CHỦ ĐỀ RESEARCH: Phòng chống rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) & chứng sợ xã hội (SAD) ở học sinh THCS - Người thực hiện: Nguyễn Nhật Đức Minh - 1. Các lý thuyết đề xuất sử dụng - Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth Edition, Text Revision (Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần , Phiên bản thứ năm) - Phạm Toàn (2021), “Hướng dẫn Chẩn đoán Tâm lý Tâm thần theo DSM-5”, NXB Trẻ. - Aaron T. Beck, A. John Rush, Brian F. Shaw, Gary Emery (1979), "Cognitive Therapy of Depression", The Guilford Press (Mô hình Tam giác nhận thức) + Lý thuyết Tam giác nhận thức (Cognitive Triangle) là một mô hình cơ bản trong Liệu pháp Nhận thức Hành vi (Cognitive Behavioral Therapy - CBT), được phát triển bởi Aaron T. Beck vào những năm 1960. + Lý thuyết Tam giác nhận thức xuất hiện lần đầu trong bối cảnh nghiên cứu về trầm cảm và các rối loạn tâm thần khác. + Aaron T. Beck trình bày mô hình này như một phần của lý thuyết CBT vào đầu những năm 1960, trong quá trình nghiên cứu các kiểu suy nghĩ tiêu cực (negative thought patterns) và tác động của chúng đến cảm xúc và hành vi. Tài liệu bổ sung: Aaron T. Beck (1976), "Cognitive Therapy and the Emotional Disorders". Cuốn sách nền tảng mô tả CBT và Tam giác nhận thức. Dennis Greenberger & Christine A. Padesky (1995), "Mind Over Mood: Change How You Feel by Changing the Way You Think". Một hướng dẫn ứng dụng CBT dành cho người mới bắt đầu. 2. Một số vấn đề lưu ý 2.1. Tránh sử dụng cụm từ Disease/Illness (tài liệu Training TNV) + Thực tế: Disorder (Rối loạn) = Disease/Illness (Bệnh/Chứng bệnh) + Trong ngành tâm lý – tâm thần: Thuật ngữ rối loạn (disorder) được sử dụng phổ thông hơn trong ngành vì các nhà chuyên môn cho rằng hầu hết các triệu chứng tâm thần tâm lý đều phát sinh từ tình trạng rối loạn của các chức năng sinh hoạt não bộ, và hơn nữa về mặt ý nghĩa thì từ ngữ này không mang tính chất quá trầm trọng hay hàm chứa sự sỉ nhục; trong khi đó từ bệnh hay chứng bệnh (disease, illness) là ngôn ngữ được sử dụng phổ thông trong đời thường và ý nghĩa của nó thường mang tính chất trầm trọng, có tính cách quy kết, dễ gây ra những thành kiến tiêu cực cho đối tượng. Tuy vậy, trên thực tế hai từ này đều có nghĩa tương đồng và thường được các chuyên gia tâm lý tâm thần sử dụng luân phiên. 2.2. GAD và chứng sợ xã hội # Rối loạn Trầm cảm # Trầm cảm Trầm cảm (Depression) Trầm cảm có thể hiểu như bạn nói, là trạng thái cảm xúc buồn bã, chán nản, mất hứng thú, và giảm năng lượng. Đây là một phản ứng tự nhiên trước những khó khăn hoặc căng thẳng trong cuộc sống. Trạng thái này thường tạm thời và không ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng hàng ngày. Ví dụ: Một người cảm thấy buồn sau khi gặp thất bại hoặc mất mát, nhưng sau một thời gian, họ có thể tự vượt qua mà không cần can thiệp y khoa. Rối loạn trầm cảm (Major Depressive Disorder - MDD) Đây là bệnh lý tâm thần nghiêm trọng, được chẩn đoán theo các tiêu chí cụ thể trong tài liệu y khoa như DSM-5 hoặc ICD-11. Rối loạn trầm cảm không chỉ là trạng thái cảm xúc buồn mà còn đi kèm với các triệu chứng như: o Rối loạn giấc ngủ (khó ngủ hoặc ngủ quá nhiều). o Cảm giác tội lỗi, vô dụng. o Suy giảm khả năng tập trung, tư duy. o Ý định tự tử hoặc hành vi gây hại bản thân. Các triệu chứng này kéo dài ít nhất 2 tuần, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống, học tập, hoặc công việc của người bệnh. Tiêu chí Bản chất Nguyên nhân Thời gian Triệu chứng chính Ảnh hưởng đến cuộc sống Cần can thiệp y tế Tiêu chí chẩn đoán Ví dụ cụ thể Trầm cảm (Depression) Trạng thái cảm xúc tạm thời, phản ứng tự nhiên với áp lực hoặc mất mát. Rối loạn trầm cảm (MDD) Bệnh lý tâm thần nghiêm trọng, được xác định bởi tiêu chí y khoa. Có thể do các sự kiện tiêu cực trong Do sự kết hợp giữa yếu tố di cuộc sống, như thất bại, mất mát, căng truyền, sinh học, tâm lý và môi thẳng. trường. Ngắn hạn, thường kéo dài vài ngày đến Kéo dài ít nhất 2 tuần hoặc hơn, vài tuần. có thể tái diễn nhiều lần. Buồn bã, chán nản, mất năng lượng - Buồn sâu sắc, mất hứng thú. nhưng không quá nghiêm trọng. - Rối loạn giấc ngủ, ăn uống. - Cảm giác tội lỗi, vô dụng, suy giảm tư duy. - Ý nghĩ tự tử hoặc hành vi gây hại bản thân. Ảnh hưởng nhẹ, người mắc có thể vẫn Ảnh hưởng nghiêm trọng đến duy trì hoạt động hàng ngày. học tập, công việc, các mối quan hệ. Không nhất thiết, có thể tự hồi phục Cần chẩn đoán và điều trị y tế nếu tìm được nguồn hỗ trợ cảm xúc (dùng thuốc, trị liệu tâm lý hoặc hoặc vượt qua khó khăn. cả hai). Không yêu cầu chẩn đoán y khoa. Dựa trên các tiêu chí chẩn đoán chính thức như DSM-5 hoặc ICD-11. Một học sinh buồn vì bị điểm kém Một học sinh liên tục buồn bã, trong kỳ thi, nhưng cảm giác này biến không tập trung học tập, và có ý mất sau vài ngày. nghĩ tự tử trong hơn 2 tuần. 2.3. Lo âu # Sợ hãi # Chứng hoảng hốt Sợ hãi là một phản ứng cảm xúc đối với mối đe dọa có thật trước mắt hay do ý thức rằng mối đe dọa đang có tiềm năng xảy ra. Nhưng lo âu lại là một hình thức nghĩ ngợi, e rằng có mối đe dọa nào đó sẽ xảy ra cho mình trong tương lai. Cả hai hành vi có vẻ tương tự nhau về mặt ý nghĩa, nhưng chúng vẫn có điểm khác nhau về mặt phản ứng của cá nhân. Sự sợ hãi luôn đi kèm với những kích động có tính tự động ngay trong hiện tại, hoặc phải sẵn sàng chống trả hoặc phải trốn chạy, cảm xúc và tâm trí cấp thời phải đối phó với nguy cơ đang xảy ra trước mắt; trong khi đó sự lo âu lại mang tính quan tâm, cẩn trọng và chuẩn bị cho nguy cơ có thể xảy ra trong tương lai, hoạt động các cơ bắp có thể bị căng cứng, nhưng hành vi lại không có tính sẵn sàng cấp thời. Cơn hoảng hốt (Panic Attack Specifier) Trái với các DSM trước, cơn hoảng hốt không còn được xem là một loại bệnh chính thức và có mã số riêng. Bởi vì cơn hoảng hốt có thể xảy ra trong bối cảnh của bất cứ các chứng rối loạn lo âu nào, cũng như trong các trường hợp rối loạn tâm thần khác chẳng hạn các loại bệnh Rối loạn trầm cảm, Rối loạn căng thẳng hậu chấn thương, Rối loạn tâm thần do ảnh hưởng của chất gây nghiện, vv.. và ngay cả trong trường hợp có các điều kiện y học, như các loại bệnh thuộc về tim, phổi, dạ dày, v.v.. Vậy từ đây DSM-5 xem cơn hoảng hốt như là một đặc điểm với một loại chẩn đoán nào đó. Cơn hoảng hốt là một trạng thái sợ hãi hay khó chịu bất ngờ bùng lên trong tâm trí trong khoảng vài phút, và trong khi đó có ít nhất là 4 hay nhiều hơn các triệu chứng sau đây: 1. Hồi hộp, tim đập thình thịch, nhịp tim gia tăng; 2. Toát mồ hôi; 3. Run rẩy; 4. Cảm thấy hụt hơi hay ngạt thở; 5. Cứng họng; 6. Tức ngực; 7. Buồn nôn hay bụng dạ khó chịu; 8. Choáng váng, nhức đầu, đi không vững hay ngất xỉu; 9. Cảm giác cóng lạnh hoặc nóng sốt; 10. Cảm thấy da thịt tê cứng hay rần rần; 11. Mất ý thức thực tại, hay nhân cách bị giải thể; 12. Tâm trí mất kiểm soát và kiềm chế; 13. Sợ bị chết. Lưu ý: Cơn hoảng hốt có thể xảy ra bất ngờ, không cần thiết phải có điều kiện là cá nhân đang ở trong trạng thái bình thản hay trong tâm trạng đang lo lắng. Cũng cần phát hiện và loại bỏ các triệu chứng có liên quan đến tính cách văn hóa đặc thù. Chẳng hạn, người dân trong một số nền văn hóa, khi có chuyện gì không vừa ý thì thường kêu van là bị ù tai, nhức đầu, đắng họng, hoặc kêu khóc thảm thiết. 2.4. Cần nắm rõ nguyên tắc về sự phân lập trong bài giảng này: thứ gì có thể thay đổi và thứ gì khó hoặc ngoài tầm kiểm soát. VD về những điều ngoài tầm kiểm soát: Các yếu tố sinh học, tính chất tâm căn hoặc một số yếu tố gia đình & môi trường sống. 3. Hệ thống kiến thức trọng tâm 3.1. Rối loạn lo âu lan tỏa (Rối loạn lo âu tổng quát – GAD) Case study: 3.1.1. Định nghĩa: Là 1 trạng thái lo lắng (lo âu) (anxiety) và băn khoăn (mong chờ cái gì xảy ra) (worry) một cách thái quá về những sự cố hay hành động nào đó. 3.1.2. Phân biệt giữa triệu chứng lo lắng và băn khoăn ở GAD với sự lo lắng và băn khoăn rất thường tình ở người bình thường: GAD 1. Mức độ biểu hiện & - Luôn ở mức quá đáng, thường không kiềm chế khả năng kiểm soát được. => Ảnh hưởng đến các chức năng tâm lý. - Luôn có tính cách kiên 2. Tính chất trì & liên tục trong 1 thời gian dài. - Không biết, không đoán trước là phải lo lắng cho 1 điều gì cụ thể. - Các triệu chứng thường có khuynh hướng khi nổi bật, khi tiềm tàng, nhưng có tính cách mãn tính, tồn tại mãi trong cuộc sống. - Hiếm khi có trường hợp hoàn toàn hồi phục. 3. Mối liên kết với các - Có những sự buồn rầu và bực bội vì bị giảm sút triệu chứng thể lý Người bình thường - Mang tính tự nhiên, có thể kiểm soát & ngăn chặn được. - Không nhất thiết phải mang tính cách kiên trì & dai dẳng. - Có định hướng, biết rõ điều gì cần lo nghĩ tới. - Ít có đi kèm với các triệu chứng của cơ thể nhiều về năng lực sinh hoặc những cảm giác hoạt trong công việc làm căng thẳng, hồi hộp, & trong các mối quan hệ không an tâm… giao tiếp bên ngoài. 3.1.3. Phân biệt GAD, SAD và chứng sợ phân ly Tiêu chí Rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) Định nghĩa Lo lắng quá mức và dai dẳng về các vấn đề hàng ngày mà không có nguyên nhân cụ thể. Học sinh THCS, Thường gặp ở trẻ em nhỏ thường xuất hiện ở hơn (tiểu học), nhưng có cả nam và nữ. thể kéo dài tới độ tuổi THCS. Lo lắng về học - Sợ hãi hoặc khó chịu khi tập, gia đình, sức xa người thân hoặc rời khỏe, tương lai mà khỏi nhà. không có lý do cụ - Ác mộng về sự xa cách. thể. - Lo lắng rằng điều xấu sẽ xảy ra với người thân. Bồn chồn, căng Lo âu tột độ, hoảng loạn thẳng, dễ cáu gắt, khi xa người thân, có thể cảm giác bị áp lực. đi kèm cảm giác tội lỗi hoặc buồn bã. - Khó tập trung, - Bám dính người thân, mất ngủ, hay lo không muốn rời xa họ. nghĩ quá mức. - Né tránh việc đi học, - Tránh né các tình tham gia hoạt động không huống gây căng có người thân bên cạnh. thẳng nhưng không cụ thể. - Di truyền, căng - Mất mát lớn (như cha thẳng lâu dài. mẹ ly hôn, mất người - Áp lực từ gia thân). đình và xã hội. - Phụ thuộc quá mức vào - Môi trường học người chăm sóc. tập căng thẳng. - Tổn thương tâm lý trong quá khứ. - Ảnh hưởng đến - Hạn chế tham gia các học tập, mất tự tin. hoạt động học tập và xã Đối tượng phổ biến Triệu chứng chính Cảm xúc đi kèm Hành vi đi kèm Nguyên nhân Hậu quả Rối loạn lo sợ phân ly (Separation Anxiety Disorder) Lo lắng quá mức về việc tách rời khỏi người thân hoặc nơi ở an toàn, sợ hãi khi phải xa người chăm sóc chính. Chứng sợ xã hội (Social Anxiety Disorder) Nỗi sợ hãi mạnh mẽ và dai dẳng khi phải thực hiện hoặc giao tiếp trước người khác, sợ bị đánh giá và xấu hổ. Học sinh THCS, đặc biệt phổ biến ở lứa tuổi dậy thì (thường gặp ở nữ hơn nam). - Né tránh các tình huống giao tiếp xã hội (như phát biểu trước lớp). - Run rẩy, đỏ mặt, khó nói chuyện. - Sợ bị chỉ trích, đánh giá. Sợ hãi, xấu hổ, tự ti, cảm giác cô lập. - Né tránh giao tiếp xã hội (như trò chuyện, tham gia hoạt động nhóm). - Tránh các sự kiện hoặc tình huống có đông người như thuyết trình. - Áp lực từ bạn bè, thầy cô, xã hội. - Trải nghiệm tiêu cực trong giao tiếp như bị bắt nạt, phán xét. - Gây cảm giác cô lập, giảm khả năng hòa nhập xã hội. - Dễ dẫn đến trầm cảm nếu kéo dài. Phương pháp hỗ trợ - Thực hành kỹ năng quản lý lo âu (như thở sâu, viết nhật ký). - Thay đổi suy nghĩ tiêu cực qua CBT. Mức độ chồng chéo - Có thể đi kèm lo sợ phân ly hoặc sợ xã hội trong một số trường hợp. hội. - Gây cản trở đến sự phát triển độc lập của trẻ. - Tăng dần sự tự lập qua các hoạt động xa người thân ngắn hạn. - Hỗ trợ tâm lý từ chuyên gia hoặc giáo viên. - Tạo môi trường an toàn và khuyến khích. - Thường đi kèm lo âu lan tỏa, đặc biệt khi xa người thân lâu dài. - Ảnh hưởng tiêu cực đến thành tích học tập và mối quan hệ bạn bè. - Rèn luyện kỹ năng giao tiếp xã hội. - Áp dụng CBT để thay đổi nhận thức về phán xét xã hội. - Tạo cơ hội tham gia hoạt động nhóm để xây dựng sự tự tin. - Có thể chồng chéo với lo âu lan tỏa khi học sinh không chỉ sợ xã hội mà còn lo lắng về nhiều khía cạnh khác (học tập, tương lai, sức khỏe). 3.1.4. Các triệu chứng đi kèm (ít nhất 3 triệu chứng sau): + Cảm giác căng thẳng, hồi hộp, tâm trí không yên ổn + Cảm thấy mệt mỏi, đuối sức, mất tập trung, đầu óc trống rỗng, bẳn gắt, căng thẳng cơ bắp + Giấc ngủ bị rối loạn - Những cá nhân có GAD thường cho biết họ luôn cảm thấy tinh thần căng thẳng & lo lắng trong suốt cả cuộc sống. 3.1.5. Độ tuổi phát sinh GAD: - Lứa tuổi nào cũng có thể mắc phải chứng rối loạn này; tuy nhiên, những thống kê cho biết tuổi trung bình của sự bắt đầu các triệu chứng là 30. - Các triệu chứng thường hiếm khi phát sinh trước lứa tuổi vị thành niên. - Tính chất & nội dung của những vấn đề lo lắng và băn khoăn của mỗi độ tuổi cũng thường khác nhau: + Đối với trẻ em & vị thành niên: thường có sự lo âu về việc ăn học và các trò vui chơi, thể dục thể thao… + Đối với người trưởng thành: thường lo lắng và băn khoăn về vấn đề công việc, chuyện tình duyên, gia đình vợ con và sức khỏe. + Đối với người cao tuổi: lo lắng về sức khoẻ bản thân, gia đình con cháu nhưng mức độ của những triệu chứng lo lắng và băn khoăn không trầm trọng như người trẻ tuổi. 3.1.6. Các nguyên nhân phát sinh GAD - Tính bẩm sinh & môi trường sống đều góp phần vào sự phát sinh chứng rối loạn lo âu lan tỏa: Sinh học: + Ước tính có khoảng 1/3 số người có chứng GAD có nguyên nhân từ yếu tố di truyền. + Nữ thường có con số gấp đôi nam về GAD. + Trẻ có tính cách bẩm sinh là nhút nhát, hành vi nông nổi, tinh thần thường bối rối, tâm trí không yên ổn cũng dễ phát sinh GAD hơn khi có điều kiện nảy sinh. Tâm lý: + Trẻ em có quá trình nuôi dưỡng hoặc là quá được bảo vệ che chở, hoặc đã trải qua những nghịch cảnh như bị bỏ rơi, bị trừng phạt thường mắc GAD khi lớn lên. Xã hội: + Số lượng người có chứng rối loạn này thường chênh lệch tùy theo từng vị trí và môi trường sinh sống. Tính đặc thù về văn hóa và xã hội cũng có phần tác động vào nguyên nhân gây ra GAD. VD: Con người sống tại các vùng thành thị có sự sinh hoạt tấp nập và đông đảo thường có con số mắc chứng rối loạn này cao hơn so với những người sống ở các khu vực chưa phát triển, nhịp sống còn đang yên tĩnh, chậm chạp hay các vùng thôn quê dân số còn đang thưa thớt. 3.1.7. Các tiêu chuẩn theo DSM-5 A. Một trạng thái lo lắng và băn khoăn hiện rõ, xảy ra hầu hết mỗi ngày trong ít nhất là 6 tháng, về một sự cố hay hoạt động (chẳng hạn như công việc làm, việc học…) B. Cá nhân cảm thấy khó kiềm chế được sự lo lắng C. Cảm giác lo lắng và băn khoăn phải phối hợp với 3 hay nhiều hơn trong số 6 triệu chứng dưới đây. Ít nhất phải có 1 số triệu chứng biểu hiện trong đa số các ngày của thời hạn 6 tháng. Lưu ý: Trẻ em chỉ cần 1 triệu chứng 1. Tâm trí không yên ổn, hay căng thẳng, hồi hộp 2. Mệt mỏi, yếu sức 3. Trí óc khó tập trung, hay đầu óc trống rỗng 4. Bực bội khó chịu 5. Cơ bắp bị căng cứng 6. Rối loạn giấc ngủ (khó đi vào giấc ngủ, trằn trọc, bồn chồn, không thỏa mãn với giấc ngủ) D. Sự lo lắng, băn khoăn hay các triệu chứng cơ thể gây ra cảm giác buồn bực hay hụt hẫng, giảm sút các chức năng sinh hoạt trong công việc và mọi tương tác, giao tiếp bên ngoài. E. Sự lo lắng và băn khoăn không phải do tác động sinh lý của các chất gây nghiện, hay toa thuốc, hay một điều kiện y học nào, như bệnh bướu cổ F. Các triệu chứng lo lắng và băn khoăn không phải xuất phát từ các loại bệnh tâm thần, như Rối loạn hoảng sợ, chứng Sợ xã hội, chứng Rối loạn ám ảnh cưỡng bức, chứng Lo sợ phân ly, Rối loạn căng thẳng hậu chấn thương (PTSD), Rối loạn hình ảnh cơ thể, và các Rối loạn loạn thần khác. 3.2. Chứng sợ xã hội (Social Anxiety Disorder) (Social Phobia) 3.2.1. Định nghĩa Cá nhân có chứng sợ xã hội thường thiếu sự xác quyết, hay đánh giá thấp về khả năng nói năng, cư xử và giao tiếp của mình. 3.2.2. Các biểu hiện - Thường bị bối rối, run sợ, toát mồ hôi, hay đỏ mặt, cử chỉ và dáng điệu vụng về, mất tự nhiên, cảm thấy nhức đẩu, buồn nôn, nói năng lạc giọng, hụt hơi, và mắt không dám nhìn thẳng vào ai khi ở trong tình huống trò chuyện, phát biểu, hội họp hay trình diễn vấn đề gì trước đám đông. - Cá nhân luôn có cảm giác lo lắng, sợ bị xoi mói, đánh giá, phán xét, phản đối, hay sợ bị chê trách, chế giễu, bị gán cho nhãn hiệu ngu dốt, hay khùng điên, v.v.. - Cũng có một số cá nhân lo sợ sự phát biểu của mình sẽ làm mất lòng, gây khó khăn thiệt thòi cho người đang có mặt, hoặc sợ sẽ bị họ cự tuyệt, bác bỏ. - Cá nhân có chứng sợ xã hội thường cố né tránh các tình huống phải xuất hiện trước đám đông. Trong những trường hợp bất khả kháng thì thường rất lo âu bối rối, ăn ngủ thất thường, luôn có những lo lắng không cần thiết, bỏ ra rất nhiều thời giờ để sắp xếp, chuẩn bị nhiều vấn đề đôi khi không liên quan gì đến trọng tâm của những cuộc gặp gỡ, chuyện trò, tiệc tùng ăn uống, hay viết lách, làm việc, đọc diễn văn, trình diễn mà sắp đến mình phải đối diện. 3.2.3. Tính chất Các triệu chứng sợ hãi và lo lắng của cá nhân có chứng sợ xã hội luôn mang tính chất quá đáng, không hợp lý, có tính kiên định và rập khuôn, vượt ra ngoài mức bình thường của những sự hãi và lo lắng ngắn ngủi và thoáng qua rất bình thường của người không có chứng tật khi đối diện với những khó khăn trong các cuộc giao tiếp thường nhật. 3.2.4. Tác động Các triệu chứng sợ hãi và lo lắng của chứng sợ xã hội gây ra những tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực sinh hoạt thường ngày của cá nhân, bao gồm công việc làm ăn, việc học hành, giao tiếp và tương tác với cá nhân và xã hội, và chúng luôn gây ra sự bực bội và buồn khổ cho cá nhân. Vậy nếu cá nhân chỉ có tật sợ phát biểu trước đám đông không thôi thì đây chỉ là một đặc điểm của chứng sợ xã hội chứ chưa đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán cho chứng sợ xã hội. Nói cách khác, các triệu chứng lo âu và sợ hãi phải có những ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp đến các chức năng sinh hoạt trong công việc làm ăn, trong học tập, và trong mọi sinh hoạt có ý nghĩa khác của cá nhân, và đặc biệt chúng thường quấy rầy, tạo sự buồn bực, khổ sở cho cá nhân. 3.2.5. Tính linh hoạt trong từng tình huống Cũng có những tình huống thật sự gây ra sự sợ hãi hay lo lắng một cách tự nhiên, và nếu thế thì không thể chẩn đoán cho những cá nhân nào nằm trong tình huống này là có chứng sợ xã hội. Nhưng mức độ và hình thức sợ hãi hay lo lắng cũng có thay đổi tùy theo từng tình huống; do đó cần nhận định rõ mức độ khác biệt giữa hai trạng thái lo lắng và sự hoảng hốt kinh khiếp. Trẻ nhỏ thường phản ứng với tình huống gây kinh ngạc sợ hãi cho trẻ bằng các hành động khóc lóc, giận dỗi, run rẩy, co quắp, hay đứng sững. Tiêu chuẩn chẩn đoán về thời kỳ bệnh là các triệu chứng phải có sự liên tục trong ít nhất là 6 tháng. Tuy nhiên vấn đề thời kỳ bệnh vẫn được DSM-5 cho phép có thể uyển chuyển tùy theo từng trường hợp. 3.2.6. Độ tuổi phát sinh SAD - Triệu chứng thường phát sinh trong thời kỳ còn trẻ, tình trung bình là vào khoảng giữa 8 đến 15. - Trẻ em có các triệu chứng này thường có quá trình trải nghiệm những biến cố trong đó trẻ đã bị bắt nạt, hiếp đáp, hay trẻ thường bị trêu chọc, chế giễu, cấm cản không cho tự phát triển các khả năng liên quan đến sự học hỏi và các trò vui chơi, hoặc không may mắn có được người lớn quan tâm hướng dẫn và hỗ trợ đến nhưng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu thường ngày của trẻ. - Trẻ em và vị thành niên có chứng sợ xã hội thường gặp nhiều khó khăn trong học hành, tránh né tiếp xúc và kết nối bè bạn. - Người trưởng thành thường bị hụt hẫng nhiều cơ hội tốt trong công việc làm, khó hoặc trì hoãn chuyện trai gái vợ chồng, thường có hành vi rút lui và dễ rơi vào những trường hợp nghiện ngập. - Chứng sợ xã hội thường trầm trọng hơn trong số những người cao tuổi có các bệnh thể chất như tim mạch, bệnh Parkinson, kém trí nhớ, vv.. Do đó, thiết lập chẩn đoán chứng sợ xã hội cho người cao tuổi cần chú ý đến những yếu tố liên quan đến các trường hợp mang tính cách bệnh đồng thời, như các triệu chứng bệnh của thể chất, bệnh rối loạn dạng tâm thể (psychosomatic illness), tác động do sự thay đổi môi trường sống, hay sự thay đổi vai trò xã hội của họ, vv.. 3.2.7. Các nguyên nhân phát sinh SAD Sinh học: Chứng sợ xã hội có tính di truyền khá cao. + Nhiều thống kê cho thấy những thân nhân nằm trong thế hệ thứ nhất thường có từ 2 đến 6 lần khả năng lây lan. + Chẳng hạn, tập quán che giấu, kiểm giữ hành vi trong cư xử và ăn nói thường có tính di truyền giữa các thân nhân trong gia đình. Tâm lý: Những đứa trẻ có quá trình sống trong nghịch cảnh, từng bị ức hiếp, bị đối xử tàn tệ thì về sau dễ có nguy cơ trở thành những cả nhân có chứng sợ xã hội. Xã hội: Môi trường sống và các nét đặc thù về văn hóa cũng có những tác động nhất định vào sự phát sinh chứng sợ xã hội. Chẳng hạn, ở một số cộng đồng thường không cho phép trẻ nhỏ được quyền có những phát biểu hay nhận định riêng tư, hoặc trẻ em thường được giáo dục để trở nên quá cẩn trọng đến độ rụt rè trong mọi tương tác và giao tiếp. Người Việt có câu: “Con chim nhát là con chim sống” thường sử dụng để khuyên bảo trẻ thơ khiến trẻ dễ trở nên người có tính e ngại, rụt rè, không dám có những hành vi khám phá, mạo hiểm khi lớn lên. 3.2.8. Các tiêu chuẩn theo DSM-5 A. Sự sợ hãi hay lo lắng hiện rõ đối với một hay nhiều tình huống xã hội trong đó cá nhân cẩn thận xem xét thái độ của người khác khi nằm trong những trường hợp tương tác trong xã hội, như chuyện trò, đàm đạo, sinh hoạt hội họp với những người không quen thuộc. Hoặc những trường hợp cảm thấy mình bị quan sát, như khi đang ăn uống. Hoặc các trường hợp trình diễn trước đám đông. như đọc diễn văn. Lưu ý: Với trẻ nhỏ thì sự lo lắng phải xảy ra trong các bối cảnh bạn bè cùng trang lứa chứ không phải chi trong các bối cảnh với người lớn không thôi. B. Cá nhân sợ mình sẽ hành động hay biểu lộ các triệu chứng lo lắng khiến bị người ta có những đánh giá tiêu cực về mình. Chẳng hạn cảm giác hổ thẹn và bối rối có thể dẫn đến sự khó chịu và phản ứng từ chối của người khác. C. Các tình huống xã hội hầu như phải có tính chất kích động gây ra sự sợ hãi hay lo lắng. Lưu ý: Trẻ nhỏ thường diễn tả sự sợ hãi hay lo lắng bằng cách khóc than, giận hờn, cáu gắt, tê cóng, bám chặt vào người lớn, hay không thốt ra lời tại hiện trường. D. Cá nhân luôn tránh né các tình huống xã hội, hoặc phải chịu đựng với sự sợ hãi hay lo lắng quá đáng. E. Sự sợ hãi hay lo lắng hoàn toàn không cân xứng với mối đe dọa thật sự của tình huống và phù hợp với bối cảnh văn hóa xã hội. F. Sự sợ hãi, lo lắng, hay hành vi tránh né là kiên trì và kéo dài ít nhất là từ 6 tháng trở lên. G. Sự sợ hãi, lo lắng, hay hành vi tránh né làm cho cá nhân cảm thấy bực dọc buồn khổ, hoặc gây ra hư hỏng các chức năng hành xử trong các lĩnh vực tương tác trong xã hội và công việc làm. H. Sự sợ hãi, lo lắng hay tránh né không phải là vì các hiệu quả sinh lý phát sinh từ sự sử dụng các chất liệu gây nghiện hay thuốc men, hoặc do các điều kiện đau ốm cơ thể. I. Sự sợ hãi, lo lắng hay tránh né không có nguyên nhân phát sinh từ các triệu chứng rối loạn tâm thần khác, như chứng Rối loạn hoảng sợ (panic disorder), Rối loạn hình ảnh cơ thể (body dysmorphic disorder), hay Rối loạn phổ tự kỷ (spectrum autism disorder). J. Nếu có các điều kiện y học như bệnh Parkinson, thương tích hay bị phỏng, vv.. khiến gây ra các triệu chứng sợ hãi, lo lắng hay tránh né thì, hoặc là chúng không liên quan gì đến chứng sợ xã hội, hoặc chúng chỉ là những điều kiện bên cạnh làm gia tăng tính trầm trọng của chứng sợ xã hội. 4. Ý tưởng xây dựng khung lý thuyết 4.1. Mục tiêu của khung lý thuyết - Cung cấp nền tảng khoa học đơn giản, dễ hiểu giúp học sinh nhận biết và hiểu rõ về rối loạn lo âu lan tỏa (Generalized Anxiety Disorder - GAD) và chứng sợ xã hội (Social Anxiety Disorder - SAD). - Hướng dẫn các phương pháp ứng phó thực tế giúp học sinh giảm thiểu lo âu và xây dựng sự tự tin trong giao tiếp xã hội. - Tăng cường nhận thức về sức khỏe tâm thần và khuyến khích học sinh chủ động tìm kiếm sự giúp đỡ khi cần thiết. 4.2. Cấu trúc khung lý thuyết 4.2.1. Hiểu về rối loạn lo âu lan tỏa và chứng sợ xã hội a. Khái niệm: Giới thiệu rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) và chứng sợ xã hội (SAD). b. Dấu hiệu nhận biết: - Lo âu lan tỏa - Sợ xã hội c. Hậu quả Gây ảnh hưởng tiêu cực đến học tập, các mối quan hệ, và sức khỏe tâm thần. 4.2.2. Nguyên nhân và cách nhận diện lo âu thông qua Tam giác nhận thức a. Yếu tố sinh học Di truyền từ gia đình. Mất cân bằng hóa chất trong não (như serotonin). b. Yếu tố cá nhân Tự ti, thiếu tự tin vào bản thân. Kỳ vọng cao từ gia đình hoặc bản thân. c. Yếu tố môi trường Áp lực từ bạn bè, thầy cô, hoặc xã hội. Trải nghiệm tiêu cực như bị phán xét, bắt nạt. d. Mô hình Tam giác nhận thức Giải thích mối quan hệ giữa suy nghĩ, cảm xúc và hành vi. Học sinh thực hành nhận diện suy nghĩ tiêu cực và cách chúng dẫn đến cảm xúc lo âu, hành vi né tránh. Ví dụ minh họa: Tình huống: Học sinh được gọi phát biểu trước lớp. Suy nghĩ tiêu cực: "Mình sẽ làm sai và bị bạn bè cười." Cảm xúc: Lo lắng, hồi hộp. Hành vi: Né tránh, không phát biểu. Chuyển hóa: "Mình có thể cố gắng thử, dù chưa hoàn hảo nhưng sẽ tốt hơn lần sau." 4.2.3. Phương pháp phòng chống và ứng phó a. Kỹ thuật thở và thư giãn Hướng dẫn học sinh thực hành thở sâu, thư giãn cơ bắp để giảm căng thẳng tức thời. b. Tăng cường kỹ năng giao tiếp Rèn luyện cách nói lời cảm ơn, xin lỗi, hoặc bày tỏ ý kiến cá nhân. c. Sử dụng Tam giác nhận thức để giải quyết vấn đề Phân tích một tình huống thực tế (tự làm bài kiểm tra, phát biểu trước lớp, tham gia hoạt động nhóm). Xác định: 1. Suy nghĩ tiêu cực. 2. Cảm xúc đi kèm. 3. Hành vi phát sinh. Thay thế suy nghĩ tích cực và điều chỉnh hành vi. 4.2.4. Xây dựng thói quen ứng phó lành mạnh Lo âu không phải là lỗi của ai cả: Giải thích cho học sinh hiểu rằng cảm giác lo âu là bình thường và có thể kiểm soát được. Khuyến khích sự đồng cảm: Thảo luận về cách hỗ trợ bạn bè khi họ gặp vấn đề lo âu hoặc sợ xã hội. Khuyến khích tìm kiếm sự hỗ trợ: Thảo luận với giáo viên, bạn bè hoặc phụ huynh khi cảm thấy lo lắng quá mức. 4.3. Khung lý thuyết theo 4C 5. Nguồn đọc bổ sung Anxiety disorders are among the most common disorders in youth, affecting 10 to 20 percent of children and adolescents. Although observable anxiety behaviors mark normative development in infants, anxiety disorders in childhood predict a wide range of psychological difficulties in adolescence, including additional anxiety disorders, panic attacks, and depressive disorders. Fear is an expected response to a real or perceived threat; however, anxiety is the anticipation of future danger. The main characteristic of all the anxiety disorders is a recurrent emotional and physiologic arousal in response to excessive perceptions of perceived threat or danger. Anxiety disorders commonly found in youth include separation anxiety disorder, generalized anxiety disorder, social anxiety disorder, and selective mutism. We classify them by how the anxiety is experienced, the situations that trigger it, and the course that it tends to follow. Rối loạn lo âu là một trong những rối loạn phổ biến nhất ở thanh thiếu niên, ảnh hưởng đến 10 đến 20% trẻ em và thanh thiếu niên. Mặc dù các hành vi lo âu có thể quan sát được đánh dấu sự phát triển bình thường ở trẻ sơ sinh, rối loạn lo âu ở thời thơ ấu dự đoán một loạt khó khăn tâm lý ở tuổi vị thành niên, bao gồm các rối loạn lo âu bổ sung, cơn hoảng loạn và rối loạn trầm cảm. Sợ hãi là một phản ứng được mong đợi đối với một mối đe dọa thực sự hoặc được nhận thức; tuy nhiên, lo âu là sự dự đoán về mối nguy hiểm trong tương lai. Đặc điểm chính của tất cả các rối loạn lo âu là sự kích thích về mặt cảm xúc và sinh lý tái diễn để đáp ứng với nhận thức quá mức về mối đe dọa hoặc nguy hiểm được nhận thức. Các rối loạn lo âu thường gặp ở thanh thiếu niên bao gồm chứng sợ phân ly, rối loạn lo âu tổng quát, rối loạn lo âu xã hội và chứng câm chọn lọc. Chúng tôi phân loại chúng theo cách trải nghiệm sự lo âu, các tình huống kích hoạt nó và quá trình mà nó có xu hướng diễn ra. Separation anxiety disorder, generalized anxiety disorder, and social anxiety disorder in children are often considered together in the evaluation process and differential diagnosis, and in developing treatment strategies, because they are highly comorbid and have overlapping symptoms. A child with separation anxiety disorder, generalized anxiety disorder, or social anxiety disorder has a 60 percent chance of having at least one of the other two disorders as well. Of children with one of the above anxiety disorders, 30 percent have all three of them. Children and adolescents may also have additional comorbid anxiety disorders such as specific phobia or panic disorder. Separation anxiety disorder, generalized anxiety disorder, and social anxiety disorder are distinguished from each other by the types of situations that elicit excessive anxiety and avoidance behaviors. Chứng sợ phân ly, rối loạn lo âu tổng quát và rối loạn lo âu xã hội ở trẻ em thường được xem xét cùng nhau trong quá trình đánh giá và chẩn đoán phân biệt cũng như trong việc phát triển các chiến lược điều trị vì chúng có nhiều bệnh đi kèm và có các triệu chứng chồng chéo. Một đứa trẻ mắc chứng rối loạn lo âu chia ly, rối loạn lo âu tổng quát hoặc rối loạn lo âu xã hội có 60% khả năng mắc ít nhất một trong hai chứng rối loạn còn lại. Trong số trẻ em mắc một trong những chứng rối loạn lo âu nêu trên, 30% mắc cả ba chứng rối loạn lo âu đó. Trẻ em và thanh thiếu niên cũng có thể mắc thêm các rối loạn lo âu đi kèm như ám sợ cụ thể hoặc rối loạn hoảng sợ. Chứng sợ phân ly, rối loạn lo âu tổng quát và rối loạn lo âu xã hội được phân biệt với nhau bởi các loại tình huống gây ra hành vi lo lắng và né tránh quá mức. GENERALIZED ANXIETY DISORDER Children with generalized anxiety disorder have significant distress in activities of daily life, often focused on the child’s fears of incompetence in many areas, including school performance and in social settings. Also, children with generalized anxiety disorder, according to DSM-5, experience at least one of the following symptoms: restlessness, being easily fatigued, “mind going blank,” irritability, muscle tension, or sleep disturbance. Children with generalized anxiety disorder tend to feel fearful in multiple settings and expect more negative outcomes when faced with academic or social challenges, compared with peers. Children and adolescents with generalized anxiety disorder may experience symptoms of autonomic hyperarousal such as tachycardia, shortness of breath, or dizziness, and are more likely than nonanxious youth to experience sweating, nausea, or diarrhea when they become anxious. Children and adolescents with generalized anxiety disorder tend to be overly concerned about potential natural disasters such as earthquakes or floods, and these worries can interfere with their daily activities. Finally, children and adolescents with generalized anxiety disorder are continuously worried about the quality of their performance in academics, sports, and other activities, and often seek excessive reassurance about their performance. Trẻ mắc chứng rối loạn lo âu lan tỏa thường gặp khó khăn đáng kể trong các hoạt động của cuộc sống hàng ngày, thường tập trung vào nỗi sợ hãi về khả năng kém cỏi của trẻ trong nhiều lĩnh vực, bao gồm kết quả học tập và môi trường xã hội. Ngoài ra, trẻ mắc chứng rối loạn lo âu tổng quát, theo DSM-5, gặp ít nhất một trong các triệu chứng sau: bồn chồn, dễ mệt mỏi, “đầu óc trống rỗng”, khó chịu, căng cơ hoặc rối loạn giấc ngủ. Trẻ mắc chứng rối loạn lo âu lan tỏa có xu hướng cảm thấy sợ hãi ở nhiều môi trường khác nhau và mong đợi nhiều kết quả tiêu cực hơn khi đối mặt với những thách thức về học tập hoặc xã hội so với các bạn cùng lứa tuổi. Trẻ em và thanh thiếu niên mắc chứng rối loạn lo âu tổng quát có thể gặp các triệu chứng của chứng hưng cảm tự chủ như nhịp tim nhanh, khó thở hoặc chóng mặt, và có nhiều khả năng bị đổ mồ hôi, buồn nôn hoặc tiêu chảy hơn so với thanh thiếu niên không lo lắng khi chúng trở nên lo lắng. Trẻ em và thanh thiếu niên mắc chứng rối loạn lo âu lan tỏa có xu hướng lo lắng quá mức về những thảm họa thiên nhiên có thể xảy ra như động đất hoặc lũ lụt và những lo lắng này có thể cản trở hoạt động hàng ngày của chúng. Cuối cùng, trẻ em và thanh thiếu niên mắc chứng rối loạn lo âu lan tỏa liên tục lo lắng về chất lượng thành tích học tập, thể thao và các hoạt động khác của mình và thường tìm kiếm sự trấn an quá mức về thành tích của mình. SOCIAL ANXIETY DISORDER (SOCIAL PHOBIA) Children who experience intense discomfort and distress in social situations and are impaired by their fear of scrutiny or humiliation have the diagnosis of social anxiety disorder. Their distress may be expressed in the form of crying, tantrums, avoidance, freezing, or even becoming “mute” in these situations. According to DSM-5, this disorder is characterized by consistent anxiety and distress in almost all social situations. Any situation in which the child feels exposed to possible scrutiny by others can provoke fear or anxiety, and the child will often try to avoid these feared social situations. Children must experience anxiety in the presence of peers, not only with adults, in order to receive the diagnosis. A child or adolescent with social anxiety disorder may exhibit the performance only type, which targets a specific type of performing, such as fear of public speaking. The performance-only type typically manifests in school or academic settings in which one must perform public presentations, such as in front of classmates in school. Những đứa trẻ trải qua cảm giác khó chịu và đau khổ tột độ trong các tình huống xã hội và bị tổn thương do sợ bị giám sát hoặc bị sỉ nhục được chẩn đoán là mắc chứng rối loạn lo âu xã hội. Sự đau khổ của họ có thể được thể hiện dưới hình thức khóc lóc, giận dữ, né tránh, lạnh lùng hoặc thậm chí trở nên “câm lặng” trong những tình huống này. Theo DSM-5, rối loạn này được đặc trưng bởi sự lo lắng và đau khổ dai dẳng trong hầu hết các tình huống xã hội. Bất kỳ tình huống nào mà đứa trẻ cảm thấy có thể bị người khác giám sát đều có thể gây ra sự sợ hãi hoặc lo lắng, và đứa trẻ thường sẽ cố gắng tránh những tình huống xã hội đáng sợ này. Trẻ em phải trải qua sự lo lắng khi ở cùng bạn bè, không chỉ với người lớn, để được chẩn đoán. Một đứa trẻ hoặc thanh thiếu niên mắc chứng rối loạn lo âu xã hội có thể biểu hiện kiểu biểu hiện chỉ chú trọng tới thành tích, nhắm đến một kiểu biểu hiện cụ thể, chẳng hạn như sợ nói trước đám đông. Loại chỉ chú trọng đến thành tích thường biểu hiện ở trường học hoặc môi trường học thuật, nơi người ta phải trình bày trước công chúng, chẳng hạn như trước các bạn cùng lớp ở trường. Social anxiety disorder has significant implications for future accomplishments, since it is associated with lower levels of satisfaction in leisure activities, increased rates of school dropout, less productivity in the workplace as adults, and increased rates of remaining single. Despite the significant impairment caused by social anxiety disorder, up to half of the individuals with the disorder do not receive treatment. Rối loạn lo âu xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với những thành tựu trong tương lai, vì nó liên quan đến mức độ hài lòng thấp hơn trong các hoạt động giải trí, tỷ lệ bỏ học tăng lên, năng suất làm việc kém hơn khi trưởng thành và tỷ lệ độc thân tăng lên. Mặc dù rối loạn lo âu xã hội gây ra sự suy giảm đáng kể, nhưng có tới một nửa số người mắc chứng rối loạn này không được điều trị. DIAGNOSIS AND CLINICAL FEATURES Separation anxiety disorder, generalized anxiety disorder, and social anxiety disorder are highly related in children and adolescence because, in most children, overlapping symptoms, as well as comorbid disorders, emerge. Rối loạn lo âu chia ly, rối loạn lo âu tổng quát và rối loạn lo âu xã hội có liên quan chặt chẽ với trẻ em và thanh thiếu niên bởi vì ở hầu hết trẻ em, các triệu chứng chồng chéo cũng như các rối loạn bệnh lý đi kèm đều xuất hiện. Generalized anxiety disorder is the most common anxiety disorder among youth, more common in adolescents than in younger children; in almost one-third of these cases, a child with generalized anxiety disorder also exhibits separation anxiety disorder and social anxiety disorder. Rối loạn lo âu tổng quát là rối loạn lo âu phổ biến nhất ở thanh thiếu niên, phổ biến hơn ở thanh thiếu niên so với trẻ nhỏ; trong gần một phần ba số trường hợp này, trẻ mắc chứng rối loạn lo âu lan tỏa cũng biểu hiện chứng sợ phân ly và rối loạn lo âu xã hội.
0
You can add this document to your study collection(s)
Sign in Available only to authorized usersYou can add this document to your saved list
Sign in Available only to authorized users(For complaints, use another form )