Nhìn chung, quy luật cung - cầu có tác dụng điều tiết quan hệ giữa sản xuất và lưu thông hàng hoá; làm thay đổi cơ cấu và quy mô thị trường, ảnh hưởng tới giá cả của hàng hóa. Căn cứ vào quan hệ cung - cầu, có thể dự đoán xu thế biến động của giá cả. Ở đâu có thị trường thì ở đó quy luật cung - cầu tồn tại và hoạt động một cách khách quan. Nếu nhận thức được chúng thì có thể vận dụng để tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng có lợi cho quá trình sản xuất.Nhà nước có thể vận dụng quy luật cung - cầu thông qua các chính sách, các biện pháp kinh tế như giá cả, lợi nhuận, tín dụng, hợp đồng kinh tế, thuế, thay đổi cơ cấu tiêu dùng... để tác động vào các hoạt động kinh tế, duy trì những tỷ lệ cân đối cung - cầu một Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 cách lành mạnh và hợp lý. Cụ thể, quy luật cung cầu đối với Nhà nước, nhà sản xuất kinh doanh , người tiêu dùng và thị trường chứng khoán có những tác dụng sau : -Đối với Nhà nước : Quy luật cung cầu có tác dụng lớn đối với nhà nước, hỗ trợ điều chỉnh tình hình nền kinh tế. Nếu cầu vượt cung, nhà nước sẽ thực hiện các biện pháp điều chỉnh để tăng nguồn cung ra thị trường. Ngoài ra, nhà nước cũng có thể sử dụng biện pháp điều tiết và tìm ra kẻ đầu cơ. -Đối với nhà sản xuất, kinh doanh: Nhà sản xuất, kinh doanh cũng có thể áp dụng quy luật cung cầu cho hoạt động của mình. Nếu cầu vượt cung, nghĩa là giá hàng hóa đang cao hơn giá trị thực tế, nhà sản xuất tìm cách tăng gia sản xuất để tăng lợi nhuận thu về. Khi cung vượt cầu, nghĩa là giá hàng hóa thấp hơn giá trị thực tế, nhà sản xuất sẽ tìm cách thu hẹp sản xuất để tối ưu khoản chi phí phải bỏ ra. -Đối với người tiêu dùng: Với dấu hiệu cầu vượt cung, mức giá đang cao nên người tiêu dùng giảm hoạt động mua sắm. Với dấu hiệu cung vượt cầu, giá đang thấp nên người tiêu dùng tăng hoạt động mua sắm. -Đối với thị trường chứng khoán, quy luật cung cầu thể hiện sự điều chỉnh lượng cung và lượng cầu trên thị trường để xác định mức giá cân bằng với lượng giao dịch. Ví dụ: Câu 13: Tại sao nói cạnh tranh là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội? *Quy luật Cạnh tranh là gì? Bất kỳ một doanh nghiệp nào tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh một loại hàng hoá nào đó trên thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh. Đây là một điều tất yếu và là đặc trưng cơ bản nhất của cơ chế thị trường. Canh tranh phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Khái niệm cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày dưới nhiều góc độ khác nhau trong các giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế xã hội. Theo Marx “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Nội dung của Quy luật cạnh tranh là: Trong nền sản xuất hàng hóa, sự cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa người sản xuất và người tiêu dùng là một tất yếu khách quan, là yêu cầu thường xuyên đối với những người sản xuất hàng hóa. Quy luật cạnh tranh xuất phát từ bản chất của nền sản xuất hàng hóa, của Quy luật giá trị. Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể diễn ra giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Ví dụ: người sản xuất thì muốn bán được hàng hóa với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được hàng hóa với giá ro; Hoặc giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng để mua được hàng hóa với giá ro hơn, chất lượng hơn; Hoặc giữa người sản xuất với người sản xuất nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, như điều kiện về vốn, lao động, nguồn nguyên liệu, thị trường, giành nơi đầu tư có lợi… để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Trong cuộc cạnh tranh này người ta có thể dùng nhiều biện pháp khác nhau. Chẳng hạn, để giành giật thị trường tiêu thụ, họ có thể dùng biện pháp cạnh tranh giá cả như giảm giá cả hàng hóa để đánh bại đối thủ, hoặc cạnh tranh phi giá cả như dùng thông tin, quảng cáo sản phẩm, quảng cáo dây chuyền sản xuất… để kích thích người tiêu dùng. Vai trò của quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:Trong nền kinh tế kế hoạch hoá khái niệm cạnh tranh hầu như không tồn tại, song từ khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi, vận động theo cơ chế thị trường thị cũng là lúc cạnh tranh và quy luật cạnh tranh được thừa nhận, vai trò của cạnh tranh ngày càng được thể hiện rõ nét hơn: Đối với m>t doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Cạnh tranh là một điều bất khả kháng trong nền kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp, các nhà kinh doanh dịch vụ khi tham gia thị trường buộc phải chấp nhận sự cạnh tranh. Cạnh tranh có thể coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà các doanh nghiệp không thể lẩn tránh và phải tìm mọi cách để vươn lên, chiếm ưu thế Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Cạnh tranh khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ mới, hiện đại , tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao. Cạnh tranh khốc liệt sẽ làm cho doanh nghiệp thể hiện được khả năng “ bản lĩnh” của mình trong quá trình kinh doanh. Nó sẽ làm cho doanh nghiệp càng vững mạnh và phát triển hơn nếu nó chịu được áp lực cạnh tranh trên thị trường. Chính sự tồn tại khách quan và sự ảnh hưởng của cạnh tranh đối với nền kinh tế nói chung và đến từng doanh nghiệp nói riêng nên việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường Như vậy cạnh tranh buộc các nhà dịch vụ phải luôn tìm cách nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng, của thị trường. Canh tranh gây nên sức ép đối với các doanh nghiệp qua đó làm cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn. Đối với người tiêu dùng Nhờ có cạnh tranh, người tiêu dùng nhận được các dịch vụ ngày càng đa dạng, phong phú hơn. Chất lượng của dịch vụ được nâng cao trong khi đó chi phí bỏ ra ngày càng thấp hơn. Cạnh tranh cũng làm quyền lợi của người tiêu dùng được tôn trọng và quan tâm tới nhiều hơn.Trên thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng diễn ra gay gắt thì người được lợi nhất là khách hàng. Khi có cạnh tranh thì người tiêu dùng không phải chịu một sức ép nào mà còn được hưởng những thành quả do cạnh tranh mang lại như: chất lượng sản phẩm tốt hơn, giá bán thấp hơn, chất lượng phục vụ cao hơn… Đồng thời khách hàng cũng tác động trở lại đối với cạnh tranh bằng những yêu cầu về chất lượng hàng hoá, về giá cả, về chất lượng phục vụ… Khi đòi hỏi của người tiêu dùng càng cao làm cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt hơn để giành được nhiều khách hàng hơn. Đối với nền kinh tế – xã h>i triển có khả năng cạnh tranh cao. Tuy nhiên ở đây cạnh tranh phải là cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh lành mạnh, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để cùng phát triển, cùng đi lên thì mới làm cho nền kinh tế phát triển bền vững. Còn cạnh tranh độc quyền sẽ ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế, nó tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng dẫn đến mâu thuẫn về quyền lợi và lợi ích kinh tế trong xã hội, làm cho nền kinh tế không ổn định. Vì vậy, Chính phủ cần ban hành lệnh chống độc quyền trong cạnh tranh, trong kinh doanh để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Cạnh tranh hoàn hảo sẽ đào thải các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả. Do đó buộc các doanh nghiệp phải lựa chọn phương án kinh doanh có chi phí thấp nhất, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Như vậy cạnh tranh tạo ra sự đổi mới mang lại sự tăng trưởng kinh tế. Kết luận: Mặc dù quy luật cạnh tranh có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế thị trường hiện nay, nhưng nó không chỉ toàn là những ưu điểm, mà nó còn có cả những khuyết tật cố hữu mang đặc trưng của cơ chế thị trường. Cơ chế thị trường bắt buộc các doanh nghiệp phải thực sự tham gia vào cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Chính điều này đòi hỏi cần phải có sự quản lý của nhà nước, đảm bảocho các doanh nghiệp có thể tự do cạnh tranh một cách lành mạnh có hiệu quả. Ví dụ thực tế: + Coca cola và pepsi là hai ông lớn trong ngành đồ uống giải khát đã cạnh tranh quyết liệt với nhau trong nhiều năm qua. , ….như cải tiến sản phẩm, giảm giá bán, truyền thông. +Cạnh tranh giữa các hãng điện thoại như iphone ,Samsung ,… để chiếm lĩnh được thị trường và lựa chọn người tiêu dùng thì bắt buộc các hang điện thoại phải đưa ra những sản phẩm có cải tiến,mẫu mã,những chính sách bảo hành tốt,… Câu 14: Bạn hiểu như thế nào về lạm phát kinh tế? Theo bạn lạm phát là tốt hay xấu đối với KTXH? Lạm phát kinh tế là tình trạng tăng giá cả một cách liên tục và tổng thể trong một thời gian dài.Điều này có nghĩa là giá cả của hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế tăng cao, và đồng tiền mấtgiá trị so với thời gian trước đó. Lạm phát thường được đo bằng chỉ số lạm phát, như chỉ số giá tiêu dùng (CPI), để theo dõi sự biến đổi của giá cả trong thời gian. Câu hỏi về việc liệu lạm phát có tốt hay xấu đối với xã hội là một vấn đề phức tạp và không cócâu trả lời duy nhất. Lạm phát có thể có cả tác động tích cực và tiêu cực, tùy thuộc vào mức độ và tình hình cụ thể. Tác động tích cực của lạm phát: Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 -Khuyến khích tiêu dùng và đầu tư: Trong một số trường hợp, lạm phát nhẹ có thể kích thích tiêu dùng và đầu tư. Người tiêu dùng có thể thúc đẩy mua sắm và tiêu thụ sớm hơn để tránh mất giá trị tiền, trong khi doanh nghiệp có thể được kích thích đầu tư vào dự án để tránh lạm phát tương lai. -Giúp giảm nợ công tương đối: Lạm phát có thể giảm giá trị thực của nợ công theo thời gian, làm giảm áp lực về nợ và cải thiện tình hình tài chính của chính phủ. Tác động tiêu cực của lạm phát: -Giảm giá trị tiền tệ: Lạm phát làm mất giá trị tiền tệ, làm cho mỗi đơn vị tiền tệ mất giá trị và giảm khả năng mua sắm của người dân. Điều này có thể dẫn đến sự không ổn định tài chính và kinh doanh. -Gây hại cho người tiêu dùng: Lạm phát làm tăng giá cả hàng hóa và dịch vụ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến người tiêu dùng bình thường bằng cách làm giảm khả năng mua sắm của họ và làm tăng chi phí sinh hoạt hàng ngày -Tạo ra bất ổn kinh tế: Lạm phát có thể gây ra bất ổn kinh tế với sự biến đổi không đoán trước được trong giá cả và doanh nghiệp phải đối mặt với khó khăn trong kế hoạch kinh doanh và quản lý rủi ro. -Ảnh hưởng tiêu cực đến lưu trữ giá trị: Lạm phát có thể làm giảm giá trị của tiền tiết kiệm và đầu tư, làm ảnh hưởng đến lưu trữ giá trị của người dân và doanh nghiệp Tóm lại, lạm phát có thể có cả tác động tích cực và tiêu cực đối với xã hội, và vai trò của nó phụ thuộc vào tình hình cụ thể và mức độ của lạm phát. Quản lý lạm phát là một thách thức quan trọng cho chính phủ và các nhà quản lý kinh tế để đảm bảo sự ổn định và cân bằng trong nền kinh tế Chủ đề 3: Bài làm Câu 1: Bạn hiểu như thế nào là tư bản? Tiền có phải là tư bản hay không? Tư bản có phải là CNTB không? Tự tiền có tạo ra tiền lời hay không? Tư bản: là quan hệ sản xuất của xã hội hay một giá trị để tạo ra giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê. Trong đó nhà tư bản với những nắm giữ trong khả năng chi phối thị trường cùng với các giá trị thặng dư. Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hóa, đồng thời cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản. Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định. Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản. Tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện nhất định, khi chúng được sử dụng để bóc lột lao động của người khác. Trong lưu thông hàng hóa giản đơn thì tiền được coi là tiền thông thường, vận động theo công thức: H - T - H (hàng - tiền - hàng), nghĩa là sự chuyển hóa của hàng hóa thành tiền, rồi tiền lại chuyển hóa thành hàng hóa. Ở đây, tiền tệ không phải là tư bản mà chỉ là tiền tệ thông thường với đúng nghĩa của nó. Người sản xuất hàng hóa bán hàng hóa của mình lấy tiền tệ, rồi lại dùng tiền tệ đó để mua một hàng hóa khác phục vụ cho những nhu cầu tiêu dùng nhất định của mình. Ở đây, tiền tệ chỉ là phương tiện để đạt tới một mục đích bên ngoài lưu thông. Hình thức lưu thông hàng hóa này thích hợp với nền sản xuất nhỏ của những người thợ thủ công và nông dân. Còn tiền được coi là tư bản thì vận động theo công thức: T - H - T (tiền - hàng - tiền), tức là sự chuyển hóa của tiền thành hàng hóa, rồi hàng hóa lại chuyển hóa ngược lại thành tiền. Câu 2: Mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản T-H-T’ là gì? - Giá trị thặng dư được tạo ra ở đâu: Từ công thức T-H-T’ nhiều người lầm tưởng cả sản xuất và lưu thông đều tạo ra giá trị và giá trị thặng dư nhưng trong mọi trường hợp tiền và lưu thông đều không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Nhưng giá trị thặng dư vẫn lớn lên đồng thời với lưu thông nên nảy sinh những mâu thuẫn. - Trong lưu thông có thể xảy ra hai trường hợp: + Trao đổi ngang giá: hai bên trao đổi không được lợi về giá trị, chỉ được lợi về giá trị sử dụng + Trao đổi không ngang giá: gồm 3 trường hợp TH1: Bán cao hơn giá trị, khi đó được lợi khi bán nhưng mua bị thiệt vì người bán cũng đồng thời là người mua TH2: Mua thấp hơn giá trị, khi đó được lợi khi là người bán và bị thiệt khi là người mua. TH3: Mua rẻ bán đắt. Tổng giá trị toàn xã hội không tăng lên bởi vì số giá trị mà người này được là số giá trị mà người khác bị mất Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 - Vậy lưu thông và bản thân tiền tệ trong lưu thông không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Kết luận: - Phải lấy quy luật nội tại của lưu thông tư bản để giải thích sự chuyển hóa của tiền thành tư bản, tức là lấy việc trao đổi ngang giá làm điểm xuất phát. - Sự chuyển hóa của người có tiền thành nhà tư bản phải tiến hành trong phạm vi lưu thông và đồng thời lại không phải trong lưu thông. “ Vậy tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải lưu thông”. Đó là mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản. Câu 3: Tại sao nói công thức T-H-T’ là công thức chung của tư bản? Công thức T - H - T' được dùng để biểu thị công thức chung của tư bản vì nó phản ánh sự vận động của mọi tư bản trong quá trình lưu thông. Dù là tư bản thương nghiệp, tư bản công nghiệp hay tư bản khác, tất cả đều tuân thủ theo công thức này. Bước đầu tiên trong công thức chung là giai đoạn T, biểu thị sự biến đổi từ tiền thành hàng hoá. Khi vốn được đầu tư vào mua hàng hoá (biểu thị bởi T), tư bản bắt đầu hoạt động trong quá trình lưu thông. Trong giai đoạn này, hàng hoá được vận chuyển, trữ, và đưa vào sản xuất. Sau đó, tư bản tiếp tục vận động từ giai đoạn T đến giai đoạn H, biểu thị giai đoạn sản xuất. Trong giai đoạn này, hàng hoá được chuyển đổi thành hàng hóa mới thông qua quá trình sản xuất. Công nhân và tư bản tương tác để tạo ra hàng hoá và lợi nhuận. Cuối cùng, hàng hoá hoàn thành (biểu thị bởi T\') được tạo ra từ quá trình sản xuất. Trong giai đoạn này, hàng hoá được chuyển đến thị trường và trở thành những sản phẩm hoàn chỉnh. Tóm lại, công thức chung T-H-T\' phản ánh quá trình lưu thông và sản xuất của tư bản. Nó thể hiện sự biến đổi của tư bản từ tiền thành hàng hoá thông qua quá trình mua bán, sản xuất và tiêu thụ. Câu 4: Tại sao nói giá trị HHSLĐ mang yếu tố vật chất, tinh thần và lịch sử? Giá trị của SLĐ cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra SLĐ quyết định. Giá trị của SLĐ sẽ được đo lường gián tiếp thông qua lượng giá trị của các tư liệu sinh hoạt để tái sản xuất ra SLĐ. -Cách tính: Giá trị SLĐ = tất cả giá trị TLSH cần thiết cho người công nhân và gia đình + phí tổn đào tạo. - Là hàng hoá đặc biệt, giá trị hàng hoá sức lao động khác với hàng hoá thông thường ở chỗ nó còn bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử: + Tinh thần: Đáp ứng các nhu cầu tinh thần của con người như xem phim, đi chùa…đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động và tạo ra giá trị. + Lịch sử: Trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia là khác nhau tạo nên những giá trị TLSH khác nhau ở mỗi thời kỳ, cũng như việc đào tạo sẽ khác nhau ở mỗi quốc gia, thời điểm, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, đồng thời nó còn phụ thuộc cả vào điều kiện địa lý, khí hậu của nước đó. Giá trị sức lao động còn thay đổi theo mức độ phát triển của khoa học kỹ thuật và xã hội. VD: Giá trị HH – SLĐ của thợ gốm bao gồm những đồ dùng sinh hoạt cần dùng hằng ngày, công cụ trong làm gốm… và sự đầu tư vào việc học nâng cao tay nghề. Tùy vào thời điểm mà người thợ sẽ cần những công cụ và vật dụng sinh hoạt khác nhau cũng như đầu tư vào việc học để nâng cao tay nghề phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của con người ở từng thời kỳ Câu 5: Tại sao nói SLĐ là hàng hoá đặc biệt? Không giống với những loại hàng hoá thông thường, hàng hoá sức lao động là loại hàng hoá đặc biệt. Vì nó được hình thành bởi con người với những nhu cầu phức tạp và đa dạng, về cả vật chất lẫn tinh thần theo quá trình phát triển của xã hội. Theo đó, công nhân không chỉ có nhu cầu đáp ứng về vật chất mà còn cần đáp ứng những nhu cầu về tinh thần như: giải trí, được khuyến khích, được tôn trọng,… Và như một lẽ dĩ nhiên, những nhu cầu này luôn thay đổi và phát triển theo thời gian và sự phát triển của xã hội. Cũng chính vì con người là chủ thể của sức lao động, nên việc cung cấp hàng hoá đặc biệt này sẽ phụ thuộc vào nhu cầu thực tế của cá nhân với những đặc điểm riêng biệt về: tâm lý, nhận thức, văn hoá, khu vực địa lý, môi trường sinh hoạt,… Bên cạnh đó, hàng hoá sức lao động là một loại hàng hoá tạo ra giá trị thặng dư cho xã hội. Điều này thể hiện ở chỗ người lao động luôn tạo ra những hàng hoá khác có giá trị lớn hơn giá trị của sức lao động để đáp ứng nhu cầu và mục tiêu của người sử dụng lao động. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Tóm lại, hàng hoá sức lao động là hàng hoá đặc biệt khi tồn tại đủ hai điều kiện về sự tự do và nhu cầu bán sức lao động. Để duy trì điều kiện cho hàng hoá sức lao động tạo ra những giá trị thặng dư, người sử dụng lao động phải đáp ứng những nhu cầu đặc biệt về tâm lý, văn hoá và khu vực địa lý,… Câu 6: Tại sao nói HH SLĐ là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản? a) Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa: “Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong cơ thể một con người, trong nhân cách sinh động của con người, thể lực và trí lực mà con người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”[2]. Không phải sức lao động nào cũng trở thành hàng hóa. Trong xã hội nô lệ thì sức lao động của nô lệ không phải là hàng hóa vì bản thân anh ta đã thuộc sở hữu của chủ nô, anh ta không có quyền bán sức lao động. Người thợ thủ công tự do tuy được tùy ý sử dụng sức lao động của mình nhưng sức lao động của anh ta cũng không phải là hàng hóa vì anh ta chỉ sản xuất tự cung tự cấp nuôi sống mình, chứ chưa buộc phải bán sức lao động để kiếm sống. Sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi đồng thời thỏa mãn hai điều kiện sau: Người lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao động của mình và có quyền bán sức sức lao động của mình như một hàng hóa.; Người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt trở thành “vô sản”, để tồn tại anh ta buộc phải bán sức lao động của mình để kiếm sống. Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để tiền biến thành tư bản. Nhưng trước CNTB thì hàng hóa sức lao động chưa xuất hiện. Chỉ dưới CNTB thì hàng hóa sức lao động mới xuất hiện và trở thành phố biến. b) Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động: Giá trị hàng hóa sức lao động cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động quyết định. Muốn sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động người công nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt cần thiết về ăn, ở, mặc, học nghề... Ngoài ra họ còn phải thỏa mãn những nhu cầu của gia đình và con cái. Giá trị của hàng hóa sức lao động được đo gián tiếp bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động. Giá trị ấy được hợp thành bởi: Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân; Phí tổn đào tạo người công nhân; Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái người công nhân. Sự biến đổi giá trị hàng hóa sức lao động một mặt tăng lên do sự tăng lên của nhu cầu trung bình của xã hội về hàng hóa, dịch vụ, học tập, học nghề... mặt khác lại bị giảm xuống do sự tăng năng suất lao động xã hội. Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động. Nhưng khác với hàng hóa thông thường, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động. Nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường một loại hàng hoá đặc biệt, đó là hàng hoá sức lao động, mà giá trị sử dụng của nó có tính chất đặc biệt là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là nó có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó. Phần lớn hơn đó là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt. Chính đặc tính này đã làm cho hàng hoá sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển thành tư bản. Do đó việc tìm ra và lý giải phạm trù hàng hoá sức lao động được coi là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản. Nếu "T" của tư bản không dùng để bóc lột sức lao động của công nhân thì không thể có "T'=T+∆T”. Câu 7: Theo bạn, lưu thông có tạo ra giá trị thặng dư không? Ví dụ Lưu thông là quá trình trong đó diễn ra các hành vi mua và bán.Nếu mua bán ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái từ tiền thành hàng hoặc hàng thành tiền. Còn tổng số giá trị cũng như phần giá trị trong tay mỗi người tham gia trao đổi không thay đổi.Trong trường hợp trao đổi không ngang giá, nếu hàng hóa được bán cao hơn giá trị, thì người bán được lời, còn nếu bán thấp hơn giá trị thì người mua được lời. Nhưng trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất đều vừa là người bán, vừa là người mua. Không thể có người chỉ bán mà không mua hoặc ngược lại.Vì vậy, cái lợi mà họ thu được khi bán sẽ bù lại cái thiệt khi mua.Trong trường hợp có những kẻ chuyên mua rẻ, bán đắt thì tổng giá trị toàn XH cũng không hề tăng lên, bởi vì số giá trị mà những người này thu được chẳng qua là sự ăn chặn, đánh cắp số giá trị của người khác mà thôi.Theo phân tích trên ta thấy:Lưu thông không tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Câu 8: Thế nào là tư bản bất biến, tư bản khả biến? ví dụ Giáo trình: Trang 92,93 Tư bản bất biến: Một nhà máy sản xuất vải bỏ ra một số lượng tư bản để mua tư liệu sản xuất là tơ sợi và máy dệt. Tơ sợi (giá trị sử dụng là làm thành vải) qua quá trình sản xuất sẽ biến thành vải có giá trị sử dụng mới là may quần áo,..). Máy dệt sẽ chỉ Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 đóng góp một phần giá trị thúc đẩy quá trình sản xuất diễn ra nhanh hơn, giảm thiểu hao phí lao động cá biệt, nâng cao năng suất lao động. Điều này sẽ tác động đến việc tạo ra giá trị thặng dư. Tư bản khả biến: Để sản xuất ra vải, công nhân phải bỏ ra hao phí lao động (lao động trừu tượng), sau khi tạo ra sản phẩm, sau khi đem ra trao đổi trên thị trường, giá trị thu về lớn hơn giá trị bỏ ra ban đầu (giá trị sức lao động cộng thêm giá trị thặng dư). Số tiền bằng đúng giá trị bỏ ra sẽ được chi trả cho công nhân, biến thành tư liệu sinh hoạt và tiêu dùng của công nhân. Phần dư thừa là giá trị thặng dư, phần lợi của tư bản. Câu 9: Chu chuyển tư bản phụ thuộc vào những nhân tố nào? Để tăng tốc độ chu chuyển tư bản, nhà sản xuất kinh doanh cần làm gì? - Chu chuyển của tư bản là sự tuần hoàn của tư bản được lặp đi lặp lại không ngừng. Chu chuyển của tư bản nói lên tốc độ vận động của tư bản cá biệt. Thời gian tư bản thực hiện được một vòng tuần hoàn gọi là thời gian chu chuyển của tư bản. Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông. Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm ở trong lĩnh vực sản xuất. Thời gian sản xuất bao gồm: ● ● ● Thời gian lao động Thời gian gián đoạn lao động Thời gian dự trữ sản xuất. Thời gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn là do tác động của các nhân tố như: ● ● ● ● ● ● Tính chất của ngành sản xuất, ví dụ ngành đóng tàu thời gian sản xuất thường dài hơn ngành dệt vải hay dệt thảm trơn thời gian thường ngắn hơn dệt thảm trang trí hoa văn.... Quy mô hoặc chất lượng các sản phẩm ví dụ như xây dựng một xí nghiệp, công xưởng mất thời gian dài hơn xây dựng một nhà ở thông thường. Thời gian vật sản xuất chịu tác động của quá trình tự nhiên dài hay ngắn. Năng suất lao động. Dự trữ sản xuất. .... Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông. Trong thời gian lưu thông, tư bản không làm chức năng sản xuất, do đó không sản xuất ra hàng hóa, cũng không sản xuất ra giá trị thặng dư. Thời gian lưu thông gồm có thời gian mua và thời gian bán hàng hóa. Thời gian lưu thông dài hay ngắn là do các nhân tố sau quy định: ● ● ● Thị trường xa hay gần Tình hình thị trường xấu hay tốt Trình độ phát triển của ngành giao thông vận tải, bưu chính viễn thông... Thời gian chu chuyển của tư bản càng ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị thặng dư được sản xuất ra nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn. - Tốc độ chu chuyển của tư bản tỉ lệ nghịch với thời gian chu chuyển của tư bản. Muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông của nó. Câu 10: Việc trả tiền công cho người lao động theo thời gian và theo sản phẩm có những ưu và hạn chế gì? a. Trả tiền công theo thời gian: Ưu điểm: - Đơn giản và dễ quản lý: Quản lý tiền công dựa trên thời gian là dễ dàng hơn vì nó không đòi hỏi đánh giá cụ thể về hiệu suất lao động. - An toàn và ổn định: Người lao động có thể dựa vào một thu nhập ổn định dựa trên số giờ làm việc, giúp giảm bớt rủi ro tài chính cho họ. - Khuyến khích hỗ trợ: Hình thức này có thể khuyến khích sự hợp tác và cùng hỗ trợ giữa các nhân viên, thay vì cạnh tranh với nhau. Hạn chế: Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 - Không khích cầu sản phẩm: Việc trả tiền công theo thời gian không khuyến khích sự sáng tạo hoặc tăng cường hiệu suất, vì người lao động không được động viên để làm việc hiệu quả hơn. - Không công bằng: Mô hình này không công bằng với những người lao động làm việc nhanh và hiệu quả hơn, nhưng vẫn phải nhận mức lương tương tự với những người làm chậm hơn. - Thiếu động lực: Không có động lực cụ thể để khuyến khích người lao động làm việc chăm chỉ và hiệu quả hơn. b. Trả tiền công theo sản phẩm: Ưu điểm: - Khuyến khích hiệu suất: Người lao động được động viên để làm việc chăm chỉ và hiệu quả hơn để tạo ra nhiều sản phẩm hơn, vì họ sẽ nhận được nhiều tiền hơn. - Công bằng: Mô hình này thường công bằng hơn vì người lao động nhận được thanh toán dựa trên kết quả công việc của họ. - Tăng sáng tạo: Người lao động có thể khám phá cách làm việc mới và sáng tạo để tăng hiệu suất và sản xuất. Hạn chế: Áp lực: Có thể gây áp lực lớn cho người lao động để đạt được sản lượng cao, có thể dẫn đến căng thẳng và stress. Khuyến khích sự cạnh tranh: Mô hình này có thể tạo ra một môi trường cạnh tranh giữa các nhân viên, thay vì hợp tác và cùng hỗ trợ nhau. Đánh giá chất lượng: Đôi khi việc đánh giá chất lượng của sản phẩm có thể gặp khó khăn, dẫn đến việc không công bằng trong việc định giá sản phẩm. Câu 11: Hãy so sánh sự giống và khác nhau giữa hàng hoá thông thường với HHSLĐ? + Giống nhau: đều là hàng hoá và cũng có hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng. + Khác nhau : Về mặt giá trị: Giá trị hàng hoá slđ bao gồm cả yếu tố tinh thần, vật chất và phụ thuộc vào đk lịch sử, đk sx của mỗi quốc gia…nghĩa là ngoài những nhu cầu về vật chất,người công nhân còn có những nhu cầu về tinh thần, văn hóa…Những nhu cầu đó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kì, đồng thời nó còn phụ thuộc cả vào điều kiện địa lý, khí hậu của nước đó. Giá trị slđ ko cố định : tăng lên khi nhu cầu trung bình về hàng hoá, dịch vụ của con người tăng và yêu cầu kỷ thuật lao động tăng; Giảm khi năng suất lao động xh tăng làm giảm giá trị hàng hoá tiêu dùng. Về mặt giá trị sử dụng: Hàng hóa thông thường sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất theo thời gian. Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó, đồng thời là quá trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động (đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt =>giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức nó có thể tao ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó. Trong quan hệ mua và bán: Hàng hóa thông thường là những sản phẩm hoàn chỉnh được tạo ra trong quá trình sản xuất hoặc chu kỳ sản xuất (mùa vụ) Hàng hóa sức lao động có những đặc điểm sau: Ø Chỉ bán quyền sử dụng chứ không bán quyền sở hữu và bán trong một thời gian nhất định thông qua các hợp đồng. Ø Mua bán chịu:Giá trị sử dụng thực hiện trước (bắt lao động) ,giá trị thực hiện sau (trả công sau). Ø Chỉ có phía người bán là công nhân làm thuê và phía người mua là các nhà tư bản,không có ngược lại. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Ø Giá cả của sức lao động (tiền công) luôn thấp hơn so với giá trị sức lao động bởi vì đối với người công nhân, lao động là phương tiện sinh sống duy nhất vì vậy phải bán sức lao động trong mọi điều kiện. Câu 12: Tại sao người ta thường lầm tưởng tiền công là giá cả của lao động? Nếu lao động là hàng hóa, thì nó phải có trước, phải được vật hóa trong một hình thức cụ thể nào đó. Tiền đề để cho lao động vật hóa được là phải có tư liệu sản xuất. Nhưng nếu người lao động có tư liệu sản xuất, thì họ sẽ bán hàng hóa do mình sản xuất ra, chứ không bán "lao động". Câu 13: Bạn hiểu như thế nào là thời gian lao động tất yếu (cần thiết)? Việc giảm thời gian lao động tất yếu trong điều kiện NSLĐ không đổi thì tiền công nhân có giảm không? “Thời gian lao động tất yếu" là thời gian cần thiết để sản xuất một lượng hàng hoặc dịch vụ nhất định trong điều kiện công nghệ và tổ chức sản xuất hiện tại. Nếu thời gian lao động tất yếu giảm trong điều kiện năng suất lao động không đổi, tiền công nhân có thể giảm hoặc không, tùy thuộc vào cách giảm này ảnh hưởng đến hiệu suất và lợi nhuận của doanh nghiệp. Câu 14: Thế nào là hao mòn vô hình? Ví dụ? Là sự giảm sút thuần túy về giá trị của tài sản cố định, biểu hiện ở sự giảm sút giá trị trao đổi của tài sản cố định do ảnh hưởng của tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Do tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ sản xuất làm cho tài sản cố định cũ bị mất giá so với tài sản cố định mới. Thường được chia làm ba loại: - Tài sản cố định bị giảm giá trị trao đổi do đã có những tài sản cố định như cũ nhưng giá mua lại rẻ hơn. - Tài sản cố định bị giảm giá trị trao đổi do có những tài sản cố định tuy mua với giá trị hư cũ nhưng hoàn thiện về kỹ thuật. - Tài sản cố định bị mất giá hoàn toàn do chấm dứt chu kỳ sống của sản phẩm, tất yếu dẫn đến những tài sản cố định, sử dụng để chế tạo những sản phẩm cũ, mất tác dụng. Câu 15: Việc phân chia tư bản thành bất biến (C) và khả biến (V) có ý nghĩa gì? Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến vạch rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư là do lao động làm thuê của công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không. Câu 16: Anh A làm 1 tháng nhận được 15 triệu, vậy 15 triệu anh A nhận được là TC danh nghĩa hay TC thực tế? Nếu Anh A nhận được 15 triệu đồng mà không có các khoản khấu trừ nào khác, thì số tiền đó có thể được xem là "TC thực tế". Tuy nhiên, nếu số tiền này bao gồm các khoản khấu trừ như thuế thu nhập cá nhân, bảo hiểm xã hội, hoặc các khoản trừ khác, thì 15 triệu đồng đó sẽ là "TC danh nghĩa" và "TC thực tế" sẽ thấp hơn sau khi trừ đi các khoản này. Chủ đề 4: Câu 1:Tại sao nói giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mang bản chất Kinh tế- Xã hội là quan hệ giai cấp ? Giá trị thặng dư là kết quả của sự hao phí lao động trong sự thống nhất của quá trình tạo ra, làm ra giá trị thặng dư. Quá trình đó được diễn ra trong quan hệ xã hội giữa người mua hàng hoá sức lao động và người bán mua hàng hoá sức lao động . Do đó, nếu giả định xã hội chỉ có hai giai cấp, là giai cấp tư sản và giai cấp công nhân, thì giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mang bản chất Kinh tế- Xã hội là quan hệ giai cấp; trong đó, giai cấp các nhà tư bản sẽ làm Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 giàu dựa trên cơ sở thuê mướn lao động của giai cấp công nhân. Ở đó, mục đích của nhà tư bản là giá trị thặng dư, người lao động làm thuê phải bán sức lao động cho nhà tư bản. Câu 2: Nhìn vào công thức tính tỷ suất giá trị thặng dư, nếu m’ = 200% có nghĩa là gì ? Ý nghĩa của tỷ suất giá trị thặng dư m’ = 200% Công thức tính tỷ suất giá trị thặng dư: m' = (m / v) x 100% Trong đó: ● ● ● m' là tỷ suất giá trị thặng dư m là giá trị thặng dư v là tư bản khả biến Giải thích: ● ● Tư bản khả biến (v): Là phần vốn mà nhà tư bản chi trả cho tiền lương của người lao động. Giá trị thặng dư (m): Là phần giá trị mà người lao động làm ra ngoài giá trị sức lao động của họ, nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt. Với m’ = 200%, ta có: ● Giá trị thặng dư (m) gấp đôi giá trị tư bản khả biến (v). Nghĩa là: Người lao động đã làm việc tạo ra giá trị gấp đôi so với giá trị tiền lương mà họ được trả. Nhà tư bản đã bóc lột người lao động với mức độ rất cao. Ví dụ: Giả sử nhà tư bản chi trả 100 đồng tiền lương cho công nhân mỗi ngày. Nếu công nhân làm việc tạo ra giá trị 300 đồng mỗi ngày, thì giá trị thặng dư sẽ là 200 đồng (300 - 100). Tỷ suất giá trị thặng dư m' = (200 / 100) x 100% = 200%. Câu 3:Thế nào là thời gian lao động tất yếu ? Ví dụ minh hoạ? Việc thời gian lao động tất yếu có ảnh hưởng gì đến tiền lương của công nhân khi năng suất lao động thay đổi ? 1. Khái niệm thời gian lao động tất yếu: Thời gian lao động tất yếu là khoảng thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra lượng hàng hóa đủ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của bản thân người lao động và gia đình họ. Nó bao gồm: ● Thời gian lao động để tái sản xuất sức lao động: Là thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra lượng hàng hóa đủ để duy trì sức khỏe và khả năng lao động của bản thân người lao động. ● Thời gian lao động để duy trì gia đình: Là thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra lượng hàng hóa đủ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của gia đình người lao động. Ví dụ: Giả sử giá trị sức lao động của một công nhân là 100 đồng mỗi giờ. Để duy trì bản thân và gia đình, mỗi ngày công nhân cần 200 đồng. Do đó, thời gian lao động tất yếu của công nhân là 2 giờ mỗi ngày (200 / 100 = 2). 2. Ảnh hưởng của thời gian lao động tất yếu đến tiền lương công nhân khi năng suất lao động thay đổi: Khi năng suất lao động thay đổi: Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 ● Năng suất lao động tăng: Thời gian lao động tất yếu sẽ giảm xuống. Điều này có nghĩa là với cùng một lượng ● hàng hóa, công nhân cần ít thời gian lao động hơn. Do đó, nhà tư bản có thể giảm tiền lương của công nhân mà vẫn đảm bảo họ có đủ điều kiện để tái sản xuất sức lao động và duy trì gia đình. Năng suất lao động giảm: Thời gian lao động tất yếu sẽ tăng lên. Điều này có nghĩa là với cùng một lượng hàng hóa, công nhân cần nhiều thời gian lao động hơn. Do đó, nhà tư bản có thể tăng tiền lương của công nhân để đảm bảo họ có đủ điều kiện để tái sản xuất sức lao động và duy trì gia đình. Tuy nhiên, mức độ thay đổi tiền lương không tỷ lệ thuận với mức độ thay đổi năng suất lao động. Lý do: Nhà tư bản cũng muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình. Do đó, họ sẽ chỉ tăng tiền lương cho công nhân khi mức độ tăng năng suất lao động đủ lớn để bù đắp cho chi phí tăng thêm cho tiền lương. Mức độ cạnh tranh trên thị trường lao động. Nếu có nhiều công nhân sẵn sàng làm việc với mức lương thấp, nhà tư bản có thể không cần phải tăng lương cho công nhân ngay cả khi năng suất lao động tăng. Câu 4: Theo bạn, để khai thác sức lao động của công nhân, ông chủ cần làm gì ? có nhiều phương pháp mà ông chủ có thể sử dụng để khai thác sức lao động của công nhân, bao gồm: Gia tăng thời gian lao động: Buộc công nhân làm việc nhiều giờ hơn với mức lương không đổi. Tăng cường cường độ lao động: Buộc công nhân làm việc với tốc độ nhanh hơn và năng suất cao hơn. Giảm tiền lương: Trả cho công nhân mức lương thấp hơn giá trị sức lao động của họ. Áp dụng các điều kiện làm việc khắc nghiệt: Tạo môi trường làm việc nguy hiểm, thiếu an toàn và sức khỏe. Sử dụng các biện pháp kiểm soát lao động: Hạn chế quyền tự do và tự chủ của công nhân. 4. Hậu quả của việc khai thác sức lao động: Việc khai thác sức lao động quá mức có thể dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực cho cả công nhân và xã hội, bao gồm: Sức khỏe và tinh thần của công nhân bị ảnh hưởng: Công nhân có thể bị kiệt sức, mắc bệnh nghề nghiệp, stress,... Năng suất lao động giảm: Công nhân mất động lực làm việc, dẫn đến giảm năng suất và hiệu quả. Mâu thuẫn giai cấp gay gắt: Việc bóc lột sức lao động có thể dẫn đến bất ổn xã hội và thậm chí là bạo lực. Phát triển kinh tế bị cản trở: Nền kinh tế không thể phát triển bền vững nếu sức lao động của công nhân bị khai thác quá mức. 5. Giải pháp: Để giảm thiểu việc khai thác sức lao động và hướng đến sự phát triển bền vững, cần có sự chung tay của nhiều bên, bao gồm: Nhà nước: Ban hành luật pháp để bảo vệ quyền lợi của người lao động, tăng cường thanh tra lao động và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Doanh nghiệp: Áp dụng các chính sách lao động hợp lý, đảm bảo điều kiện làm việc an toàn và sức khỏe cho công nhân, tôn trọng và đối xử công bằng với người lao động. Người lao động: Nâng cao nhận thức về quyền lợi của bản thân, tham gia vào các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi và đấu tranh cho điều kiện làm việc tốt hơn. Câu 5: Hạn chế của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là gì ? Các nhà tư bản tìm mọi cách kéo dài ngày lao động nhưng ngày lao động có những giới hạn nhất định. Giới hạn trên của ngày lao động do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định. Vì công nhân phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khoẻ. Việc kéo dài ngày lao động còn vấp phải sự phản kháng của giai cấp công nhân. Còn giới hạn dưới của ngày lao động không thể bằng thời gian lao động tất yếu, tức là thời gian lao động thặng dư bằng không. Như vậy, về mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn thời gian lao động tất yếu, nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinh thần của Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 người lao động. Trong phạm vi giới hạn nói trên, độ dài của ngày lao động là một đại lượng không cố định và có nhiều mức khác nhau. Độ dài cụ thể của ngày lao động do cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản trên cơ sở tương quan lực lượng quyết định. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi ngày lao động tiêu chuẩn, ngày làm 8 giờ đã kéo dài hàng thế kỷ. Câu 6: Điều kiện để thực hiện phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là gì ?Phương pháp này tạo ra những hệ quả gì cho xã hội ? 1. Điều kiện để thực hiện phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Để thực hiện phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối, cần có những điều kiện sau: ● Sự tồn tại của hai giai cấp: Giai cấp tư bản sở hữu tư liệu sản xuất và giai cấp vô sản chỉ có sức lao động. ● Sự bất bình đẳng về kinh tế: Giai cấp tư bản có nhiều tiền hơn giai cấp vô sản. ● Sự tự do mua bán sức lao động: Giai cấp vô sản buộc phải bán sức lao động của mình cho giai cấp tư bản để ● kiếm sống. Năng suất lao động thấp: Năng suất lao động thấp dẫn đến giá trị sản phẩm thấp, tạo điều kiện cho nhà tư bản kéo dài thời gian lao động để tăng giá trị thặng dư. 2. Hệ quả của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Hệ quả đối với giai cấp vô sản: ● Bị bóc lột sức lao động: Công nhân phải làm việc nhiều giờ hơn với mức lương thấp, dẫn đến kiệt sức, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống. ● Mâu thuẫn giai cấp gay gắt: Việc bóc lột sức lao động của công nhân dẫn đến mâu thuẫn giai cấp gay gắt ● giữa giai cấp tư bản và giai cấp vô sản. Mâu thuẫn này có thể dẫn đến các cuộc đấu tranh, bất ổn xã hội và thậm chí là cách mạng. Hạn chế khả năng phát triển: Khi công nhân bị bóc lột quá mức, họ sẽ mất động lực làm việc, dẫn đến giảm năng suất lao động và hiệu quả sản xuất. Hệ quả đối với giai cấp tư bản: ● Gia tăng lợi nhuận: Nhà tư bản thu được nhiều lợi nhuận hơn nhờ việc bóc lột sức lao động của công nhân. ● Gây bất ổn xã hội: Mâu thuẫn giai cấp gay gắt có thể dẫn đến bất ổn xã hội và ảnh hưởng đến sự ổn định của chế độ tư bản chủ nghĩa. Hệ quả đối với xã hội: ● Kìm hãm sự phát triển kinh tế: Phương pháp sản xuất này không phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội hiện đại, dẫn đến kìm hãm sự phát triển kinh tế. ● Gây ô nhiễm môi trường: Việc tăng cường sản xuất để có thêm giá trị thặng dư có thể dẫn đến khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức và gây ô nhiễm môi trường. Câu 7: Theo bạn giữa phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối, phương pháp nào tối ưu hơn ? 1. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Ưu điểm: ● Đơn giản, dễ áp dụng: Phương pháp này không đòi hỏi nhiều kỹ thuật hay công nghệ tiên tiến, do đó dễ dàng áp dụng trong điều kiện sản xuất lạc hậu. ● Hiệu quả nhanh chóng: Phương pháp này có thể mang lại hiệu quả nhanh chóng cho nhà tư bản trong thời gian ngắn hạn. Nhược điểm: Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 ● Gặp nhiều hạn chế: Phương pháp này gặp nhiều hạn chế về mặt sinh lý của người lao động, dẫn đến mâu ● thuẫn giai cấp gay gắt và kìm hãm sự phát triển kinh tế. Gây ra nhiều hệ quả tiêu cực: Phương pháp này gây ra nhiều hệ quả tiêu cực cho giai cấp vô sản, giai cấp tư bản và xã hội. 2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Ưu điểm: ● Ít gặp hạn chế: Phương pháp này ít gặp hạn chế về mặt sinh lý của người lao động hơn so với phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. ● Ít gây ra mâu thuẫn giai cấp: Phương pháp này ít gây ra mâu thuẫn giai cấp hơn so với phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. ● Hỗ trợ phát triển kinh tế: Phương pháp này hỗ trợ phát triển kinh tế thông qua việc nâng cao năng suất lao động. Nhược điểm: ● Phức tạp, đòi hỏi nhiều điều kiện: Phương pháp này đòi hỏi nhiều điều kiện như kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, nguồn vốn,... ● Hiệu quả chậm hơn: Phương pháp này có thể mang lại hiệu quả chậm hơn so với phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối trong thời gian ngắn hạn. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối tối ưu hơn phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối vì: ● Nâng cao năng suất lao động, từ đó tăng sản lượng và lợi nhuận cho doanh nghiệp. ● Giảm thiểu mâu thuẫn giai cấp, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của xã hội. ● Hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường. Câu 8: Hạn chế của phương pháp sản xuất thặng dư tương đối là gì ? Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối, mặc dù có nhiều ưu điểm so với phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối, nhưng cũng tồn tại một số hạn chế sau: 1. Gây thất nghiệp: Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tự động hóa sản xuất có thể dẫn đến thay thế sức lao động của con người bằng máy móc, từ đó dẫn đến tình trạng thất nghiệp cho một bộ phận công nhân. 2. Nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động: Để sử dụng thành thạo các máy móc, thiết bị hiện đại, người lao động cần được đào tạo bài bản và nâng cao trình độ chuyên môn. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư nhiều vào việc đào tạo cho người lao động, đồng thời cũng đặt ra thách thức cho việc tiếp cận và sử dụng công nghệ đối với những người lao động có trình độ thấp. 3. Tăng gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp: Việc đầu tư vào máy móc, thiết bị, công nghệ mới thường tốn kém chi phí cao. Điều này có thể tạo gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp nhỏ và vừa. 4. Nguy cơ mất kiểm soát sản xuất: Việc tự động hóa quá trình sản xuất có thể dẫn đến nguy cơ mất kiểm soát sản xuất nếu hệ thống máy móc gặp trục trặc hoặc bị tấn công bởi tin tặc. 5. Ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường: Việc sử dụng một số loại máy móc, thiết bị có thể gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Câu 9: Tại sao nói giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ là hiện tượng tạm thời trong từng doanh nghiệp nhưng luôn tồn tại trong xã hội ? 1. Quan hệ sản xuất: Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, tồn tại quan hệ sản xuất giữa giai cấp tư bản sở hữu tư liệu sản xuất và giai cấp vô sản chỉ có sức lao động. Giai cấp tư bản sử dụng sức lao động của giai cấp vô sản để sản xuất ra hàng hóa, nhưng họ chỉ trả cho người lao động một phần giá trị do họ tạo ra (tiền lương), phần còn lại (giá trị thặng dư) bị giai cấp tư bản chiếm đoạt. Do đó, giá trị thặng dư luôn tồn tại trong xã hội miễn là quan hệ sản xuất này còn tồn tại. 2. Mâu thuẫn giai cấp: Sự tồn tại của giá trị thặng dư dẫn đến mâu thuẫn giai cấp gay gắt giữa giai cấp tư bản và giai cấp vô sản. Mâu thuẫn này là động lực thúc đẩy cho sự phát triển của xã hội, nhưng đồng thời cũng là nguy cơ cho sự ổn định của xã hội. Kết luận: Giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ là hiện tượng tạm thời trong từng doanh nghiệp do sự cạnh tranh, thay đổi thị hiếu người tiêu dùng, sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới và sự can thiệp của chính phủ. Tuy nhiên, giá trị thặng dư nói chung luôn tồn tại trong xã hội do quan hệ sản xuất và mâu thuẫn giai cấp. Câu 10: Tại sao nói giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất của các nhà sản xuất ? 1. Lợi nhuận cao hơn: Giá trị thặng dư siêu ngạch mang lại cho doanh nghiệp lợi nhuận cao hơn so với việc chỉ đạt được mức giá trị thặng dư trung bình. Lợi nhuận cao hơn đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có thể: ● ● ● ● Tái đầu tư: Nâng cao năng suất lao động, mở rộng sản xuất, phát triển thị trường,... Trả cổ tức cho cổ đông: Thỏa mãn nhu cầu lợi nhuận của các nhà đầu tư. Tăng phúc lợi cho người lao động: Thu hút và giữ chân nhân tài. Đóng góp cho xã hội: Tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện,... 2. Nâng cao vị thế cạnh tranh: Doanh nghiệp đạt được giá trị thặng dư siêu ngạch thường sở hữu lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác. Lợi thế cạnh tranh này có thể đến từ: Công nghệ tiên tiến: Giúp doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm chất lượng cao với giá thành thấp hơn. Thương hiệu mạnh: Giúp doanh nghiệp thu hút khách hàng và bán sản phẩm với giá cao hơn. Quản lý hiệu quả: Giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí và sử dụng nguồn lực hiệu quả. 3. Thỏa mãn động cơ kinh tế: Mục tiêu cơ bản của các nhà sản xuất trong nền kinh tế thị trường là tối đa hóa lợi nhuận. Giá trị thặng dư siêu ngạch giúp họ đạt được mục tiêu này một cách hiệu quả nhất, từ đó thỏa mãn động cơ kinh tế của bản thân. 4. Kích thích đổi mới sáng tạo: Để đạt được và duy trì giá trị thặng dư siêu ngạch, doanh nghiệp buộc phải đổi mới sáng tạo liên tục. Họ cần: Nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới: Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Cải tiến công nghệ sản xuất: Nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí. Áp dụng các giải pháp quản lý tiên tiến: Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Câu 11:Tại sao nói giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối 1. Khác biệt về cách thức hình thành: Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Giá trị thặng dư tương đối: Hình thành do nâng cao năng suất lao động trong khi thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm không đổi. Nhờ đó, công nhân tạo ra nhiều giá trị hơn trong một giờ làm việc, dẫn đến giá trị thặng dư tương đối tăng lên. Giá trị thặng dư siêu ngạch: Hình thành do giảm giá trị cá biệt của hàng hóa trong khi giá trị xã hội của hàng hóa không đổi. Giá trị cá biệt của hàng hóa là chi phí sản xuất thực tế của một đơn vị sản phẩm, bao gồm tiền lương, nguyên liệu, hao phí,... Giá trị xã hội của hàng hóa là giá trị mà hàng hóa được bán ra trên thị trường. Doanh nghiệp đạt được giá trị thặng dư siêu ngạch khi giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội của hàng hóa. 2. Mức độ bóc lột: Giá trị thặng dư tương đối: Mức độ bóc lột tăng lên khi năng suất lao động được nâng cao. Giá trị thặng dư siêu ngạch: Mức độ bóc lột cao hơn so với giá trị thặng dư tương đối vì doanh nghiệp thu được nhiều giá trị thặng dư hơn trong khi công nhân vẫn chỉ nhận được mức lương như cũ. Tuy nhiên, hai hình thức này có chung nguồn gốc và bản chất: Nguồn gốc: Cả hai đều xuất phát từ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, trong đó giai cấp tư bản sở hữu tư liệu sản xuất và giai cấp vô sản chỉ có sức lao động. Bản chất: Cả hai đều thể hiện sự bóc lột sức lao động của giai cấp tư bản đối với giai cấp vô sản. Giai cấp tư bản chiếm đoạt một phần giá trị do công nhân tạo ra, dẫn đến sự bất bình đẳng trong xã hội. Do đó, có thể nói giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối. Nó thể hiện mức độ bóc lột cao hơn và là động lực thúc đẩy các nhà tư bản áp dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động để thu lợi nhuận cao hơn. Kết luận: Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều là những hình thức thể hiện sự bóc lột sức lao động của giai cấp tư bản đối với giai cấp vô sản trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối vì nó thể hiện mức độ bóc lột cao hơn và có chung nguồn gốc, bản chất. Câu 12: Theo bạn, ở nước ta hiện nay các doanh nghiệp đang áp dụng phương pháp nào nhiều nhất ? 1. Phân theo ngành nghề: ● Ngành công nghiệp: Sản xuất hàng loạt: Phổ biến trong sản xuất ô tô, xe máy, điện tử, dệt may,... với ưu điểm tự động hóa cao, hiệu quả lớn nhưng đòi hỏi vốn đầu tư lớn và ít linh hoạt. Phương pháp này chủ yếu áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối thông qua việc nâng cao năng suất lao động nhờ tự động hóa, cải tiến kỹ thuật và tổ chức sản xuất hợp lý. Sản xuất theo nhóm: Thường gặp trong sản xuất linh kiện điện tử, cơ khí,... với ưu điểm tiết kiệm chi phí, linh hoạt hơn sản xuất hàng loạt nhưng năng suất thấp hơn. Phương pháp này có thể kết hợp cả phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối (kéo dài thời gian làm việc) và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối (nâng cao năng suất) tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp. Sản xuất theo đơn đặt hàng: Phù hợp cho sản xuất các mặt hàng theo yêu cầu riêng của khách hàng, thường gặp trong ngành may mặc, thủ công mỹ nghệ,... với ưu điểm đáp ứng nhu cầu đa dạng nhưng đòi hỏi quản lý phức tạp và chi phí cao hơn. Phương pháp này thường sử dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối kết hợp với phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối (kéo dài thời gian làm việc) để đảm bảo tiến độ giao hàng và lợi nhuận. ● Ngành dịch vụ: Dịch vụ theo quy trình: Áp dụng quy trình tiêu chuẩn để cung cấp dịch vụ đồng nhất, ví dụ như dịch vụ nhà hàng, khách sạn. Phương pháp này chủ yếu sử dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối thông qua việc nâng cao năng suất lao động của nhân viên và tối ưu hóa quy trình hoạt động. Dịch vụ chuyên nghiệp: Cung cấp dịch vụ theo nhu cầu cá nhân hóa, đòi hỏi chuyên môn cao, ví dụ như dịch vụ luật pháp, y tế. Phương pháp này có thể kết hợp cả phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối (kéo dài thời gian làm Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 việc) và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương relative (nâng cao năng suất) tùy thuộc vào nhu cầu của khách hàng và khả năng của doanh nghiệp. Dịch vụ tự phục vụ: Khách hàng tự thực hiện dịch vụ, ví dụ như sử dụng máy ATM, mua sắm tự chọn. Phương pháp này chủ yếu sử dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương relative thông qua việc giảm thiểu chi phí lao động và tối ưu hóa quy trình hoạt động. 2. Phân theo quy mô doanh nghiệp: Doanh nghiệp lớn: Có xu hướng áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương relative thông qua việc đầu tư vào máy móc, thiết bị hiện đại, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến và nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động. Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Thường áp dụng linh hoạt cả phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương relative tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp. 3. Xu hướng chung: Áp dụng khoa học kỹ thuật: Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, tự động hóa sản xuất ngày càng phổ biến, đặc biệt trong các ngành công nghiệp, dẫn đến phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương relative được áp dụng rộng rãi hơn. Nâng cao năng suất lao động: Các doanh nghiệp chú trọng vào việc nâng cao năng suất lao động để giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, thúc đẩy áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương relative. Chú trọng chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm được quan tâm hàng đầu để đáp ứng nhu cầu thị trường, đòi hỏi nâng cao tay nghề người lao động và cải tiến quy trình sản xuất, dẫn đến áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối. Linh hoạt trong sản xuất: Các doanh nghiệp cần linh hoạt trong sản xuất Câu 13: Nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư có ý nghĩa gì đối với chúng ta ? Nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách thức mà giai cấp tư bản bóc lột sức lao động của giai cấp vô sản trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Từ đó, chúng ta có thể nhận thức được bản chất bất bình đẳng và mâu thuẫn vốn có trong hệ thống này. 2. Phân tích sự phát triển của xã hội: Giá trị thặng dư là nguồn động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Việc nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những yếu tố nào ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự phân phối thu nhập và sự phát triển của xã hội nói chung. 3. Đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp: Mức độ hiệu quả trong việc áp dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư là một trong những thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể sử dụng các phương pháp này để tối ưu hóa sản xuất, nâng cao năng suất lao động và tăng lợi nhuận. 4. Xây dựng chính sách kinh tế - xã hội: Hiểu biết về các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng những chính sách kinh tế - xã hội phù hợp, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ quyền lợi của người lao động và thúc đẩy phát triển bền vững. 5. Nâng cao nhận thức cho người lao động: Nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư giúp nâng cao nhận thức cho người lao động về quyền lợi và vị trí của họ trong xã hội. Từ đó, người lao động có thể đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của mình và góp phần thúc đẩy sự thay đổi về mặt xã hội. Ngoài ra, nghiên cứu các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư còn có ý nghĩa: Góp phần vào kho tàng tri thức về kinh tế học và lịch sử xã hội. Giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất của con người và xã hội. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Thúc đẩy nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Câu 14: Hãy so sánh sự giống và khác nhau giữa phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối ? So sánh phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối: Giống nhau: Cùng là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa: Cả hai phương pháp đều nhằm mục đích tạo ra giá trị thặng dư cho giai cấp tư bản bằng cách bóc lột sức lao động của giai cấp vô sản. Cùng dựa trên quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa: Trong đó, giai cấp tư bản sở hữu tư liệu sản xuất và giai cấp vô sản chỉ có sức lao động. Giai cấp tư bản sử dụng sức lao động của giai cấp vô sản để sản xuất ra hàng hóa, nhưng họ chỉ trả cho người lao động một phần giá trị do họ tạo ra (tiền lương), phần còn lại (giá trị thặng dư) bị giai cấp tư bản chiếm đoạt. Cùng góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế: Giá trị thặng dư là nguồn động lực thúc đẩy các nhà tư bản đầu tư, mở rộng sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Tiêu chí Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối Cách thức hình thành Kéo dài thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Nâng cao năng suất lao động trong khi thời gian lao trong khi giá trị sức lao động không động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm đổi. không đổi. Mức độ bóc lột Mức độ bóc lột tăng lên khi thời gian làm việc được kéo dài. Mức độ bóc lột tăng lên khi năng suất lao động được nâng cao. Tác động đến người lao động Làm giảm thời gian nghỉ ngơi, giải trí của người lao động, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của họ. Có thể làm cho người lao động làm việc vất vả hơn, nhưng cũng có thể giúp họ nâng cao thu nhập nếu tiền lương tăng tương ứng với năng suất lao động. Tác động đến sản xuất Có thể dẫn đến sản xuất hàng hóa dư thừa, gây lãng phí và ảnh Có thể giúp tăng sản lượng hàng hóa, đáp ứng nhu hưởng đến môi trường. cầu thị trường và thúc đẩy phát triển kinh tế. Hiệu quả Hiệu quả thấp do năng suất lao động không cao. Hiệu quả cao hơn do năng suất lao động cao hơn. Tính bền vững Tính bền vững thấp do sức lao động của người lao động bị bào mòn. Tính bền vững cao hơn do người lao động có điều kiện làm việc tốt hơn và năng suất lao động cao hơn. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Câu 15: Nếu gạt bỏ tính chất bóc lột nặng nề, thì phương pháp sản xuất giá trị thặng dư có ý nghĩa gì đối với sự phát triển xã hội ? 1. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Giá trị thặng dư là nguồn vốn đầu tư quan trọng cho sự phát triển kinh tế. Khi các doanh nghiệp tạo ra giá trị thặng dư, họ có thể sử dụng nguồn vốn này để đầu tư vào mở rộng sản xuất, nghiên cứu phát triển, nâng cao năng suất lao động,... 2. Nâng cao đời sống vật chất của người dân: Sự phát triển kinh tế do giá trị thặng dư thúc đẩy có thể dẫn đến việc tăng thu nhập cho người lao động, cải thiện điều kiện sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của họ. 3. Thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật: Để tạo ra nhiều giá trị thặng dư hơn, các doanh nghiệp thường áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, từ đó thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật. 4. Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường: Việc sản xuất ra nhiều hàng hóa hơn nhờ áp dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư có thể giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. 5. Góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp: Sự phát triển kinh tế do giá trị thặng dư thúc đẩy có thể tạo ra nhiều việc làm hơn, góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những ý nghĩa tích cực này chỉ có thể đạt được nếu: Giảm thiểu tính chất bóc lột trong sản xuất: Việc bóc lột sức lao động của người lao động cần được giảm thiểu tối đa để đảm bảo công bằng xã hội và thúc đẩy sự phát triển bền vững. Sử dụng giá trị thặng dư một cách hợp lý: Giá trị thặng dư cần được sử dụng một cách hợp lý để đầu tư vào phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân và bảo vệ môi trường. Bảo đảm quyền lợi của người lao động: Người lao động cần được hưởng mức lương xứng đáng với giá trị họ tạo ra, đồng thời được đảm bảo các quyền lợi về sức khỏe, an toàn lao động và nghỉ ngơi. Câu 1: Kinh tế thị trường định hướng XHCN có mấy thành phần kte? Thành phần kte nào giữ vtro chủ đạo. Nêu đặc trưng KTTT định hướng XHCN? Câu 2: CMCN thì vtro của máy móc như thế nào đối với việc tạo ra giá trị thặng dư? Câu 3: Phân tích các điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá và những ưu thế của sản xuất hàng hoá so với kinh tế tự nhiênn k là mẹ Câu 4: Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá và quan hệ của hai thuộc tính đó với tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá. Câu 5: Phân tích lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá. Câu 6: Phân tích nội dung (yêu cầu), tác dụng của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn. Những biểu hiện của quy luật này trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản? Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Câu 7: Thế nào là thị trường? Mối quan hệ giữa phân công lao động XH với thị trường. Phân tích các chức năng của thị trường. Câu 8: Tại sao cạnh tranh là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá? Câu 9: Trình bày nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản. Câu 10: phương pháp sx GTTD tuyệt đối và tương đối: Câu 11: Căn cứ và ý nghĩa của các cách phân chia tư bản trên đây. Câu 12: So sánh giá trị thặng dư với lợi nhuận, tỷ suất giá trị thặng dư và tỷ suất lợi nhuận. Tốc độ chu chuyển của tư bản có ảnh hưởng như thế nào tới nhu cầu về tư bản, tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư hằng năm? Câu 13: Phân tích những ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ tư bản. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này. Câu 14: Trình bày các khái niệm chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận. Các khái niệm trên đã che dấu quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa như thế nào? ÔN THI MÔN KTCT Câu 1: Kinh tế thị trường định hướng XHCN có mấy thành phần kte? Thành phần kte nào giữ vtro chủ đạo. Nêu đặc trưng KTTT định hướng XHCN? ● Khái niệm: SGKT 170 ● Có 4 tphan kte: - - Kinh tế nhà nước là công cụ, nắm giữ các lĩnh vực then chốt, lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường. Bao gồm: DN nhà nước, quỹ dự trữ quốc gia,… Kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, các hợp tác xã, tổ hợp tác có phạm vi hoạt động rộng lớn, với vai trò cung cấp dịch vụ cho các thành viên; liên kết, phối hợp sản xuất kinh doanh, bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện để các thành viên nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển bền vững. Tăng cường liên kết giữa các hợp tác xã, hình thành các hiệp hội, liên hiệp hợp tác xã. Nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà hợp tác xã là nòng cốt. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của kinh tế quốc dân, có vai trò lớn trong huy động nguồn vốn đầu tư, công nghệ, phương thức quản lý hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu. ● Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo vì: - - Kinh tế nhà nước (KTNN) được hiểu bao gồm các cấu thành sau: 1- Bộ phận doanh nghiệp (DN) gồm các DN mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và DN mà Nhà nước nắm cổ phần hoặc phần vốn chi phối; 2- Bộ phận phi DN, ngoài các tài sản thuộc sở hữu nhà nước còn bao gồm cả đất đai, rừng, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên, tư liệu sản xuất, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia... tập hợp sức mạnh kinh tế thể hiện trên các ngành, lĩnh vực trọng yếu từ các định chế tài chính, pháp luật, sức mạnh quản lý đến điều hành của hệ thống chính trị. sở hữu nhà nước và KTNN giữ vị trí trọng yếu, vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo nền tảng cơ bản để phát triển mọi ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế và loại hình DN trong nền kinh tế quốc dân. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 - thành phần KTNN nắm giữ những vị trí then chốt của nền kinh tế và là lực lượng có khả năng can thiệp, điều tiết, hướng dẫn, giúp đỡ, liên kết, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. để đảm đảm được lợi ích của đại đa số nhân dân lao động, KTNN - chủ yếu dựa trên chế độ sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện - phải giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế đó. Đây cũng thể hiện rõ bản chất, đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. ● Đặc trưng: SGK 178-185 Câu 2: CMCN thì vtro của máy móc như thế nào đối với việc tạo ra giá trị thặng dư? - tư bản bất biến (máy móc, trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu) không tạo ra giá trị thặng dư, nó là điều kiện cần thiết để cho quá trình sản xuất giá trị thặng dư được diễn ra. Nguồn gốc tạo giá trị thặng là sức lao động của người làm thuê. Câu 3: Phân tích các điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá và những ưu thế của sản xuất hàng hoá so với kinh tế tự nhiên. - - Kinh tế tự nhiên là kiểu sản xuất tự cung tự cấp, sản phẩm làm ra nhằm thoả mãn nhu cầu của người trực tiếp sản xuất ra nó. Kiểu sản xuất này gắn liền với nền sản xuất nhỏ, lực lượng lao động phát triển thấp, phân công lao động kém phát triển. Kn sx hàng hóa: tài liệu Điều kiện ra đời của sxhh: tài liệu So với sản xuất tự cung tự cấp thì sản xuất hàng hoá có những ưu thế hơn hẳn: + Do sản xuất hàng hoá dựa trên sự phân công lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất nên nó khai thác được những lợi thế tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở cũng như từng vùng, từng địa phương. Đồng thời, sản xuất hàng hoá cũng tác động trở lại làm cho phân công lao động XH, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng tăng, mối quan hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc. Từ đó, làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của XH được đáp ứng đầy đủ hơn. + Trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nguồn lực và nhu cầu của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực XH. Từ đó, tạo điều kiện cho việc ứng dụng những thành tựu KH – KT vào sản xuất, thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn. + Trong nền sản xuất hàng hóa, để tồn tại và sản xuất có lãi, người sản xuất phải luôn luôn năng động, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Nhờ đó, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, năng suất lao động tăng, hiệu quả kinh tế ngày càng cao. + Sự phát triển sản xuất, mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, các vùng, các nước… không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hoá, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú và đa dạng hơn. + Tóm lại, trong khi sản xuất tự cung tự cấp bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực cá nhân, gia đình, quy mô sản xuất nhỏ, không tạo được động lực thúc đẩy sản xuất phát triển thì sản xuất hàng hoá lại tạo được động lực sản xuất phát triển, làm cho sản xuất phù hợp với nhu cầu, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mỗi cá nhân và toàn XH. Câu 4: Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá và quan hệ của hai thuộc tính đó với tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá. Kn hàng hóa Hai thuộc tính: + Để hiểu giá trị của hàng hoá, trước hết, ta phải hiểu giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ theo đó một giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác. Ví dụ như: 1m vải có giá trị trao đổi bằng 5 kg thóc. + Hai hàng hoá khác nhau như vậy có thể trao đổi với nhau thì giữa chúng phải có một cơ sở chung. Lao động hao phí tạo ra hàng hoá chính là cơ sở chung cho việc trao đổi đó và tạo ra giá trị của hàng hoá. Vậy giá trị của Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 - - - hàng hoá là lao động XH của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong sản phẩm. Giá trị trao đổi là biểu hiện bên ngoài của giá trị, giá trị là nội dung bên trong, là cơ sở của giá trị trao đổi. + Giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá. Vì vậy, giá trị là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá. Hai thuộc tính đó của hàng hoá vừa mâu thuẫn, vừa thống nhất. Chúng thống nhất ở chỗ: chúng cùng tồn tại trong hàng hoá, một hàng hoá phải có hai thuộc tính này, thiếu một trong hai thuộc tính thì không phải là hàng hoá. Tuy nhiên, chúng mâu thuẫn ở hai điểm: thứ nhất, về một giá trị sử dụng thì hàng hoá khác nhau về chất còn về mặt giá trị thì hàng hoá lại giống nhau về chất; Thứ hai, giá trị được sử dụng trong quá trình lưu thông còn giá trị sử dụng được thực hiện trong quá trình tiêu dùng. + tài liệu. Hai thuộc tính của hàng hoá này không phải là do có hai thứ lao động khác nhau kết tinh trong hàng hoá mà là do lao động sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt, vừa có tính trừu tượng (lao động trừu tượng), vừa có tính cụ thể (lao động cụ thể) + tài liệu. Câu 5: Phân tích lượng giá trị hàng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá. Kn lượng giá trị: tài liệu ● nhân tố ảnh hưởng: - Thứ nhất, đó là năng suất lao động. Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động. Nó được đo bằng số sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Năng suất lao động tăng lên tức là thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm giảm xuống, tức là giá trị của một đơn vị hàng hoá giảm và ngược lại. Vậy, giá trị của hàng hoá tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Mặt khác, năng suất lao động lai phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như điều kiện tự nhiên, trình độ trung bình của người công nhân, mức độ phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, quy mô sản xuất… nên để tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu tố trên. - Thứ hai, đó là cường độ lao động. Cường độ lao động phản ánh mức độ hao phí lao động trong một đơn vị thời gian. Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động. Cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hoá sản xuất ra tăng lên và sức lao động hao phí cũng tăng lên tương ứng. Do đó, giá trị của một đơn vị hàng hoá là không đổi vì thực chất tăng cường độ lao động chính là việc kéo dài thời gian lao động. Cường độ lao động phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý, quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất và đặc biệt là thể chất và tinh thần của người lao động. Chính vì vậy mà tăng cường độ lao động không có ý nghĩa tích cực với sự phát triển kinh tế bằng việc tăng năng suất lao động. - Thứ ba là mức độ phức tạp của lao động. Theo đó, ta có thể chia lao động thành hai loại là lao động giản đơn và lao động phức tạp. Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người lao động bình thường nào không cần phải trải qua đào tạo cũng có thể thực hiện được. Còn lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề nhất định mới có thể thực hiện được. Trong cùng một thời gian lao động thì lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn bởi vì thực chất lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân lên. Trong quá trình trao đổi mua bán, lao động phức tạp được quy đổi thành lao động giản đơn trung bình một cách tự phát. Câu 6: Phân tích nội dung (yêu cầu), tác dụng của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn. Những biểu hiện của quy luật này trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản? - Phân tích nội dung: tài liệu - Tác động của quy luật giá trị: + nó điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá. Khi một hàng hoá có giá cả cao hơn giá trị, bán có lãi, người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư tư liệu sản xuất và sức lao động, đồng thời những người sản xuất các hàng hoá khác có thể chuyển sang sản xuất mặt hàng này. Còn nếu mặt hàng đó có giá cả thấp hơn giá trị, bị lỗ vốn thì người sản xuất phải thu hẹp sản xuất hoặc chuyển sang sản xuất mặt hàng khác. Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu xã hội. Đồng thời, nó còn thu hút hàng hoá từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, góp phần làm cho hàng hoá giữa các vùng có sự cân bằng nhất định. + Quy luật giá trị cũng kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm… Bởi vì trong sản xuất hàng hóa, để tồn tại và có lãi, mọi người sản xuất đều phải tìm làm cho mức hao phí lao động cá biệt của mình thấp hơn hoặc bằng mức lao động xã hội cần thiết. Cuộc cạnh tranh càng Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 - - - khiến cho những người sản xuất tích cực cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động… mạnh mẽ hơn. Mọi người sản xuất đều làm như vậy sẽ làm cho năng suất lao động của toàn xã hội tăng lên, sản xuất ngày càng phát triển. + quy luật giá trị cũng tự phát phân hoá người sản xuất ra thành người giàu và người nghèo. Người sản xuất nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động XH cần thiết sẽ thu được nhiều lãi và giàu lên, mở rộng sản xuất, thậm chí trở thành ông chủ thuê nhân công. Còn những người sản xuất có mức hao phí lao động cá biệt cao hơn mức hao phí lao động XH cần thiết sẽ thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản và trở thành công nhân làm thuê. + Vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực. Chúng ta cần phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó. + Trong giai đoạn sản xuất tư bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh, giá trị hàng hóa trở thành giá cả sản xuất. Giá trị là cơ sở của giá cả sản xuất. Khi giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất thì quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất. Còn trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, do nắm được vị trí thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông, các tổ chức có khả năng định ra giá cả độc quyền. Giá cả độc quyền là giá cả hàng hoá có sự chênh lệch rất lớn so với giá cả sản xuất. Tuy nhiên, cơ sở của giá cả độc quyền vẫn là giá trị và tổng giá cả độc quyền vẫn bằng tổng giá trị. Khi đó, quy luật giá trị biểu hiện ra thành quy luật giá cả độc quyền. Câu 7: Thế nào là thị trường? Mối quan hệ giữa phân công lao động XH với thị trường. Phân tích các chức năng của thị trường. kn: tài liệu mối quan hệ: + Phân công lao động XH góp phần tạo ra thị trường. Do có sự phân công lao động XH, mỗi cá thể chỉ sản xuất một hoặc một vài sản phẩm trong khi họ có như cầu sử dụng nhiều loại sản phẩm. Chính vì vậy, sinh ra việc trao đổi buôn bán và dẫn đến hình thành thị trường. + thị trường cũng làm cho phân công lao động XH ngày càng sâu sắc hơn. Thị trường thúc đẩy sản xuất một số mặt hàng và hạn chế sản xuất một số mặt hàng khác tùy theo không gian và thời gian. Do đó, phân công lao động XH ở từng ngành, từng khu vực trở nên sâu sắc hơn. Chức năng: + Chức năng thừa nhận công dụng XH của hàng hoá (giá trị sử dụng XH) và lao động đã chi phí để sản xuất ra nó. Nếu hàng hoá bán được và bán với giá cả bằng giá trị thì XH đã thừa nhận công dụng của nó cũng như thừa nhận mức hao phí lao động để sản xuất ra nó phù hợp với mức hao phí lao động XH cần thiết, giá trị hàng hoá được thực hiện. Nếu hàng hoá không bán được thì hoặc là công dụng của hàng hoá không được thừa nhận, hoặc là do chi phí sản xuất cao hơn mức trung bình của XH nên XH không chấp nhận. Nếu hàng hoá bán được với giá cả thấp hơn giá trị thì có nghĩa là XH chỉ thừa nhận công dụng của nó và một phần chi phí sản xuất ra nó. + Thứ hai là chức năng cung cấp thông tin cho người sản xuất và tiêu dùng về cơ cấu hàng hoá, giá cả, chất lượng… + chức năng kích thích hoặc hạn chế sản xuất và tiêu dùng. Từ những thông tin thu được trên thị trường, người sản xuất hay tiêu dùng sẽ có những điều chỉnh kịp thời để phù hợp với biến đổi của thị trường. Nhờ đó mà sản xuất và tiêu dùng được hạn chế hoặc kích thích. Ví dụ như giá cả một hàng hoá nào đó tăng, người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất còn người tiêu dùng sẽ hạn chế nhu cầu… Câu 8: Tại sao cạnh tranh là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá? cạnh tranh là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá bởi thực chất nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Trong sản xuất hàng hoá, sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động XH tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển… nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động XH cần thiết để thu được nhiều lãi. Khi còn sản xuất hàng hoá, còn phân công lao động thì còn có cạnh tranh. Câu 9: Trình bày nguồn gốc, bản chất của giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản. - Giả sử để chế tạo ra 1 kg sợi, nhà tư bản phải bỏ ra 28.000 đơn vị tiền tệ bao gồm 20.000 đơn vị tiền tệ mua 1 kg bông, 3.000 đơn vị cho hao phí máy móc và 5.000 đơn vị mua sức lao động của công nhân điều khiển máy móc Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 - - trong 1 ngày (10 giờ). Giả định việc mua này là đúng giá trị. Đồng thời giả định, mỗi giờ lao động, người công nhân tạo ra 1.000 đơn vị giá trị mới kết tinh vào trong sản phẩm. Vậy bằng lao động cụ thể, người công nhân đã chuyển giá trị của bông và hao mòn máy móc vào trong sợi và bằng lao động trừu tượng của mình, mỗi giờ công nhân lại tạo thêm một lượng giá trị mới là 1.000 đơn vị. Nếu chỉ trong vòng 5 giờ, công nhân đã kéo xong 1kg sợi thì giá trị 1kg sợi là: – Giá trị của 1 kg bông = 20.000 đơn vị – Hao mòn máy móc = 3.000 đơn vị – Giá trị mới tạo ra (trong 5 giờ lao động, phần này vừa đủ bù đắp giá trị sức lao động) = 5.000 đơn vị Vậy tổng cộng giá trị của 1 kg sợi là 28.000 đơn vị. Tuy nhiên, do nhà tư bản đã thuê người công nhân trong 10 giờ nên trong 5 giờ lao động tiếp theo, nhà tư bản không phải bỏ ra 5.000 đơn vị mua sức lao động nữa mà chỉ cần bỏ ra 20.000 đơn vị tiền tệ để mua thêm 1kg bông, 3.000 đơn vị cho hao mòn máy móc, tức là với 23.000 đơn vị tiền tệ, nhà tư bản có thêm được 1kg sợi. Như vậy. trong một ngày lao động, nhà tư bản bỏ ra 51.000 đơn vị tiền tệ để thu được 2 kg sợi. Trong khi đó, giá trị của 2 kg sợi là: 28.000 . 2 = 56.000 đơn vị tiền tệ. Do đó, nhà tư bản thu được 1 phần giá trị dôi ra, tức là giá trị thặng dư, bằng 5.000 đơn vị tiền tệ. Từ ví dụ trên, ta thấy giá trị thặng dư chính là phần giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra ngoài sức lao động, là kết quả lao động không công của công nhân cho nhà tư bản. Chú ý rằng, phần lao động không công đó trở thành giá trị thặng dư vì nó thuộc sở hữu của nhà tư bản chứ không phải là của người lao động. Sở dĩ nhà tư bản chi phối được số lao động không công ấy là vì nhà tư bản là người sở hữu tư liệu sản xuất. Câu 10: phương pháp sx GTTD tuyệt đối và tương đối: ● GTTD tuyệt đối: - Ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động cần thiết (t) là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư (t’) là 4 giờ, mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị mới là 10 đơn vị thì giá trị thặng dư tuyệt đối là 40 và tỷ suất giá trị thặng dư là: - m’ = (t/t’) . 100% = 4/4 . 100% = 100% - Nhưng nếu ta kéo dài ngày lao động thêm 2 tiếng thì t vẫn bằng 4 giờ nhưng thời gian lao động thặng dư lức này lại là t’= 6. Do đó, giá trị thặng dư tuyệt đối sẽ là 60 đơn vị và tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là: - m’ = 6/4 . 100% = 150% - Do việc tăng thời gian lao động không thể vượt quá giới hạn sinh lý của công nhân nên khi thời gian lao động không thể kéo dài thêm được nữa, nhà tư bản sẽ tìm cách tăng cường độ lao động. Về thực chất thì tăng cường độ lao động cũng tương tự như kéo dài ngày lao động. Vì vậy, tăng thời gian lao động hoặc tăng cường độ lao động là để sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối. ● GTTD tương đối: - Ngày lao động là 10 giờ, trong đó 5 giờ là thời gian lao động tất yếu và 5 giờ là thời gian lao đông thặng dư. Nhờ tăng năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, giá cả sinh hoạt rẻ hơn dẫn đến giá trị sức lao động cũng bị hạ thấp. Giả sử giá trị sức lao động giảm đi 1 giờ. Khi đó thời gian lao động tất yếu chỉ còn 4 giờ và thời gian lao động thặng dư tăng lên thành 6 giờ. Khi đó, tỷ suất giá trị thặng dư tăng từ 100% lên 150%. - - Như vậy, bằng cách tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất phục vụ cho ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt mà giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết cho công nhân giảm đi, kéo theo giá trị sức lao động của người lao động giảm đi và đem lại giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản mà không phải tăng thời gian lao động hay cường độ lao động. Câu 11: Căn cứ và ý nghĩa của các cách phân chia tư bản trên đây. Việc phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến là dựa vào vai trò của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư còn việc phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động là dựa vào phương thức chuyển dịch giá trị của chúng vào sản phẩm trong quá trình sản xuất hay dựa vào tính chất chu chuyển của tư bản. Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 - Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến phản ánh được nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư. Trong quá trình sản xuất, tư bản bất biến chỉ là điều kiện để sinh ra giá trị thặng dư còn tư bản khả biến mới là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư. Việc phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động tuy không phản ánh nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư nhưng lại có ý nghĩa quan trong trong việc quản lý kinh tế. Nó là cơ sở để quản lý, sử dụng vốn cố định và vốn lưu động một cách có hiệu quả cao. Câu 12: So sánh giá trị thặng dư với lợi nhuận, tỷ suất giá trị thặng dư và tỷ suất lợi nhuận. Tốc độ chu chuyển của tư bản có ảnh hưởng như thế nào tới nhu cầu về tư bản, tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư hằng năm? 1. Ta biết rằng, nhà tư bản bỏ ra tư bản bao gồm tư bản bất biến c và tư bản khả biến v để sản xuất ra giá trị thặng dư m. Nhưng các nhà tư bản đã đưa ra một khái niệm mới là chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa K– đó là phần giá trị bù lại giá cả của những tư liệu sản xuất © và giá cả sức lao động (v) đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hoá cho nhà tư bản, nghĩa là K = c + v Khi c + v chuyển thành K như vậy thì số tiền nhà tư bản thu được trội hơn so với chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa được gọi là lợi nhuận P. Như vậy, lợi luận thực chất là giá trị thặng dư được quan niệm là kết quả của toàn bộ tư bản ứng trước. Khi đó, giá trị hàng hoá G = c + v + m biến thành G = K + P. Về bản chất thì P chính là m nhưng cái khác nhau ở chỗ, m hàm ý so sánh với v còn P lại hàm ý so sánh nó với K = c + v. P và m thường không bằng nhau. P có thể cao hơn hoặc thấp hơn m, phụ thuộc vào giá cả hàng hoá do quan hệ cung – cầu quy định. Nhưng nếu xét trên phạm vi toàn XH, tổng lợi nhuận luôn bằng tổng giá trị thặng dư. 2. Khi giá trị thặng dư chuyển thành lợi nhuận thì tỷ suất giá trị thặng dư cũng chuyển thành tỷ suất lợi nhuận. Tỷ suất giá trị thặng dư m’ là tỷ lệ phần trăm giữa số lượng giá trị thặng dư m với tư bản khả biến v: m’ = m/v . 100 Tỷ suất lợi nhuận P’ là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước: P’ = m/(c + v) . 100 . Trong thực tế người ta thường tính P’ bằng tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuân thu được P với tổng tư bản ứng trước K: P’ = P/K . 100 . Xét về lượng thì tỷ suất lợi nhuận P’ luôn nhỏ hơn tỷ suất giá trị thặng dư m’. Về chất, tỷ suất giá trị thặng dư biểu hiện đúng mức độ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động còn tỷ suất lợi nhuận chỉ nói lên mức doanh lợi của việc đầu tư tư bản. P’ chỉ cho nhà đầu tư tư bản biết đầu tư vào đâu là có lợi. Tỷ suất lợi nhuận phụ thuộc vào tỷ suất thặng dư: tỷ suất thặng dư tăng thì tỷ suất lợi nhuận tăng; tốc độ chu chuyển tư bản, cấu tạo hữu cơ của tư bản và tiết kiệm tư bản bất biến. 3. Chu chuyển tư bản là sự tuần hoàn của tư bản được lặp đi lặp lại định kỳ, đổi mới không ngừng. Tốc độ chu chuyển tư bản là số vòng chu chuyển của tư bản trong một năm. Tốc độ chu chuyển của tư bản có ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu về tư bản, tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư. Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định làm tăng quỹ khấu hao tài sản cố định, lượng tư bản sử dụng tăng lên và tránh được những thiệt hai do hao mòn hữu hình và vô hình gây ra. Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động sẽ làm tăng lượng tư bản lưu động được sử dụng trong một năm, nhờ đó, sẽ tiết kiệm được tư bản ứng trước. Mặt khác, do tăng tỷ suất của tư bản khả biến mà tỷ suất giá trị thặng dư trong năm sẽ tăng lên. Tóm lại, tăng tốc độ chu chuyển tư bản khả biến giúp cho các nhà tư bản tiết kiệm được tư bản ứng trước, nâng cao tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư trong năm. Câu 13: Phân tích những ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ tư bản. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này. 1. Tích luỹ tư bản là quá trình chuyển một phần giá trị thặng dư trở lại thành tư bản. Nếu khối lượng giá trị thặng dư nhất định thì quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư cho tích luỹ và tiêu dùng. Nếu tỷ lệ phân chia giá trị thặng dư đã được xác định thì quy mô tích luỹ tư bản sẽ phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư. Mà khối lượng giá trị thặng dư thì lại phụ thuộc vào 3 yếu tố là trình độ bóc lột giá trị thặng dư (m’), chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng, quy mô tư bản ứng trước. Thứ nhất, quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào trình độ bóc lột giá trị thăng dư của nhà tư bản. Để tăng thêm khối lượng giá trị thặng dư, nhà tư bản không tăng thêm thiết bị, máy móc, thuê thêm nhân công mà bắt số công nhân hiện có cung cấp thêm một lượng lao động bằng cách tăng thời gian lao động và cường độ lao động, tận Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 dung triệt để công suất của máy móc hiện có, chỉ tăng thêm phần nguyên liệu tương ứng. Một cách khác là tăng năng suất lao động. Khi năng suất lao động XH tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt giảm. Điều này tạo ra hai kết quả: một là với khối giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tích luỹ có thể tăng thêm bằng cách lấn sang phần dành cho tiêu dùng mà việc tiêu dùng của nhà tư bản không giảm, có khi còn cao hơn trước; hai là một lượng giá trị thặng dư nhất định có thể mua được một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động nhiều hơn do giá tư liệu sản xuất và giá trị sức lao động giảm. Không những thế, tăng năng suất lao động sẽ làm cho giá trị của tư bản cũ tái hiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh hơn. Thứ hai là chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng. Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu sản xuất mà toàn bộ quy mô hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất hàng hoá còn tư bản tiêu dùng là phần giá trị những tư liệu sản xuất ấy được chuyển vào sản phẩm theo từng chu kỳ sản xuất dưới dạng khấu hao. Sự chênh lệch giữa chúng là thước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất. Sau khi trừ đi những tổn phí hàng ngày trong việc sử dụng máy móc và công cụ lao động, nhà tư bản sử dụng các công cụ lao động đó mà không mất thêm chi phí nào khác. Sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng càng lớn thì sự phục vụ không công của tư liệu sản xuất càng nhiều. Cuối cùng, đó là quy mô tư bản ứng trước.Theo công thức M = m’ . V, nếu tỷ suất giá trị thặng dư m’ không đổi thì khối lượng giá trị thặng dư M chỉ tăng khi tổng tư bản khả biến V tăng và tất nhiên tư bản bất biến cũng sẽ phải tăng lên theo quan hệ tỷ lệ nhất định. Do đó, muốn tăng khối lượng giá trị thặng dư phải tăng quy mô tư bản ứng trước. Đại lượng tư bản ứng trước càng lớn thì quy mô sản xuất càng được mở rộng theo chiều rộng và theo chiều sâu. 2. Nếu ta bỏ qua tính chất tư bản chủ nghĩa thì tích luỹ tư bản có ý nghĩa quan trọng trong việc tích luỹ vốn cho sản xuất. Để nâng cao quy mô tích luỹ, cần khai thác tốt nhất lực lượng lao động XH, tăng năng suất lao động, sử dụng triệt để năng lực sản xuất của máy móc, thiết bị và tăng quy mô vốn đầu tư ban đầu, khai thác các nguồn vốn nhàn rỗi trong XH. Đây chính là ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này. Câu 14: Trình bày các khái niệm chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận. Các khái niệm trên đã che dấu quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa như thế nào? 4. Đối với nhà tư bản, chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là giới hạn hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhà tư bản. Sự xuất hiện khái niệm này đã xoá đi ranh giới giữa tư bản bất biến c và tư bản khả biến v, che dấu đi nguồn gốc của giá trị thặng dư (đó là tư bản khả biến v). Khái niệm lợi nhuận thực chất cũng chỉ là biến tướng của giá trị thặng dư. Nó phản ánh sai lệch bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Theo khái niệm này thì phần dôi ra đó không phải là do giá trị sức lao động (v) của công nhân làm thuê tạo ra mà là do chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa của nhà tư bản tạo ra. Khái niệm tỷ suất lợi nhuận cũng vậy. Nó không biểu hiện đúng mức độ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động như tỷ suất giá trị thặng dư m’ (m’ càng tăng, chứng tỏ nhà tư bản bóc lột càng nhiều). Tỷ suất lợi nhuận chỉ nói lên mức doanh lợi của việc đầu tư tư bản. P’ càng tăng thì đầu tư càng có lợi Tóm lại, bằng việc đưa ra ba khái niệm trên, các nhà tư bản đã che dấu bản chất bóc lột của mình, che dấu đi cái thực chất sinh ra giá trị thặng dư là lao động không công của người công nhân làm thuê. NHÀ SX HAO PHÍ CÁ BIỆT SỐ LƯỢNG HÀNG HÓA GIÁ TRỊ CÁ BIỆT/1HH I 3H 100 3K II 5H 600 5K III 6H 200 6K IV 7H 100 7K T = 5.2H – 5.2K Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 THỜI GIAN LĐ CÁ BIỆT = GIÁ TRỊ CÁ BIỆT THỜI GIAN LĐ XH CT = GIÁ TRỊ XÃ HỘI HAO PHÍ CÁ BIỆT CỦA TỪNG NHÀ SX GIÁ TRỊ XÃ HỘI LÀ MỨC CHẤP NHẬN CHI TRẢ CỦA XÃ HỘI 1H = 1K TRƯỜNG HỢP 1: GTCB = GTXH = 5.2K GIÁ TRỊ XH CỦA HÀNG HÓA = c + v + m Giá trị XH thì chúng ta đã có m, mức trung bình, giá trị thặng dư thu được trong trường hợp này cũng chỉ ở mức trung bình, bình thường TRƯỜNG HỢP 2: GTCB > GTXH > 5.2K TRƯỜNG HỢP 3: GTCB < GTXH < 5.2K NHƯNG BÁN RA LÀ BÁN THEO MỨC 5.2K 🡪 m siêu ngạch Để có được m siêu ngạch thì GTCB < GTXH, tức là giảm GTCB, thời gian cá biệt, để giảm thời gian cá biệt thì chúng ta làm nhỉ, tăng ? TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG - CÁ BIỆT - XÃ HỘI LOGIC m siêu ngạch: Tăng NSLĐ cá biệt 🡪 giảm thời gian lao động cá biệt 🡪 giảm giá trị cá biệt 🡪 GTCB < GTXH 🡪 m siêu ngạch m siêu ngạch = GTXH – GTCB CHỈ CÓ MỘT SỐ NHÀ TƯ BẢN THU ĐƯỢC, MÀ CÓ NSLĐ CB CAO KHI TẤT CẢ NSLĐ CỦA TẤT CẢ DN TĂNG LÊN BẰNG NHAU HẾT THÌ CHÚNG TA còn m siêu ngạch ko? NSLĐXH tăng lên 🡪 m tương đối Cách thức m tuyệt đối m tương đối m siêu ngạch Kéo dài NLĐ & giữ nguyên TGLĐTY Tăng NSLĐXH để giảm TGLĐTY Tăng NSLĐCB để giảm GTCB Mình bán SLĐ 🡪 nhận được tiền công Tiền công là giá cả của SLĐ Mà chúng ta đã biết: giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị Vậy, giá cả SLĐ là biểu hiện bằng tiền của giá trị SLĐ Tiền công: - giá cả SLĐ Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 - biểu hiện bằng tiền của SLĐ Có 2 hình thức trả tiền công: - thời gian - sản phẩm 2 loại tiền công: - danh nghĩa - thực tế Danh nghĩa: số tiền mặt nhận được khi hoàn thành công việc Thực tế: số lượng HH mua được bằng tiền công danh nghĩa Danh nghĩa vs Thực tế có một yếu tố trung gian tác động đến Giá cả hàng hóa Nếu tiền công danh nghĩa không đổi, - giá cả hh tăng 🡪 tiền công thực tế giảm - giá cả hh giảm 🡪 tiền công thực tế tăng Ví dụ: Giả sử, tiền công danh nghĩa là 100k/ngày - giá cả 1 dĩa cơm = 20k 🡪 5d - giá cả 1 dĩa cơm = 25k 🡪 4d Cái gì cũng tăng mà lương không tăng Giai đoạn Hình thức biểu hiện Chức năng Mua Tb tiền tệ Mua giá trị (mua c + v) Sx Tb sản xuất = c + v Hình thành giá trị HH mới - Bảo toàn, di chuyển giá trị cũ của TLSX (c) - Tạo ra giá trị mới (v + m) 🡪G=c+v+m Bán Tb hàng hóa Thực hiện giá trị (biểu hiện giá trị thành giá cả 🡪 lượng tiền G 🡪 giá cả Giá cả = chi phí + lợi nhuận CH = 12 tháng Trường hợp 1 Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 ch = 6 tháng 🡪 n = 2, trong 1 năm tư bản chu chuyển 2 vòng 1 vòng là T – T’ 🡪 1m 2 vòng 🡪 2m 🡪 n = 2 🡪 thu được 2 m Trường hợp 2 ch = 4 tháng 🡪 n = 3, trong 1 năm tư bản chu chuyển 3 vòng 🡪 3m 🡪 n TLT m TƯ BẢN CỐ ĐỊNH & TƯ BẢN LƯU ĐỘNG TBBB = c (TLSX) = c1 (MMTB, NXCT) + c2 (NNVL) TBKB = v (SLĐ) TBSX = TBBB + TBKB = GIÁ TRỊ MMTB,NXCT + GIÁ TRỊ NNVL + GIÁ TRỊ SLĐ = c1 + c2 + v 3 TIÊU CHÍ: 1. DI CHUYỂN CÓ DỄ DÀNG KO 2. THỜI GIAN CHUYỂN HẾT GIÁ TRỊ NHANH HAY CHẬM 3. PHƯƠNG THỨC CHUYỂN GIÁ TRỊ VÀO GIÁ TRỊ HH MỚI: TỪNG PHẦN HAY TOÀN PHẦN GIÁ TRỊ MMTB, NXCT (c1) 🡪 tư bản cố định GIÁ TRỊ NNVL (c2) 🡪 tư bản lưu động GIÁ TRỊ SỨC LAO ĐỘNG (v) 🡪 tư bản lưu động TÓM LẠI TƯ BẢN CỐ ĐỊNH = c1 TƯ BẢN LƯU ĐỘNG = c2 + v TƯ BẢN BẤT BIẾN > TƯ BẢN CỐ ĐỊNH TƯ BẢN KHẢ BIẾN < TƯ BẢN LƯU ĐỘNG 2 LOẠI HAO MÒN HAO MÒN HỮU HÌNH: CẢ GTSD VÀ GT, máy bị hư HAO MÒN VÔ HÌNH: GIÁ TRỊ Ý NGHĨA: G=c+v+m c là giá trị cũ của TLSX – hao phí lao động trong quá khứ Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 v + m là giá trị mới của người công nhân tạo ra – hao phí lao động sống G = hao phí lao động quá khứ + hao phí lao động sống Để tạo ra c + v + m Thì nhà tư bản phải bỏ ra c + v c🡪c v🡪v+m chi phí k = c + v gọi là chi phí tbcn, chi phí tư bản k che dấu bản chất bóc lột G = c + v + m đúng bản chất bóc lột Nhưng khi thay c + v = k thì sẽ viết lại là: G = k + m, với ý nghĩa là k 🡪 m, nghĩa là cả c lẫn v đều tạo ra m, che dấu bản chất bóc lột k: chi phí tư bản là chi phí thường xuyên bỏ ra qua mỗi năm K: tư bản ứng trước là chi phí bỏ ra lần đầu tiên để tổ chức sản xuất Sự khác nhau giữa K và k đến từ sự khác nhau giữa tư bản cố định và tư bản lưu động Mà tư bản cố định là c1 Tư bản lưu động là c2+v Khi c + v 🡪 k Thì G = k + m Phân biệt m với p Giống nhau: về chất, vẫn là lao động không công của cn Khác nhau: Giá trị HH = c + v + m 🡪 tiền 🡪 giá cả = chi phí + lợi nhuận Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị Chi phí là biểu hiện bằng tiền của tư bản bb + tư bản khả biến Lợi nhuận là biểu hiện bằng tiền của giá trị thặng dư Giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị slđ Lợi nhuận là phần tiền dôi ra ngoài chi phí Nếu giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị thì giá trị quyết định giá cả nhưng giá cả có thể lên xuống xoay quanh giá trị và có 3 trường hợp: GC = GT GC > GT GC < GT Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Lợi nhuận là biểu hiện bằng tiền của giá trị thặng dư, m quyết định p, p có thể lên xuống xoay quanh m GC = GT 🡪 p = m G = c + v + m = 5 + 3 + 2 = 10 GC = GT = 1O: m=2 p=2 GC > GT 🡪 p > m GC > 10, chọn 15 m=2 p=7 GC < GT 🡪 p < m 1. k < GC < GT, GC = 9 m=2 p=1 ĐỂ SALES OFF, BLACK FRIDAY 2. GC = k = 8 m=2 p=0 3. GC < k, GC = 7 m=2 P = -1 v 🡪 m, bóc lột v càng cao thì m càng nhiều, để biểu thị cái trình độ bóc lột v 🡪 m’ (tsgttd) k (c+v) 🡪 p, khi chúng ta đầu tư một k nhất định 🡪 p nhất định, để biểu thị hiệu quả/hiệu suất sinh lời của k 🡪 p’ m 🡪 m’ p 🡪 p’ điểm giống nhau giữa m và p thì đều là phần giá trị slđ không được trả công của người công nhân G = c + v + m, v 🡪 m Khi c + v = k 🡪 G = k + m, k 🡪 m, m 🡪 p Vì v 🡪 m nên m’ = m/v x 100% = t’/t x 100% Vì k 🡪 p nên p’ = m/(c+v) x 100% Giả sử tui đầu tư k = c + v = 100, CTHC = c/v = 8/2 Trường hợp 1: m’ = 50% Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 G = 80c + 20v + 10m 🡪 p’ = m/k x 100% = 10/100 x 100% = 10% Đầu tư 100 thu về 10p Trường hợp 2: m’ = 100% G = 80c + 20v + 20m 🡪 p’ = 20/100 x 100% = 20% Đầu tư 100 thu về 20p Khi m’ tăng từ 50% 🡪 100% thì p’ cũng tăng tư 10% 🡪 20% 🡪 p’ TLT m’ (đpcm) Giả sử tui đầu tư k = c + v = 100, m’ = 100% Trường hợp 1: CTHC = c/v = 8/2 80c + 20v + 20m 🡪 p’ = 20% Trường hợp 2: CTHC = c/v = 9/1 90c + 10v + 10m 🡪 p’ = 10% Khi c/v tăng tư 8/2 lên 9/1 thì p’ giảm từ 20% 🡪 10% 🡪 p’ TLN c/v (đpcm) Tốc độ chu chuyển của tư bản Vận tốc trong vật lý A🡪B Vận tốc chậm thì tốn thời gian nhiều Vận tốc nhanh thì ít thời gian Vận tốc chính là số vòng quay của bánh xe trong một khoảng thời gian nhất định T – H (TLSX + SLĐ) – SX – H’ – T’ T – T’ 🡪 m Xét trong 1 năm Mà chúng ta đi nhiều vòng T – T’ thì sẽ thu về nhiều m Đi nhiều vòng hay ít vòng trong 1 năm thì tùy vào tốc độ/vận tốc chu chuyển của tư bản n = CH/ch CH: 12 tháng ch: thời gian đi 1 vòng tức là đi từ T-T’ Trường hợp 1: ch = 6 tháng 🡪 n = 2, 1 năm chu chuyển 2 vòng, mỗi vòng tạo ra 1m 🡪 thu về 2m ch = 4 tháng 🡪 n = 3 🡪 3m 🡪 n TLT m (1) Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 Mà: m’ TLT m vì m’ = m/v x 100% (2) Và: m’ TLT với p’ (3) Từ (1), (2) và (3) suy ra: p' TLT n GTTD siêu ngạch > GTTD bình thường Vì NSLĐ cá biệt > NSLĐ xã hội trung bình Tức là, trong 1 ngành thì sẽ có 1 hoặc 1 số DN có NSLĐ cá biệt > NSLĐ trung bình của toàn ngành thì nó sẽ có GTTD siêu ngạch Mà lợi nhuận siêu ngạch là hình thức biểu hiện của GTTD siêu ngạch, tức là lợi nhuận siêu ngạch > lợi nhuận trung bình của ngành đó, Tức là muốn có p siêu ngạch trong 1 ngành thì các DN trong 1 ngành phải cạnh tranh với nhau về NSLĐ Khi đó, xuất hiện 1 hoặc 1 số DN có NSLĐ cá biệt cao hơn NSLĐ mức trung bình toàn ngành thì nó có được p siêu ngạch Khi tính riêng cho mỗi ngành thì: p’ ngành = m ngành / k ngành x 100% Khi tính chung cho all ngành thì: p' bq = E m các ngành / E k các ngành x 100% p’ bq 🡪 p bq ngành pbq ngành = p’ bq x k ngành Mà: p’bq là bằng nhau hết giữa các ngành 🡪 pbq phụ thuộc vào k - Nếu k các ngành = thì pbq các ngành = - Nếu k các ngành khác nhau thì pbq khác nhau Sự biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư trong các thời kỳ của CNTB Thời kỳ Quy luật Giá trị Cạnh tranh tự do Độc quyền Cạnh tranh các ngành 🡪 p’bq 🡪 Giá trị 🡪 giá cả độc quyền pbq ngành 🡪 GCSX Quy luật giá trị 🡪 quy luật giá cả 🡪 giá trị 🡪 GCSX độc quyền: 🡪 QL giá trị 🡪 QL GCSX - giá cả thấp khi mua QL GCSX: - giá cả cao khi bán - GCSX là giá bán đầu tiên của NSX 🡪 nhà phân phối Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn) lOMoARcPSD|25759910 - GCTT là giá bán cuối cùng của NPP 🡪 người tiêu dùng - GCSX < GCTT và GCTT luôn luôn biến đổi tùy vào: cung cầu; cạnh tranh; lạm phát; tâm lý, tập quán và chính sách kinh tế của NN. Cạnh tranh các ngành 🡪 p’bq 🡪 pbq ngành. Như vậy, thay vì thu được m thì vì có cạnh tranh cho nên thu được pqb. Giá trị thặng dư m 🡪 p 🡪 pbq pbq tùy thuộc vào mức vốn đầu tư của các ngành m 🡪 lợi nhuận độc quyền cao Quy luật m 🡪 quy luật lợi nhuận độc quyền cao 🡪 QL m 🡪 QL pbq: mỗi nhà tư bản sẽ nhận được một mức pqb tùy vào p’bq và k Downloaded by Th??ng Ph?m Huy?n (thuongph22411ca@st.uel.edu.vn)
0
You can add this document to your study collection(s)
Sign in Available only to authorized usersYou can add this document to your saved list
Sign in Available only to authorized users(For complaints, use another form )