lOMoARcPSD|45114501 409538640 On tap M A 1 docx Sáp nhập, mua lại và tái cấu trúc doanh nghiệp (Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh) Scan to open on Studocu Studocu is not sponsored or endorsed by any college or university Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU I. Khái niệm về M & A (Merger and Acquisition) 1. Hợp nhất: Theo điều 194 luật doanh nghiệp 2014: Hợp nhất doanh nghiệp là hai hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty hợp nhất. 2. Sáp nhập: Theo điều 194 luật doanh nghiệp 2014: Sáp nhập doanh nghiệp là một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. * So sánh sự khác nhau giữa hợp nhất và sáp nhập Tiêu chí so sánh Hợp nhất doanh nghiệp Sáp nhập doanh nghiệp Nhiều công ty (gọi là công ty bị Nhiều công ty hợp nhất thành một sáp nhập) sáp nhập vào một công Khái nhiệm công ty mới, đồng thời chấm dứt sự ty khác (công ty nhận sáp nhập), tồn tại của các công ty bị hợp nhất đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị sáp nhập Công ty bị hợp nhất Công ty bị sáp nhập Các chủ thể liên quan Công ty được hợp nhất Công ty nhận sáp nhập Các công ty mang tài sản, quyền và Các công ty bị sáp nhập mang toàn nghĩa vụ cũng như lợi ích hợp pháp bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ, lợi Hình thức của mình góp chung lại thành lập 1 ích hợp pháp của mình chuyển công ty mới sang cho công ty nhận sáp nhập. Tạo ra một công ty mới (công ty Chấm dứt sự tồng tại của các công Hậu quả pháp lý được hợp nhất) và chấm dứt sự tồn ty bị sáp nhập và giữ nguyên sự tại của các công ty bị hợp nhất tồn tại của công ty nhận sáp nhập. Công ty hợp nhất hưởng các quyền Các công ty bị sáp nhập chuyển Trách nhiệm pháp lý và lợi ích hợp pháp, chịu trách toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của công ty được hợp nhiệm thực hiện toàn bộ các nghĩa của mình sang cho công ty nhận nhất hoặc sáp nhập vụ của các công ty bị hợp nhất. sáp nhập Các công ty tham gia hợp nhất cùng Chỉ công ty nhận sáp nhập được có quyền quyết định trong Hội đồng Quyền quyết định quyền quyết định, điều hành và quản trị công ty được hợp nhất tùy quản lý. vào số vốn đóng góp của mỗi bên Ví dụ: Tháng 4/2017, ngân hàng ANZ đã hoàn thành xong thương vụ bán lại mảng bán lẻ tại Việt Nam cho Ngân hàng Shinhan Việt Nam ... Mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ của ANZ phục 1 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 vụ khoảng 125.000 khách hàng cá nhân tại Việt Nam, với khoảng 320 triệu đô la Australia dư nợ cho vay và khoảng 800 triệu đô la Australia dư nợ tiền gửi. * Điểm giống nhau giữa hợp nhất và sáp nhập: - Công ty bị hợp nhất, sáp nhập phải cùng loại với nhau. - Các công ty sau khi hợp nhất và sáp nhập vẫn liên đới chịu trách nhiệm của công ty trước khi hợp nhất và sáp nhập. => Hợp nhất, sáp nhập là sự kết hợp của hai công ty để trở thành một công ty lớn hơn. Do có điểm giống nhau giữa hợp nhất (consolidation) và sáp nhập (merger) nên hai hình thức tái cấu trúc này được gọi chung là sáp nhập. 3. Mua lại (Acquisition) Mua lại là hoạt động xảy ra khi một doanh nghiệp mua lại một phần/toàn bộ cổ phần hay toàn bộ tài sản của một doanh nghiệp khác (gọi là công ty mục tiêu). Khi thực hiện mua lại công ty mục tiêu, công ty đi mua lại có thể mua lại theo hai phương thức: mua lại cổ phiếu và mua lại tài sản. => Như vậy hợp nhất, sáp nhập là hình thức còn mua lại là một hành động. Mua lại cổ phiếu: Để mua lại một công ty khác công ty đề nghị mua lại có thể dùng hình thức “chào mua cổ phiếu – Tender offer” để mua lại công khai cổ phiếu có quyền bầu cử của công ty bị đề nghị mua lại. Mua lại tài sản: Một công ty có thể mua lại công ty khác bằng cách mua lại tất cả tài sản của công ty đó. Một thương vụ mua lại tài sản đòi hỏi phải có quyền bỏ phiếu chính thức của các cổ đông trong công ty mục tiêu. Điểm khác cũng là ưu điểm của hình thức này với hình thức mua lại cổ phiếu là không có sự hiện diện của cổ đông thiểu số nhưng nhược điểm của hình thức này là phải tốn kém nhiều chi phí do phải chuyển quyền sở hữu tài sản. Nói tóm lại: M&A đơn giản là khái niệm để chỉ một công ty tìm cách giành quyền kiểm soát một công ty khác qua việc nắm giữ một phần hoặc toàn bộ vốn, cổ phần hay tài sản của một công ty mục tiêu. “Quyền kiểm soát” là quyền đủ để tham gia quyết định những vấn đề quan trọng thông qua việc đạt mức sở hữu nhất định về vốn hay cổ phần của công ty mục tiêu. Đây chính là yếu tố quan trọng để phân biệt hoạt động M & A với các hoạt động khác. 2 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 4. Các hình thức hợp nhất và sáp nhập: 4.1. Căn cứ vào hình thức liên kết có thể chia sáp nhập thành: Sáp nhập ngang, sáp nhập dọc, sáp nhập tổ hợp, sáp nhập đồng tâm đồng loại. a. Sáp nhập ngang: Là hình thức mua bán, sáp nhập giữa các doanh nghiệp cùng ngành, việc sáp nhập giữa các công ty cạnh tranh trực tiếp, có cùng loại sản phẩm và thị trường. Kết quả là mang lại cơ hội mở rộng thị trường, tăng hiệu quả trong việc kết hợp thương hiệu, giảm chi phí cố định, tăng cường hiệu quả hệ thống phân phối. Khi hai đối thủ cạnh tranh trên thương trường kết hợp lại với nhau, họ không giảm bớt cho mình một đối thủ mà còn tạo nên một sức mạnh lớn hơn để đương đầu với các đối thủ còn lại. Tuy nhiên sáp nhập ngang dễ dẫn đến độc quyền. Ví dụ: Vụ sáp nhập giữa hai công ty dầu hỏa lớn nhất thế giới Exxon và Mobil năm 1998 với giá trị lên tới 78,9 tỷ USD. b. Sáp nhập dọc: Là hình thức hợp nhất, sáp nhập diễn ra giữa hai hoạt động cùng lĩnh vực, cùng ngành nhưng khác nhau ở chu trình sản xuất. Có hai loại: - Sáp nhập tiến: Là hình thức một công ty thực hiện hợp nhất sáp nhập với một công ty là khách hàng của mình hay là phân phối sản phẩm của mình. Ví dụ: Một công ty may mua lại chuỗi cửa hàng bán lẻ quần áo hoặc một công ty sản xuất khí gas mua lại công ty phân phối gas. - Sáp nhập lùi: Những thương vụ sáp nhập lùi, cũng được gọi là sáp nhập tam giác ngược, khắc phục những nhược điểm trong việc sáp nhập các công ty con theo hướng tiến bằng cách đảo ngược chiều hướng của việc sáp nhập. Là hình thức sáp nhập diễn ra với công ty cung câp nguyên vật liệu đầu vào. Ví dụ: Tháng 07/2010, Vinamilk mua lại toàn bộ cổ phần tại Công ty Cổ phần Sữa Lam Sơn, trong đó có Trang trại Bò sữa Sao Vàng. Vào tháng 08/2010, Vinamilk đã đổi tên trang trại này thành Trang trại Bò sữa Thanh Hóa. 3 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 Sáp nhập theo chiều dọc đem lại cho công ty sáp nhập các lợi thế liên quan đến việc đảm bảo và kiểm soát chất lượng nguồn hàng vào hoặc ra, giảm chi phí trung gian, khống chế nguồn hàng vào hoặc ra của đối thủ cạnh tranh. c. Sáp nhập tổ hợp: Đây là hình thức sáp nhập đề hình thành nên các tập đoàn. Là sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau và ngành khác nhau, nhằm giảm cơ bản rủi ro nhờ đa dạng hóa và để khai thác các hình thức kinh tế khác nhau trong các lĩnh vực tài chính, tài nguyên. Lợi của M&A hình thành các tập đoàn là việc giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa, tiết kiệm chi phí gia nhập thị trường và đạt được lợi nhuận gia tăng nhờ có nhiều sản phẩm dịch vụ. d. Sáp nhập đồng tâm đồng loại: Là hình thức sáp nhập, hợp nhất giữa hai công ty trong cùng lĩnh vực lại không có mối quan hệ khách hang và nhà cung cấp. Ví dụ: Một công ty cho thuê tài chính sáp nhập với ngân hàng. HDBank mua lại 100% vốn của Công ty Tài chính Việt Société Générale (Pháp), một trong những Công ty tài chính nước ngoài lớn nhất Việt Nam. Theo đó, Công ty Tài chính Việt Société Générale sẽ chuyển thành công ty con thuộc HDBank. 2. Dựa trên phạm vi lãnh thổ có 02 hình thức Sáp nhập trong nước: Là hình thức mua bán và sáp nhập diễn ra tại một quốc gia và được thực hiện giữa các doanh nghiệp trong cùng lãnh thổ một quốc gia, không có sự kết hợp giữa các tài sản xuyên biên giới. Sáp nhập xuyên quốc gia: Là hình thức được thực hiện giữa các doanh nghiệp thuộc hai quốc gia khác nhau. Ngoài ra, đây còn có thể sóng là một trong những hình thức đầu tư trực tiếp và phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế gần đây, làn sóng toàn cầu hóa đã dần xóa bỏ biên giới kinh doanh của các công ty đa quốc gia khiến cho xu hướng M&A xuyên biên giới ngày càng trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh kinh tế toàn cầu. 3. Dựa trên chiến lược mua lại có thể chia thành: M&A thân thiện và M&A thù địch 4 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 - Một thương vụ được xem là thâu tóm thân thiện xảy ra khi các doanh nghiệp trong thương vụ đạt được thỏa thuận trên cơ sở tình nguyện hai bên cùng có lợi, ban quản trị công ty mục tiêu vui vẻ chấp nhận việc bị mua lại. - Một thương vụ thâu tóm được xem là thâu tóm thù địch khi hội đồng quản trị của công ty mục tiêu từ chối lời đề nghị mua cổ phiếu của công ty đi thâu tóm nhưng công ty đi thâu tóm vẫn tiếp tục theo đuổi thương vụ. 4. Dựa trên phương thức mua lại chia thành 02 hình thức - Các thương vụ qua đàm phán trực tiếp: + Đàm phán trực tiếp truyền thống là sự gặp gỡ mặt đối mặt giữa các bên để thoả thuận các điều khoản với nhau. Trong quá trình đàm phán trực tiếp thì các bên nắm bắt được tâm lý và phản ứng của nhau một cách trực tiếp thông qua cử chỉ, vẻ mặt, điệu bộ . . . qua đó các bên có thể tác động đến quan điểm và mong muốn của nhau bằng cách thức cụ thể để đi đến sự thống nhất chung. + Phương thức đàm phán trực tiếp đẩy nhanh tốc độ giải quyết và nhiều khi là lối thoát duy nhất cho những cuộc đàm phán qua thư tín, điện thoại điện tử đã kéo dài lâu mà vẫn chưa vẫn đạt kết quả. + Phương pháp này tốn nhiều chi phí cho các hoạt động đón tiếp, đi lại và ăn ở của đối tác… + Phương pháp này chỉ phù hợp cho các cuộc đàm phán lớn, phức tạp cần sự thỏa thuận chi tiết. - Các thương vụ qua đàm phán gián tiếp: Có thể thực hiện đàm phán qua điện tín, điện thoại và điện tử tin học. + Đàm phán qua điện tín: là hình thức trao đổi thông tin giữa các đối tác bằng hình thức viết thư nhưng nó có hạn chế là khó kiểm soát được ý đồ của đối tác, hơn nữa việc trao đổi bằng thư từ đòi hỏi thời gian dài, do đó dễ mất cơ hội kinh doanh. Đàm phán bằng thư tín thường chỉ được áp dụng trong trường hợp đơn giản, hợp đồng có quy mô vừa và nhỏ. + Đàm phán qua điện thoại: Được sử dụng ngày càng trở nên phổ biến, vì tính nhanh chóng, tiện lợi của nó, nhưng song song với điều đó là những nhược điểm và ưu điểm nổi bật. Ưu điềm: Tiết kiệm được thời gian, giúp nắm bắt được cơ hội kinh doanh nhanh chóng 5 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 Nhược điểm: Nếu đàm phán kinh doanh qua điện thoại thì không có gì làm bừng chứng hợp pháp của các bên. Do đó người ta thường sử dụng kết hợp đàm phán qua điện thoại với dùng telefax. Đàm phán qua điện thoại thường sử dụng để thỏa thuận các chi tiết nhỏ trong hợp đồng, hoặc hợp đồng kinh doanh đơn giản với quy mô nhỏ. + Đàm phán qua điện tử tin học: Là một phương tiện truyền tin, nhận tin và giao dịch rất lý tưởng, cụ thể là đàm phán qua mạng Intemet cho phép đàm phán đa phương, song phương với đặc điểm và thời gian trải rộng toàn cầu. Qua mạng Intemet giúp các bên hiểu rõ nhau, nắm được nhu cầu của nhau. Điểm hạn chế là chi phí lớn, nhiều nhà kinh doanh và những cuộc đàm phán nhỏ không thể thực hiện được. II. Các động cơ thúc đẩy hoạt động M&A: 1. Động cơ bên mua: - Giảm chi phí: làm giảm bớt sự trùng lắp các sở, ban, ngành, các chi phí không cần thiết từ đó làm tăng lợi nhuận biên của công ty mới. - Mở rộng kinh doanh theo chiều dọc: Đây là yếu tố quan trọng khi muốn mở rộng địa bàn kinh doanh, thêm một dòng sản phẩm hoặc mở rộng mạng lưới phân phối. - Để có được nguồn lực tương hỗ: (Complementary Resource) thông qua hợp nhất, sáp nhập giúp cho cả công ty đi sáp nhập lẫn công ty mục tiêu chia sẽ hỗ trợ cho nhau những nguồn lực sẵn có của hai công ty như: kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn, tận dụng những kết quả nghiên cứu, tận dụng hệ thống phân phối, bán hàng, tận dụng năng lực tài chính, năng lực quản trị công ty. - Đa dạng hóa khu vực địa lý và lĩnh vực kinh doanh (Georaphy other diversification). Động cơ này nhằm mục đích đem lại cho bên đi mua những cơ hội kinh doanh mới để trên cơ sở đó giúp công ty có thể chuyển hướng đầu tư sang lĩnh vực khác. Giảm cạnh tranh và tạo vị thế trên thị trường. - Bán chéo sản phẩm: Thông qua hợp nhất sáp nhập các công ty có thể tận dụng khai thác các sản phẩm dịch vụ của nhau từ đó tăng thêm tiện ích cho khách hàng góp phần gia tăng thu nhập cho công ty. - Động cơ về Thuế (Tax): Một công ty đang kinh doanh có lời có thể mua lại một công ty thua lỗ từ đó sẽ hưởng khoản khấu trừ thuế. - Xâm nhập thị trường: Khi công ty muốn gia nhập vào một thị trường hoặc một lĩnh vực mới nào đó có thể phải tốn nhiều thời gian và chi phí đặc biệt trong việc xây dựng thương hiệu, từ đó bằng cách mua lại một công ty khác hoạt động trong thị trường hoặc trong lĩnh vực đó 6 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 chính là con đường nhanh nhất và hiệu quả nhất cho công ty đi mua. Với động cơ xâm nhập thị trường có thể tạo ra một hình thức sáp nhập gọi là sáp nhập ngược. Ví dụ trong trường hợp của FPT, từ 1 công ty thành danh trong lĩnh vực công nghệ thông tin, FPT đã liên tục mở rộng sang các lĩnh vực khác như: Truyền thông, Giáo dục đào tạo, Phân phối, Chứng khoán, Bất động sản, Ngân hàng… 2. Động cơ bên bán: Nhìn chung động cơ của bên bán cũng giống như động cơ của bên mua tức là việc chấp nhận để một công ty khác thâu tóm công ty mình thì bên bán cũng nhắm đến những lợi ích mà M&A mang lại. Tuy nhiên, thực tế cho thấy với đặc thù của bên bán có thêm những động cơ như: - Gặp sức ép cạnh tranh trên thị trường - Nhận được lời đề nghị hấp dẫn từ phía người mua - Tìm đối tác chiến lược, đây là trường hợp khá phổ biến ở Việt Nam (bổ sung thêm) Chú ý: Trong các động cơ trên thì động cơ tìm đối tác chiến lược thực hiện được sự chủ động của bên bán. III. Những lợi ích của hoạt động M&A: 1. Xét về lợi ích của hoạt động M&A có thể chia thành 4 nhóm chính Nhóm 1: Cải thiện tình hình tài chính + Tăng thêm được quy mô vốn đầu tư + Tăng khả năng tiếp cận thị trường vốn dễ hơn, khả năng vay nợ thêm, khả năng phát hành thêm cổ phiếu. + Giảm thiểu rủi ro hoặc chia sẻ rủi ro + Tăng cường tính minh bạch Nhóm 2: cũng cố vị thế của công ty trên thị trường + Tăng thị phần + Tăng khách hàng + Tận dụng quan hệ với khách hàng + Tận dụng khả năng bán chéo dịch vụ + Tận dụng kiến thức sản phẩm để tạo ra cơ hội kinh doanh mới + Nâng cao năng lực cạnh tranh Nhóm 3: Giảm thiểu chi phí ngắn hạn: + Giảm thiểu tính trùng lắp trong mạng lưới phân phối + Tiết kiệm chi phí hoạt động 7 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 + Đặc biệt là tiết kiệm chi phí quản lý hành chính + Lợi ích tấm chắn thuế Nhóm 4: Tận dụng quy mô dài hạn: + Tối ưu hóa kết quả trong đầu tư công nghệ + Tận dụng kinh nghiệm thành công của các bên + Giảm thiểu chi phí chung cho từng đơn vị sản phẩm + Giảm chi phí khi mua hàng với số lượng lớn 2. Ưu điểm của M&A - M&A giúp các doanh nghiệp mở rộng thị trường và cơ sở vật chất. So với các hình thức đầu tư khác thì hình thức M&A có ưu điểm là giúp tiết kiệm được thời gian từ khi xây dụng tới khi đưa vào sản xuất. - Giúp tiết kiệm chi phí marketing khi tiếp quản thị phần của doanh nghiệp bị mua, bị sáp nhập. - Giúp doanh nghiệp đi mua có được đội ngũ cán bộ và công nhân về một lĩnh vực sản xuất trong thời gian ngắn nhất và do đó, tiết kiệm được chi phí đào tạo. - Tạo ra sự tích tụ các nguồn lực sản xuất và vốn để tăng tính cạnh tranh trên thị trường. - Trong nhiều trường hợp, việc sáp nhập tạo ra được lợi thế quy mô cho hoạt động sản xuất kinh doanh. * So với hình thức đầu tư mới, M&A có những ưu điểm sau: - Công ty có thể nhanh chóng hiện diện tại một thị trường nước ngoài hơn là đầu tư mới. - Bằng hình thức này, công ty có thể ngăn cản các đối thủ cạnh tranh, nhất là trong các thị trường toàn cầu hóa nhanh chóng. - Công ty mua lại có thể gia tăng hiệu quả các công ty được mua lại bằng cách chuyển giao công nghệ, vốn là kinh nghiệm quản lý. - M&A có thể ít rủi ro hơn đầu tư mới và có thể tận dụng được các tài sản giá trị của công ty được mua như mối quan hệ khách hàng, hệ thống phân phối, nhãn hiệu, hệ thống sản xuất 3. Những rủi ro trong M&A: Đối với sự phát triển nền kinh tế một quốc gia: + Nếu hoạt động M&A được hoạt động tràn lan không có chiến lược có thể là con đường dẫn đến sự phá sản đặc biệt là sự phá sản hàng loạt doanh nghiệp, đem đến ảnh hưởng xấu cho sự phát triển của ngành, của nềm kinh tế. 8 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 + Mặc dù, M&A xuyên quốc gia, cũng là một hình thức đầu tư MIA (đầu tư trực tiếp nước ngoài) nhưng do M&A không phải là đầu tư xây dựng mới nên có thể không tạo ra thêm việc làm cho người lao động trong xã hội, trái lại còn tin giản bộ máy hoạt động, đào thải những lao động không phù hợp gây ra tình trạng thất nghiệp, làm tăng gánh nặng cho xã hội. + M&A có thể tạo ra sân chơi không công bằng cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ. + Đối với các quốc gia đang phát triển, M&A có thể triệt tiêu nội lực phát triển của quốc gia, biến quốc gia trở thành cái bóng của các quốc gia giàu có. Đối với hoạt động doanh nghiệp: + Trong nhiều trường hợp M&A có thể làm giảm tính cạnh tranh trong thị trường. + Bên mua lại có thể đánh gía công ty được mua với gía quá cao, từ đó đem đến những tổn thất, thiệt hại về mặt tài chính cho mình. + Sự khác biệt trong văn hóa tổ chức và phương thức vận hành doanh nghiệp có thể tạo ra sự mâu thuẫn dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. 4. Các cạm bẩy của hoạt động M&A: - Phải cảnh giác với sáp nhập theo kiểu hàng ngang - Đừng để rơi vào tình thế đảo ngược Cẩn thận với sự khác biệt về văn hóa giữa hai công ty - Đừng rơi vào hội chứng người đi xâm chiếm - Đừng trả quá nhiều tiền 9 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 Chương 4: CHIẾN LƯỢC SÁP NHẬP I. Tổng quan các hình thức đầu tư mở rộng 1. Khái niệm đầu tư mở rộng: Là hình thức đầu tư nhằm mục tiêu mở rộng quy mô sản xuất, gia tăng thị phần, gia tăng doanh số để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Chú ý 1: Trong 4 giai đoạn của chu kỳ sống các doanh nghiệp thường có xu hướng thực hiện đầu tư mở rộng ở giai đoạn thứ 2, để đáp ứng cho nhu cầu tăng trưởng của doanh nghiệp. Để thực hiện quyết định đầu tư mở rộng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng, trong thực tế các doanh nghiệp thường lựa chọn giữa hai phương thức lựa chọn là tăng trưởng hữu cơ và tăng trưởng phi hữu cơ. Chú ý 2: Để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, tùy vào nhu cầu, hoàn cảnh cũng như đặc điểm của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có thể chọn cho mình một phương thức tăng trưởng phù hợp thậm chí là có thể chia tách doanh nghiệp thành hai thực thể độc lập. Tách doanh nghiệp là hình thức doanh nghiệp chuyển một phần tài sản của mình hiện có để thành lập một hoặc một số công ty mới. Ví dụ: A -> A + B + C (Trong đó: A là doanh nghiệp bị tách; B, C là doanh nghiệp mới). Sau khi tách doanh nghiệp, doanh nghiệp bị tách vẫn tiếp tục hoạt động. 2. Các hình thức đầu tư mở rộng: a. Tăng trưởng hữu cơ (hay còn gọi là tăng trưởng nội bộ): - Tăng trưởng hữu cơ, được thực hiện bằng hình thức đầu tư mở rộng thông qua nội bộ doanh nghiệp là việc đầu tư mua sắm tài sản như nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu để mở rộng quy mô sản xuất; đa dạng hóa ngành nghề và hiện đại hóa công nghiệp. Ví dụ, nếu một công ty có cơ hội để mở cửa và duy trì trong một thời gian giới hạn, sự tăng trưởng chậm trong nội tại là không đủ. Một công ty tăng trưởng chậm thông qua mở rộng nội bộ, đối thủ cạnh tranh có thể phản ứng nhanh và chiếm thị phần. Những lợi thế của công ty có thể tiêu tan theo thời gian hoặc bị đào thải bởi hành động của đối thủ cạnh tranh. Giải pháp duy nhất có thể là mua lại một công ty khác đã được thành lập trụ sở và cơ sở vật chất, bộ máy quản lý và các nguồn lực khác. Có nhiều cơ hội phải được hành động ngay lập tức để nó không 10 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 biến mất. Nó có thể là một công ty đã được phát triền một sản phẩm mới hoặc một quy trình mới có lợi thế về thời gian hơn đối thủ cạnh tranh. b. Tăng trưởng phi hữu cơ: Tăng trưởng phi hữu cơ thông qua các hình thức đầu tư mở rộng như thực hiện liên minh, liên doanh và thực hiện M&A. Mở rộng nội bộ có thể chậm hơn nhiều và khó khăn hơn. Sáp nhập, mua lại, liên doanh và liên minh chiến lược có thể là các lựa chọn thay thế nhanh nhất và có nguy cơ thấp nhất. * Liên minh chiến lược là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp liên kết với nhau để phát triển, sản xuất hoặc bán sản phẩm/cung ứng dịch vụ… trong một khoảng thời gian nhất định nhằm mang lại lợi ích chung cho mỗi bên trong khi vẫn là những doanh nghiệp độc lập chứ không nhằm mục đích sáp nhập, hợp nhất hay thôn tính lẫn nhau. Sự liên minh này có thể được tiến hành giữa các doanh nghiệp trong cùng một quốc gia hoặc giữa các doanh nghiệp từ nhiều quốc gia khác nhau. Ví dụ: Star Alliance là sự liên kết các hãng Lufthansa, United Airline, Air Canada, SAS, Thai Airway, Varig, Air New Zealand và Ansett Australia thành một liên minh hàng không toàn cầu khổng lồ cho phép du khách thực hiện những kết nối gần như không có ranh giới với khoảng 700 điểm đến trên toàn cầu. * Liên doanh: Liên doanh là hình thức hợp tác kinh tế ở một trình độ tương đối cao, được tiến hành trên cơ sở các bên tham gia tự nguyện cùng nhau góp vốn để thành lập các công ty, xí nghiệp nhằm cùng sản xuất, cùng quản lý và chia lãi theo phương thức thỏa thuận. Chủ thể liên doanh có thể tham gia thành lập nhiều đơn vị kinh tế liên doanh khác nhau để phát huy các khả năng, thế mạnh kinh tế, kĩ thuật của mình. Việc liên doanh được thực hiện dưới các hình thức hợp tác như giữa hai hay nhiều doanh nghiệp tham gia mang quốc tịch khác nhau, giữa doanh nghiệp liên doanh với doanh nghiệp ở trong nước hoặc doanh nghiệp ở nước ngoài hoặc với nhà đầu tư nước ngoài, giữa các doanh nghiệp liên doanh với nhau, giữa Chính phủ các nước với nhau. * Hoạt động M&A: Là hoạt động sáp nhập, hợp nhất; thâu tóm và mua lại công ty, gọi chung là hoạt động M&A công ty. Đây là hoạt động thể hiện hoạt động của hai công ty kết hợp lại với nhau nhằm đạt được mục tiêu đã được xác định trước trong chiến lược kinh doanh của công ty. 11 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 - M&A để kết hợp với doanh nghiệp có thế mạnh về nghiên cứu và phát triển; có lợi thế về thị phần, vùng miền; có lợi thế về kinh nghiệm quản lý nguồn nhân lực; lợi thế về phân phối và quy mô. Ví dụ: Sử dụng M&A để thúc đẩy tăng trưởng là khi một công ty muốn mở rộng sang một khu vực địa lý khác. Có thể thị trường của công ty nằm ở một phần của đất nước, nhưng công ty muốn mở rộng sang các vùng khác. Ngoài ra, có thể công ty đã hoạt động trong nước nhưng tìm cách khai thác thị trường của các quốc gia khác, chẳng hạn như một công ty Mỹ muốn mở rộng sang Châu Âu. Trong nhiều trường hợp, có thể nhanh hơn và ít rủi ro hơn để mở rộng theo địa lý thông qua việc mua lại hơn là thông qua phát triển nội bộ. Công ty cần biết tất cả các sắc thái của thị trường mới, tuyển dụng nhân sự mới, và vượt qua nhiều rào cản khác như rào cản ngôn ngữ và hàng rào hải quan. Thương vụ: Chuỗi siêu thị Big C Việt Nam được mua lại bởi Central Group Thái Lan với giá trị tương đương 1,05 tỷ USD. Với thị phần sẵn có, Big C đưa ra kế hoạch phân phối sản phẩm từ Thái Lan * So sánh hoạt động M&A với liên minh, liên doanh: Nội dụng Phạm vi quản lý Liên minh chiến lược Liên doanh Hoạt động M&A - Phạm vi quản lý - Phạm vi quản lý - Phạm vi quản lý hẹp hơn liên doanh rộng rộng - Hoạt động trong - Thời gian hoạt - Thời gian hoạt thời gian ngắn và có động dài động dài thể kết thúc một cách tự nhiên Cơ câu tổ chức Không có cơ cấu tổ Có cơ câu tổ chức Có cơ câu tổ chức chức chính thức chính thức chính thức Pháp nhân Không hình pháp nhân mới Quản trị Không thành lập nhà Thành lập một đội Có chung một nhà quản trị mới ngũ quản trị mới quản trị trong công ty (công ty sáp nhập, mua lại và công ty bị sáp nhập) Lợi ích Mang lại lợi ích chúng Chia theo tỷ lệ cổ Lợi ích mang lại cho mỗi bên phần cho công ty sáp 12 thành Hình thành pháp Hình thành pháp nhân mới nhân mới (có thể đổi tên mới, hay vẫn giữ tến cũ của công ty bị M&A) Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 nhập, mua lại II. Các lợi ích của hoạt động M&A 1. Giá trị cộng hưởng: a. Khái niệm: Giá trị cộng hưởng từ hoạt động mua lại một công ty khác của một công ty, chính là sự khác biệt giữa giá trị của công ty sau khi được kết hợp (VAB) và tổng giá trị của các công ty khi còn là các công ty riêng biệt. Nói cách khác, giá tại cộng hưởng xuất hiện khi giá trị của công ty kết hợp từ thương vụ M&A lớn hơn tổng giá trị mua lại và công ty mục tiêu trước khi thực hiện M&A. Giả định công ty A là công ty đi mua công ty B. Ta gọi: VA giá trị công ty A trước kết hợp; VB giá trị công ty B trước kết hợp; VAB giá trị của công ty A và công ty B sau kết hợp. Vậy giá trị cộng hưởng = VAB – (VA + VB). Sự mong đợi lợi ích từ kết hợp cho phép các công ty phải chịu các chi phí của quá trình mua lại và vẫn có thể đủ khả năng để cung cấp cho các cổ đông mục tiêu nhiều tiền hơn cho cổ phiếu của họ. Sức mạnh cộng hưởng có thể cho phép các công ty kết hợp để có một giá trị mua ròng tích cực (NAV). NAV= VAB - [VA + VB] - P - E (1) Ở đây: P: Khoản khoán khích trả cho công ty B, và E: chi phí của quá trình mua lại. Từ phương trình (1), chúng tôi nhận được: NAV= [VAB - (VA + VB)] - (P + E) (2) b. Các loại giá trị cộng hưởng của hoạt động M&A: * Giá trị cộng hưởng về tài chính: Giá trị cộng hưởng tài chính của một thương vụ M&A đến từ sự gia tăng trong dòng tiền của công ty đi mua (sau khi thực hịện thương vụ so với trước khi thực hiện thương vụ) và tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn để thực hiện thương vụ. 13 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 Chú ý: Để quyết định thực hiện một thương vụ M&A (một phương án đầu tư mở rộng) công ty đi mua cũng phải sử dụng một quy trình phân tích và ra quyết định, bao gồm các bước thẩm định của một thương vụ như sau: Bước 1: Đề xuất thương vụ Bước 2: Hoạch định dòng tiền thuần Bước 3: Ra quyết định tài trợ, tính chi phí sử dụng vốn của thương vụ Bước 4: Dùng các tiêu chuẩn để thẩm định (như NPV,…) Bước 5: Phân tích, đánh giá rủi ro Bước 6: Ra quyết định + Sự gia tăng trong dòng tiền của công ty đi mua: Gọi CF là sự khác biệt giữa dòng tiền của công ty kết hợp với tổng dòng tiền của 2 công ty riêng lẻ. Hoạch định ngân sách vốn đầu tư khi hoạch định dòng tiền (CFt) tăng thêm (với t là số năm): CF tăng = CF sau khi thực hiện thương vụ - CF Trước khi thực hiện thương vụ Với một thương vụ M&A thì: CFt = DT +/- CPHĐt - thuế - chi tiêu vốnt Trong đó: - DT: Sự gia tăng doanh thu sau kết hợp - CPHĐt: Giảm chi phí hoặc tăng thêm sau kết hợp - thuế: Giảm thuế hoặc tăng thuế sau hoạt động kết hợp - chi tiêu vốnt: là chi tiêu vốn cho đầu tư mới bao gồm chi tiêu đầu tư tăng thêm cho nhu cầu vốn lưu chuyển và TSCĐ sau hoạt động mua lại. => Từ đây cho thấy, nguồn gốc của giá trị cộng hưởng về tài chính đến từ sự gia tăng trong doanh thu, sự tiết kiệm trong chi phí hoạt động, thuế phải nộp thấp hơn và nhu cầu chi tiêu vốn cho đầu tư mới cũng ít hơn. + Gia tăng doanh thu – nguồn gốc tạo ra giá trị cộng hưởng về tài chính: 14 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 Một công ty sau khi kết hợp có thể tạo ta doanh thu nhiều hơn hai công ty riêng lẻ và doanh thu tăng thêm có thể là giá trị lợi ích tăng thêm từ hoạt động marketing đến từ các lợi ích liên quan đến chiến lược, các lợi ích đến từ sức mạnh thị trường hay sức mạnh độc quyền. Ví dụ: Thương vụ M&A đối với Vinacafe Biên Hòa đã mang lại những kết quả kinh doanh tích cực cho công ty này theo báo cáo tài chính sau sáp nhập. Vinacafe đã đạt hiệu quả hoạt động rất cao, thể hiện qua các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận gộp, lợi nhuận sau thuế, lợi nhuận biên; giá cổ phiếu Vinacafe từ mức dao động quanh 95.000 đồng/cố phiếu khi Masan Consumer chào mua (tháng 10/2011), đã tăng lên đến 219.000 đồng/cổ phiếu vào ngày 27/2/2013. Ngay sau khi trở thành công ty thành viên của Masan Group, Vinacafe Biên Hòa đã được hưởng lợi nhờ được sử dụng chung hệ thống phân phối trải rộng cả nước của Masan. Đây là lợi thế lớn đối với công ty sản xuất cà phê hòa tan có thị phần lớn nhất nước này. Với hệ thống phân phối bao gồm hơn 160.000 điểm bán hàng, trên 1.600 nhân viên bán hàng và 162 nhà phân phối của Masan Consumer, sản phẩm của Vinacafe Biên Hòa có “độ phủ sóng” trên toàn quốc tốt hơn rất nhiều so với trước khi sáp nhập. Sức mạnh thị trường hay sức mạnh độc quyền: Một công ty có thể mua lại một công ty khác để có được sức mạnh thị trường thông qua việc giảm mức độ cạnh tranh (sáp nhập ngang). Nếu thương vụ thành công doanh thu của công ty mua lại sẽ gia tăng, từ đó sẽ tạo ra lợi thế độc quyền cho công ty. Tuy nhiên các thương vụ sáp nhập với động cơ giảm cạnh tranh thường sẽ không tạo ra lợi ích cho xã hội, do đó có thể bị phản ứng ngăn chặn thương vụ. Liên quan đến các lợi ích về chiến lược: Một số thương vụ mua lại thường hướng đến các lợi ích về chiến lược, chẳng hạn như một công ty sản xuất máy may mua lại một công ty máy tính để từ đó tận dụng lợi thế về kỹ thuật của công ty bị mua lại để sản xuất ra các máy may sử dụng công nghệ máy tính trong tương lai. Giá trị tăng thêm từ hoạt động marketing: Hoạt động sáp nhập và mua lại có thể tạo ra gia tăng doanh thu liên quan đến sự cải thiện hoạt động marketing dựa trên: + Chương trình truyền thông và nỗ lực quảng cáo: Ví dụ: Thương vụ lớn nhất của mạng xã hội số một thế giới, Facebook chi 19 tỷ USD để sở hữu ứng dụng nhắn tin cho di động WhatsApp. Trước đó, Facebook từng đồng ý mua lại công ty chia sẻ hình ảnh Instagram với giá một tỷ USD vào năm 2012. Trong thương vụ Facebook15 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 WhatsApp, giới quan sát lo ngại sự kiện này sẽ thổi bùng bong bóng khi Facebook và các doanh nghiệp công nghệ đang tỏ ra quá hăng hái theo đuổi những sản phẩm và dịch vụ được cho là có tiềm năng. Việc mua lại này là do tỷ lệ người dùng quốc tế của WhatsApp ngày càng cao. + Mạng lưới phân phối: Những công ty mà tạo ra sản phẩm mà không trực tiếp đưa sản phẩm đến người tiêu dùng, cần phát triển kênh phân phối để đảm bảo rằng sản phẩm của họ đến được người tiêu dùng với một mức lợi nhuận vừa phải. Sáp nhập theo chiều dọc giữa nhà sản xuất và nhà phân phối hoặc bán lẽ thường đưa những nhà sản xuất cạnh trạnh bởi vì sự lo lắng của họ về việc cắt giảm kênh phân phối. Theo một đánh giá tổng quan M&A trong ngành hàng tiêu dùng Việt Nam năm 2014, Carlsberg là một ví dụ khi tiếp tục mở rộng kinh doanh đồ uống (bia) tới khu vực miền Trung Việt Nam bằng việc mua lại 50% cổ phần từ đối tác hợp tác kinh doanh địa phương, bia Huế. Trước đó, Carlsberg đã mua lại 17.2% cổ phần của Habeco (Nhà máy rượu bia Hà Nội), đơn vị hiện chiếm 23% tổng thị phần ngành hàng bia của Việt Nam. + Kết hợp các sản phẩm khác nhau (đa dạng hóa): Đa dạng hoá có nghĩa là mở rộng bên ngoài ngành công nghiệp hiện tại của một công ty. Điều này đóng một vai trò quan trọng trong việc mua lại và sáp nhập đã xảy ra trong làn sóng sáp nhập. Nhiều công ty phát triển thành các tập đoàn trong thập niên 1960 đã tách rời thông qua các vụ chia nhỏ và chia tách khác nhau trong những năm 1970 và những năm 1980. Quá trình này làm tăng nghi ngờ về giá trị đa dạng hóa dựa trên sự mở rộng. Một công ty như là General Electric (GE), không còn đơn thuần là một công ty điện tử theo định hướng. Thông qua một mô hình mua bán và thâu tóm, công ty GE đã trở thành một tập đoàn đa dạng, với các hoạt động trong bảo hiểm, dịch vụ tài chính, đài truyền hình, chất dẻo,... Đa dạng hóa để hưởng tới vị trí đầu ngành: Một phần lý do đằng sau chiến lược đa dạng hóa thành công của GE là các loại công ty được mua lại. General Electric đã tìm cách giành vị trí hàng đầu trong các ngành công nghiệp khác nhau trong đó có các doanh nghiệp GE sở hữu. Đa dạng hóa để thâm nhập vào các ngành có lợi nhuận cao: Do ngành công nghiệp của công ty mẹ đã đạt đến giai đoạn trưởng thành hoặc cạnh tranh áp lực trong ngành đó đã cản trở khả năng tăng giá lên mức thu nhập bất thường có thể được hưởng. 16 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 Một vấn đề mà một số doanh nghiệp gặp phải khi họ muốn mở rộng bằng cách thâm nhập các ngành có cơ hội kiếm lợi nhuận tốt hơn là thiếu sự đảm bảo rằng những cơ hội lợi nhuận sẽ tồn tại trong một thời gian dài trong tương lai. Các ngành công nghiệp sinh lợi nhuận bây giờ có thể không được như lợi nhuận trong tương lai. Áp lực cạnh tranh mang tới một phong trào hướng tới một sự cân bằng trong dài hạn tỷ lệ lợi nhuận trong các ngành công nghiệp. Rõ ràng, đây không phải là tỷ lệ trong tất cả các ngành công nghiệp bất cứ lúc nào trong thời gian đều bình đẳng. Các lực lượng cạnh tranh mà các ngành công nghiệp có lợi nhuận bằng nhau được bù đắp bằng nhiều cách, chẳng hạn như phát triển công nghiệp, khiến các ngành công nghiệp phải thay đổi tỷ suất lợi nhuận. Những ngành công nghiệp có lợi nhuận trên trung bình mà không có sự áp đặt của các rào cản đối với việc nhập cảnh sẽ có lợi nhuận giảm xuống cho đến khi họ đạt đến ngành công nghiệp chéo trung bình cộng. Lý thuyết kinh tế hàm ý rằng về lâu dài chỉ có những ngành công nghiệp khó thâm nhập sẽ có được lợi nhuận trên trung bính. Vì vậy một chương trình đa dạng hóa vào các ngành công nghiệp có lợi hơn sẽ không thành công trong thời gian dài. Sự mở rộng của doanh nghiệp có thể không có khả năng tham gia vào các ngành công nghiệp mang lại thu nhập trả lại liên tục trên mức trung bình. Khi bước vào ngành công nghiệp rào cản thấp, công ty mở rộng có thể sẽ bị buộc phải cạnh tranh với những doanh nghiệp đăng ký khác bị thu hút bởi thu nhập tạm thời trên trung bình và rào cản thấp. Số lượng đối thủ cạnh tranh gia tăng sẽ làm giảm thu nhập và làm chiến lược mở rộng thất bại. b. Giảm chi phí hoạt động: Một công ty sau khi kết hợp có thể có hoạt động hiệu quả hơn hai công ty riêng lẻ. - Lợi thế từ quy mô do sáp ngập ngang. Sau sáp nhập quy mô của công ty có sự gia tăng từ đó sẽ giúp cho chi phí sản xuất bình quân của công ty giảm. + Trong các thị trường tài chính, một công ty lớn có lợi thế tiếp cận vốn tốt hơn, do doanh nghiệp đó được coi là ít rủi ro hơn là một doanh nghiệp nhỏ hơn. + Với quy mô lớn, công ty có thể giảm được chí huy động vốn, bởi lẽ chi phí đi vay bằng phát hành trái phiếu thấp hơn so với công ty quy mô nhỏ hơn. Tuy nhiên, tính chất quy mô có thể phát sinh khi chi phí kinh nghiệm của công ty cao hơn và các vẫn đề phát sinh trong quá trình điều phối hoạt động của công ty quy mô lớn hơn. Điều này vẫn còn là một chủ đề đáng tranh cãi của các nhà kinh tế học. 17 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 - Lợi thế của sự liên kết theo hàng dọc, sẽ giúp cho công ty sau khi kết hợp tận dụng được các lợi thế liên quan đến yếu tố đầu vào giúp cho doanh nghiệp chủ động trong việc dự trữ nguyên vật liệu, chủ động trong việc lựa chọn nhà cung cấp để giảm thiểu chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoạt chi phí nhân công trực tiếp. - Lợi thế đến từ sự chuyển giao công nghệ. - Lợi thế đến từ loại bỏ những quy trình quản lý không hiệu quả. Những nhà đấu giá tin rằng kĩ năng quản lý sẽ tăng dưới sự quản lý của họ. Điều này dẫn đến những người thâu tóm để trả một giá trị cho mục tiêu sẽ vượt quá giá trị cổ phiếu hiện tại. Tận dụng những chuyên gia quản lý để phát triển rộng hơn trên thị trường. Những nguồn quản lý là một tài sản mà các công ty lớn hơn có thể mời chào mục tiêu của mình. c. Giảm thuế: Là một trong những động cơ mạnh mẽ của một số thương vụ mua lại, nguồn gốc của việc giảm thuế có thể đến từ: - Việc sử dụng các khoản tiết kiệm thuế từ khoản lỗ: Bằng cách sáp nhập một công ty hoạt động có lãi với một công ty hoạt động bị lỗ. Công ty đi sáp nhập có thể sẽ nhận được khoản sinh lợi đến từ việc giảm thuế. - Việc giảm thuế có thể đến từ việc sử dụng khả năng vay nợ chưa dùng đến của công ty mục tiêu: Do công ty mục tiêu không sử dụng nợ hoặc sử dụng nợ ở mức độ rất thấp nên công ty đề nghị mua lại có thể thực hiện sáp nhập với công ty mục tiêu để gia tăng nợ nhằm sử dụng khoản sinh lợi từ tấm chắn thuế của lãi vay hoặc cho dù cả công ty mục tiều và công ty đề nghị mua lại đều có tỷ lệ nợ tối ưu nhưng vẫn có thể kết hợp lại để gia tăng mức độ nợ tối ưu cho công ty sau kết hợp, từ đó nhận được khoản sinh lợi từ tấm chắn thuế của lãi vay. - Việc tận dụng sự gia tăng trong khoản sinh lợi từ tấm chắn thuế của khấu hao: Chi phí khấu hao là chi phí không bằng tiền và được khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp. d. Giảm nhu cầu chi tiêu vốn cho đầu tư mới vào tài sản cố định và giảm thiểu nhu cầu vốn luân chuyển tăng thêm - Lợi thế kinh tế về quy mô đến từ sáp nhập không những làm giảm chi phí hoạt động mà còn giảm các nhu cầu về vốn trong đó có nhu cầu về vốn dùng cho đầu tư vào tài sản cố định: Khi hai công ty thực hiện sáp nhập, ban điều hành của công ty bị hợp nhất có thể chuyển sang sử dụng chung tòa nhà trụ sở chính của công ty đi mua. Điều này cho phép công ty bị hợp nhất có thể bán các trụ sở còn lại, hai công ty hợp nhất trong cùng một ngành cũng có thể cùng nghiên 18 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 cứu và phát triển chung với nhau, để từ đó cho phép một công ty bán các cơ sở tiện ích giành cho hoạt động R&D (nghiên cứu và phát triển). - Sau sáp nhập cũng làm cho nhu cầu vốn luân chuyển được giảm thiểu: Tỷ số hàng tồn kho trên doanh thu, tiền mặt trên doanh thu cũng sẽ giảm khi quy mô công ty tăng lên, tức là với lợi thế kinh tế về quy mô sáp nhập cũng làm giảm nhu cầu đầu tư vào vốn luân chuyển. Chú ý: Giá trị cộng hưởng về mặt tài chính của một thương vụ hoạt động M&A có thể đến từ sự kết hợp giữa một công ty hạn chế cơ hội đầu tư nhưng lại có sự thặng dư tiền mặt rất lớn với một công ty thiếu hụt tiền mặt nhưng lại sở hữu với rất nhiều cơ hội đầu tư tốt. Vì thiếu tiền mặt nên doanh nghiệp đó không có khả năng tài trợ cho một số dự án có tỷ suất sinh lợi cao làm mất cơ hội sinh lợi. Những thỏa thuận như M&A có thể là một "thắng lợi" cho cả hai công ty. 1.2. Tối thiểu hóa WACC: Ta có: WACC = Tỷ trọng nợ (WD) x r*D + tỷ trọng cổ phần thường (WE) x rE Để giảm WACC, chúng ta có hai cách: + Cách 1: Nếu công ty đi mua không tăng nợ, thì thực hiện sáp nhập với một công ty mục tiêu có nợ thấp để tận dụng khả năng vay nợ thêm. Do r* D < rE, thì khi tăng tỷ trọng nợ thì phải giảm tỷ trọng cổ phần thường, làm cho chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) giảm. + Cách 2: Tác động vào rE Tác động vào công thức: rE = + g => Bằng cách thực hiện sáp nhập để tận dụng lợi thế về quy mô, cải thiện được tình hình tài chính -> P0 tăng -> rE giảm. Tác động vào công thức: rE = rf + Phần bù rủi ro hệ thống + Phần bù rủi ro phi hệ thống. Phần bù rủi ro hệ thống = x (rm – rf) Phần bù rủi ro phi hệ thống = phần bù rủi ro quy mô + phần bù rủi ro đặc thù của công ty. Phần bù rủi ro quy mô được thực hiện, bằng cách sáp nhập để tận dụng lợi thế về quy mô -> rủi ro thấp -> phần bù rủi ro thấp -> rE thấp. 19 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 Phần bù rủi ro đặc thù của công ty được thực hiện bằng cách sáp nhập để tận dụng lợi thế đến từ việc gia tăng hiệu quả trong năng lực quản trị -> làm cho rủi ro giảm -> phần bù rủi ro giảm -> rE giảm. 20 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 CHƯƠNG 5: CHIẾN THUẬT PHÒNG, CHỐNG THÂU TÓM THÙ ĐỊCH CÔNG TY 1. Khái niệm thâu tóm: Thâu tóm là một thuật ngữ dùng để chỉ một công ty tìm cách nắm giữ quyền kiểm soát một công ty khác, thông qua việc nắm giữ toàn bộ, hoặc một phần cổ phần, một phần tài sản công ty mục tiêu, để kiểm soát toàn bộ quyết định của công ty. Thâu tóm có thể được thực hiện thông qua phương thức mua lại, dành sự ủy quyền, hoặc thông qua các giao dịch chuyển đổi công ty cổ phần đại chúng thành công ty cổ phần nội bộ, lôi kéo cổ đông bất mãn. Hoạt động thâu tóm còn có thể diễn ra giữa các công ty cùng một ngành, hoặc giữa các ngành khác nhau, tùy thuộc vào chiến lược của Công ty đi thâu tóm. Hoạt động thâu tóm diễn ra dưới hai hình thức: thâu tóm thân thiện và thâu tóm thù địch. Thâu tóm thân thiện: là hình thức mà các công ty trong thương vụ cùng tự nguyện, có thiện chí, tận tâm thực hiện thương vụ nhằm đạt được thỏa thuận trên cơ sở hai bên cùng có lợi. Một số chiến thuật thường được sử dụng cho hình thức này là mua lại cổ phần bằng tiền mặt, hoán đổi cổ phần hoặc kết hợp cả mua lại cổ phần và hoán đổi cổ phần Thâu tóm thù địch: khi hội đồng quản trị của công ty mục tiêu từ chối lời đề nghị mua cổ phiếu của công ty đi thâu tóm nhưng công ty đi thâu tóm vẫn tiếp tục theo đuổi thương vụ. Một số chiến thuật thâu tóm thù địch: Bearhugs (cái ôm của gấu), Tender Offer (chào mua công khai), Froxy Fight (lôi kéo cổ đông bất mãn)… 2. Khái niệm phòng chống thâu tóm công ty: là các biện pháp (chiến thuật), được công ty mục tiêu thiết kế, sử dụng để ngăn chặn một cuộc thâu tóm thù địch thành công từ đối thủ. 3. Mục đích của các công ty đi thâu tóm - “Tiên lễ hậu binh”, công ty thâu tóm có thể khởi đầu thương vụ bằng tín hiệu thân thiện phát đi cho công ty mục tiêu. Nhưng nếu công ty mục tiêu từ chối, hoặc có phản ứng không thân thiện, công ty thâu tóm chuyển từ thân thiện sang thâu tóm thù địch. - “Làm mà không nói”, công ty thâu tóm nhận biết rằng việc thâu tóm thân thiện là không thể thực hiện được, nên sẽ bắt đầu thương vụ bằng một hành động thâu tóm thù địch. - “Lấy độc trị độc”, đây là một chiến thuật phòng thủ, chống thâu tóm công ty đi thâu tóm mà có thể trước đó là công ty mục tiêu. Để phòng chống thâu tóm, công ty mục tiêu có thể chuyển sang đi thâu tóm công ty có ý định thâu tóm mình. => Do lợi ích nhận được sau khi thực hiện thâu tóm thù địch nhiều hơn sau khi thực hiện thâu tóm thân thiện (đặc biệt là bộ máy quản lý). Một thương vụ thâu tóm thù địch nếu diễn ra thành công thì có thể làm ngưng hoàn toàn bộ máy quản lý của công ty mục tiêu. Vì vậy, ý đồ 21 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 của công ty thâu tóm là chấm dứt ban quản lý công ty mục tiêu ngay từ đầu, thì công ty thâu tóm sẽ lựa chọn tấn công thù địch. 4. Lý do công ty mục tiêu phải phòng chống thâu tóm thù địch Các cổ đông của công ty mục tiêu có niềm tin rằng, lợi ích của công ty mục tiêu khi tồn tại độc lập lớn hơn nhiều so với lợi ích nhận được khi bán lại công ty, đó là do: - Bất cân xứng thông tin tạo nên khoảng cách kỳ vọng về giá giữa bên bán và bên mua (các cổ đông của công ty mục tiêu biết được trong tương lai công ty mục tiêu sẽ tung ra một sản phẩm mới có nhiều cơ hội đem đến mức sinh lợi cao, làm cho giá cổ phiếu gia tăng, trong khi giá chào mua cổ phiếu của Công ty thâu tóm thấp hơn. - Vấn đề chi phí đại diện: Hội đồng quản trị công ty mục tiêu thường bị thay thế sau khi thương vụ thâu tóm thù địch thành công, từ đó làm cho lợi ích của Hội đồng quản trị công ty mục tiêu bị tổn thất. 5. Các chiến thuật đi thâu tóm thù địch a. Chiến thuật “Bear hut” (cái ôm của con gấu) Đặc điểm: Chiến thuật được thực hiện khi công ty thâu tóm đưa ra đề nghị mua lại cổ phiếu của công ty mục tiêu với giá cao hơn rất nhiều so với giá thị trường cổ phiếu của công ty và mục đích của đề nghị này là nhằm loại bỏ khả năng cạnh tranh của các giá thầu khác. Bản chất của chiến thuật này còn đánh vào tâm lý của ban giám đốc, hội đồng quản trị của công ty mong muốn tạo ra sự gia tăng trong giá trị cổ phiếu của công ty mục tiêu, và được thiết kế để đẩy công ty mục tiêu vào vị thế không thể không bán. Quy trình thực hiện Bước 1: Công ty đi thâu tóm sẽ gửi thư đến hội đồng quản trị của công ty mục tiêu thông báo về công ty đi thâu tóm, luật sư, ngân hàng đầu tư đại diện cho công ty bên mua. Nếu hai bên chấp thuận thì hai bên sẽ nhanh chóng ký biên bản thỏa thuận. Bước 2: Xây dựng các chiến thuật dựa trên phản ứng của công ty mục tiêu từ đề xuất ban đầu. Có ba kịch bản có thể xảy ra: - Công ty mục tiêu chấp nhận lời đề nghị (không có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các công ty thâu tóm khác, hoặc các công ty thâu tóm khác không thể nhập cuộc). - Công ty mục tiêu không đồng ý từ chối, không có công ty thâu tóm khác xuất hiện. - Công ty mục tiêu không đồng ý, có công ty thâu tóm khác xuất hiện. Công ty thâu tóm sẽ phải xem xét phản ứng công ty mục tiêu. 22 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 Bước 3: Đề xuất giá chào mua khi dự đoán được phản ứng của công ty mục tiêu. Công ty thâu tóm gửi thư đến công ty mục tiêu có đưa ra giá, thường là giá cao hơn giá thị trường. Có hai trường hợp: - Nếu công ty mục tiêu đồng ý bán thì thương vụ là thương vụ thâu tóm thân thiện. - Nếu cổ đông không đồng ý bán, thì công ty đi thâu tóm có thể phải chuyển sang chiến thuật “tender offer” (chào mua công khai). Ưu điểm - Thời gian thực hiện nhanh. - Giảm chi phí liên quan đến thương vụ thâu tóm: phí nộp hồ sơ cho Ủy ban chứng khoán, phí dịch vụ tư vấn, phí trả cho luật sư,… Nhược điểm: - Chi phí mua lại rất tốn kém. Trường hợp công ty đi thâu tóm đưa ra một mức giá quá cao có thể làm ảnh hưởng tới suất sinh lợi của thương vụ này. Điều kiện áp dụng chiến thuật “bear hug” - Hội đồng quản trị của công ty mục tiêu phải có ý định bán. - Công ty đi thâu tóm phải có tiềm lực tài chính mạnh. b. Chiến thuật “tender offer” (chào mua cổ phiếu) Đặc điểm: Chiến thuật “tender offer” là hình thức một hay một số công ty hoặc cá nhân hoặc một nhóm nhà đầu tư có ý định mua đứt toàn bộ công ty mục tiêu với đề nghị cổ đông hiện hữu của công ty đó bán lại cổ phần của họ với một mức giá cao hơn thị trường rất nhiều. Giá chào thầu đó phải đủ hấp dẫn để đa số cổ đông tán thành việc từ bỏ quyền sở hữu cũng như quản lý công ty của mình. - Công ty bị mua thường là công ty yếu hơn. Tuy vậy, vẫn có một số trường hợp một công ty nhỏ thâu tóm được một công ty lớn hơn, đó là khi họ huy động được nguồn tài chính khổng lồ từ bên ngoài để thực hiện được vụ thôn tính. - Ban quản trị và các vị trí quản lý chủ chốt của công ty bị mua sẽ bị thay thế, mặc dù thương hiệu và cơ cấu tổ chức của nó vẫn có thể được giữ lại mà không nhất thiết bị sáp nhập hoàn toàn vào công ty thôn tính. Để chống lại vụ sáp nhập bất lợi cho mình, ban quản trị công ty bị mua có thể thực hiện một số biện pháp nhằm chống lại sự thôn tính này như tìm kiếm sự trợ giúp/bảo lãnh tài chính mạnh hơn, để có thể đưa ra mức giá chào thầu cổ phần cao hơn nữa cổ phần của các cổ đông hiện hữu đang ngã lòng. 23 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 Quy trình thực hiện Bước 1: Thành lập đội ngũ chào mua công khai bao gồm: ngân hàng đầu tư, nhà tư vấn về pháp lý, đại lý thông tin, ngân hàng lưu ký, đại lý giao nhận… Bước 2: Làm hồ sơ gửi cho Ủy ban chứng khoán đồng thời gửi bản copy cho công ty mục tiêu. Bước 3: Công ty bị chào mua sẽ xem xét và trả lời trong vòng 10 ngày làm việc. Bước 4: Cổ đông bán cổ phiếu cho bên trung gian. Bước 5: Kết thúc cuộc chào mua theo ngày ghi trong hồ sơ đăng ký, hoặc bên đi mua có thể gia hạn trước 09 giờ sáng ngày kết thúc. Bước 6: Nếu đã mua đủ số cổ phiếu cần thiết thì bên đi mua sẽ thanh toán cho cổ đông theo giá ghi hợp đồng. Bước 7: Bên đi mua bổ nhiệm lại hội đồng quản trị cho công ty bị thâu tóm. Bước 8: Bên đi mua rút các cổ phiếu của công ty mục tiêu ra khỏi danh mục chứng khoán sẵn sàng mua bán trên thị trường. Ưu điểm - Tốc độ giao dịch của thương vụ nhanh. - Công ty đi thâu tóm có thể tự do giao dịch với cổ đông công ty mục tiêu mà không cần thông qua ý kiến của hội đồng quản trị. - Trường hợp nhận được sự đồng tình của công ty mục tiêu chấp nhận bán với giá đề xuất thì thương vụ sẽ trở thành thân thiện. Nhược điểm - Chi phí mua lại cao. - Phát sinh thêm các khoản phí như phí nộp hồ sơ cho ủy ban chứng khoán, phí trả cho luật sự, phí trả cho công ty thâu tóm. - Nếu công ty mục tiêu kháng cự mạnh thì công ty đi thâu tóm phải tốn nhiều thời gian để thực hiện thương vụ. - Trường hợp có nhiều công ty cùng muốn mua lại công ty mục tiêu, có thể tham gia vào thương vụ và đẩy giá chào mua lên rất cao, thời gian thực hiện thương vụ kéo dài và công ty đi thâu tóm có thể gặp phải các thiệt hại và có thể trở thành mục tiêu thâu tóm của các công ty khác. - Việc loại bỏ hội đồng quản trị của công ty mục tiêu có thể ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của công ty mục tiêu sau thâu tóm. 24 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 Điều kiện áp dụng: Công ty đi thâu tóm phải có tiềm lực tài chính mạnh vì chi phí đi thâu tóm bỏ ra rất tốn kém và thời gian thực hiện thương vụ có thể bị kéo dài. c. Chiến thuật “proxy fights” (lôi kéo cổ đông bất mãn) Chiến thuật lôi kéo cổ đông bất mãn (Proxy fights) cũng thường khi một công ty lâm vào tình trạng kinh doanh yếu kém và thua lỗ, có một bộ phận không nhỏ cổ đông bất mãn và muốn thay đổi ban quản trị và điều hành công ty mình. Trước tiên, công ty cạnh tranh sẽ mua một số lượng cổ phần tương đối lớn (nhưng chưa đủ để chi phối) cổ phiếu trên thị trường để trở thành cổ đông của công ty mục tiêu. Sau khi đã hội đủ số lượng cổ phần chi phối đủ để loại ban quản trị cũ, công ty cạnh tranh và các cổ đông bất mãn sẽ triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông và bầu đại diện của công ty cạnh tranh vào Hội đồng quản trị mới. Để ngăn chặn hình thức thôn tính này, ban quản trị của công ty mục tiêu có thể sắp đặt các nhiệm kỳ của ban điều hành và ban quản trị xen kẽ nhau ngay từ trong Điều lệ công ty. Ưu điểm: Chi phí mà công ty thâu tóm bỏ ra có thể sẽ ít hơn so với các chiến thuật “tender offer” hay “bear hug”. Nhược điểm - Công ty thâu tóm phải nắm rõ tình hình nội bộ của công ty mục tiêu. - Công ty đi thâu tóm phải có nhiều thời gian để thâu tóm cổ phần trên thị trường và lôi kéo cổ đông bất mãn của công ty mục tiêu. 6. Các chiến thuật phòng và chống thâu tóm công ty Những chiến thuật phòng thủ bằng cách phát hành chứng khoán Những chiến thuật này nhằm làm cho công ty đi thâu tóm thấy rằng khi thực hiện thương vụ công ty đi thâu tóm sẽ bị thiệt hại thông qua việc phát hành các chứng khoán nhằm làm cho công ty mục tiêu ít giá trị hơn trong mắt các công ty đi thâu tóm và sửa đổi điều lệ công ty. a. Chiến thuật liều thuốc độc Chiến thuật này làm cho công ty mục tiêu kém hấp dẫn hơn trong mắt công ty đi thâu tóm, có 2 dạng chung là: flip-over và flip-in Cơ chế thực hiện chiến thuật: phát hành cho cổ đông thường cổ tức dưới dạng quyền mua cổ phần của công ty trong thời gian thực hiện chiến thuật (có thể lên đến 10 năm). Chiến thuật này thường được thực hiện bởi hội đồng quản trị của công ty mục tiêu mà không cần sự chấp nhận của cổ đông. 25 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 Chiến thuật thuốc độc thế hệ đầu: công ty mục tiêu đề xuất mỗi cổ đông thường trở thành cổ tức cố phần ưu đãi, cổ tức này có thể chuyển đổi thành một lượng cổ phần của công ty đi thâu tóm. Ví dụ: Brown Foreman muốn thâu tóm Lenox, Lenox đề nghị một cổ tức cổ phần ưu đãi có thể chuyển thành 40 cổ phần của Brown Foreman nếu thương vụ thành công. Tác động: chiến thuật này gây ra tác động bất lợi ngay lập tức lên bảng cân đối kế toán. Điều này là bởi khi nhà phân tích tính toán đòn bẩy của công ty, cổ phần ưu đãi có thể được tính thêm vào nợ dài hạn, vì vậy cho đòn bẩy của công ty nặng hơn và vì vậy rủi ro hơn trong mắt nhà đầu tư sau khi thực hiện kế hoạch cổ phần ưu đãi. Ưu điểm: hiệu quả trong việc ngăn chặn thương vụ thành công. Nhược điểm: - Chỉ có thể rút lại kế hoạch sau khoản thời gian dài (có thể kéo dài gần 10 năm). - Làm tăng thêm đòn bẩy tài chính của công ty do cổ phần ưu đãi được tính thêm vào nợ dài hạn, trở nên rủi ro hơn trong mắt nhà đầu tư, tác động đến giá cổ phiếu. - Bị vô hiệu hóa khi cổ đông công ty mục tiêu gây áp lực buộc hội đồng quản trị phải loại bỏ chiến thuật thuốc độc. Chiến thuật viên thuốc độc thế hệ thứ hai (Flip-over rights) Bản chất của chiến thuật này là cho phép cổ đông công ty mua cổ phiếu tại mức giá thấp khi công ty mục tiêu bị thâu tóm. Công ty mục tiêu phát hành các quyền chọn cho phép cổ đông mua một lượng cổ phiếu nhất định với giá định trước trong một khoản thời gian nhất định. Chiến thuật này có hiệu quả ngay khi công ty thâu tóm khởi động cho thương vụ chẳng hạn như: - Công ty đi thâu tóm đạt được 20% cổ phần đang lưu hành của công ty mục tiêu. - Công ty đi thâu tóm chào mua công khai từ 30% cổ phiếu của công ty mục tiêu. Ưu điểm: Loại trừ bất kỳ tác động bất lợi nào tới bảng cân đối kế toán do chiến thuật này không bao gồm việc phát hành cổ phần ưu đãi. Nhược điểm: - Chiến thuật này chỉ có hiệu quả khi ngăn ngừa thâu tóm toàn bộ công ty mục tiêu. Trong năm 1985, Sir James Goldsmith đạt được hơn 50% cổ phần của Crown Zellerbach để giành quyền kiểm soát toàn bộ công ty và tài sản đồng thời tránh được chiến thuật “flip-over”. - Chiến thuật này làm cho công ty mục tiêu khó khăn trong việc tìm kiếm một “white knight”. 26 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 Chiến thuật viên thuốc độc thế hệ thứ ba (Flip-in) Bản chất chất của chiến thuật này là nhằm pha loãng cổ phiếu của công ty đi thâu tóm bằng quy định cho phép cổ đông của công ty mục tiêu có quyền nắm giữ cổ phiếu của công ty đi thâu tóm. Ưu điểm: chiến thuật này hiệu quả khi đối đầu với các công ty có âm mưu thâu tóm khi mà các công ty này tìm cách giành quyền kiểm soát công ty mục tiêu mà không đạt được đa số quyền kiểm soát. Nhược điểm: chiến thuật này chỉ có hiệu quả nếu công ty đi thâu tóm đạt được 100% cổ phiếu của công ty mục tiêu. b. Thoái vốn Chiến thuật này cho phép cổ đông hoán đổi quyền cùng với một cổ phần thành tiền mặt hoặc chứng khoán cao cấp có giá trị tương đương với giá thoái vốn. Giá thoái vốn được thiết lập dựa trên giá thị trường và thiết lập mức giá thấp nhất cho thương vụ. Chiến thuật này nhằm giãm hiệu quả của chào thầu công khai. c. Kế hoạch biểu quyết Chiến thuật này nhằm ngăn ngừa bất kỳ công ty bên ngoài nào giành được quyền biểu quyết trong công ty mục tiêu. Khi công ty bên ngoài đạt được tỷ lệ phần trăm cổ phần nhất định của công ty mục tiêu, người nắm giữ cổ phần ưu đãi sẽ trở thành người có quyền biểu quyết vượt trội. Chiến thuật này nhằm ngăn ngừa các cá nhân hay tổ chức (có thể âm mưu thôn tính thù địch) nắm giữ lượng lớn cổ phiếu không đạt được quyền kiểm soát biểu quyết trong công ty mục tiêu. d. Chiến thuật cổ phần ưu đãi blank check Điều lệ công ty có thể quy định bắt buộc phải phát hành cổ phần và hội đồng quản trị có thề phát hành quyền mua cổ phần. Hội đồng quản trị có thể tạo ra và dự trữ một lượng cổ phần ưu đãi nhất định trong trường hợp quyền mua lại cổ phần được thực hiện. Chiến thuật này nhằm ngăn chặn hội đồng quản trị kêu gọi sự chấp nhận của cổ đông về việc sửa đổi điều lệ công ty: cho phép phát hành cổ phần để đáp ứng quyền mua cổ phần. Việc kêu gọi sự ủng hộ của cổ đông có thể làm gia tăng sự chậm chạp, sự không chắc chắn và làm suy yếu chiến thuật thuốc độc. Cổ phần ưu đãi blank check có thể kết hợp với chiến thuật white squire. Trong trường hợp này, hội đồng quản trị nhanh chóng phát hành cổ phần cho một bên thân thiện như người lao động. 27 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 e. Chiến thuật thuốc độc NOLs Một công ty với tình trạng tài chính nghèo nàn có thể giúp cho chủ sở hữu các công ty này bù đắp thu nhập khác trong tương lai và làm giảm khoản lợi nhuận chịu thuế. f. Chiến thuật Poison puts Chiến thuật này bao gồm phát hành trái phiếu kèm theo một quyền chọn bán, có thể chỉ thực hiện trong trường hợp xảy ra thâu tóm thù địch. Quyền chọn bán này cho phép người nắm giữ trái phiếu bán trái phiếu cho một cá nhân hoặc công ty khác trong khoản thời gian nhất định với mức giá xác định. Công ty mục tiêu hy vọng việc cổ đông đổi trái phiếu thành tiền mặt sẽ tạo ra nhu cầu tiền mặt lớn cho công ty mục tiêu từ đó làm cho tương lai của thương vụ ít hấp dẫn hơn. Nếu công ty đi thâu tóm thuyết phục được cổ đông của công ty mục tiêu không bán lại trái phiếu thì chiến thuật này có thể bị vô hiệu. Ưu điểm: Hạn chế và làm chậm quá trình thâu tóm, làm công ty hoặc doanh nghiệp thâu tóm chịu thiệt hại lớn về kinh tế nếu thực hiện thâu tóm, chiến thuật này làm giảm quyết tâm của công ty đi thâu tóm. Nhược điểm: Chiến thuật này chỉ có thể áp dụng với các DN đi thâu tóm nhưng tiềm lực tài chính không mạnh. Chiến thuật này sẽ làm thiệt hại lớn cho công ty. Các chiến thuật phòng thủ bằng cách tác động đến điều lệ công ty. Những chiến thuật phòng thủ bằng cách làm thay đổi đa dạng điều lệ công ty nhằm gây khó khăn cho công ty đi thâu tóm trong việc giành quyền kiểm soát công ty. a. Điều kiện hội đồng quản trị so le Quy định bầu cử hội đồng quản trị so le trong đó chỉ một số thành viên hội đồng quản trị được bầu chọn lại vào mỗi năm và có nhiệm kỳ hoạt động trong nhiều năm thay vì bầu đồng loạt một lúc. Chiến thuật này yêu cầu phải có sự chấp thuận của cổ đông trước khi thực hiện. Hội đồng quản trị so le là hội đồng quản trị với các điều kiện đa dạng. Ví dụ: 1/3 thành viên trong hội đồng quản trị được bầu chọn mỗi năm, với nhiệm kỳ hoạt động trong 3 năm. Hội đồng quản trị được bầu so le có thể làm cho công ty mua lại tốn thêm thời gian cần thiết để có được đa số ghế trong trong hội đồng quản trị. Sự kết hợp của chiến thuật thuốc độc và hội đồng quản trị so le có thể là một sự kết hợp phòng ngừa bị thâu tóm một cách mạnh mẽ vì khi hội đồng quản trị so le áp đặt sự thay đổi hội đồng quản trị bị trì hoãn thì chiến thuật thuốc độc sẽ mạnh mẽ hơn. 28 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 b. Các điều khoản đại đa số Điều lệ của công ty bắt buộc tỷ lệ phần trăm biểu quyết tán thành cần thiết để chấp thuận một số các giao dịch quan trọng với mức tỷ lệ cao hơn 50%, chẳng hạn như: sự sáp nhập, thanh lý công ty, bán tài sản quan trọng, kinh doanh của công ty, hoặc giao dịch với các bên quan tâm hoặc cổ đông lớn. Thông thường tỷ lệ đa số 2/3 là phổ biến, tuy nhiên với một số công ty khác tỷ lệ này có thể cao hơn. Nhiều công ty có bản điều lệ bên cạnh điều khoản đại đa số với điều khoản đặc biệt “board out”. Trong trường hợp này, điều khoản đại đa số không thể áp dụng nếu như hội đồng quản trị chấp thuận việc sáp nhập nhằm đảm bảo điều khoản đại đa số được sử dụng để ngăn cản hoạt động mua lại công ty có hội đồng quản trị thù địch. c. Quy định giá hợp lý Quy định giá hợp lý là một sự sửa đổi điều lệ công ty yêu cầu để đạt được phải trả cho cổ đông tối thiểu thấp nhấp là bằng giá thị trường hợp lý cho cổ phiếu của công ty. Quy định giá hợp lý thường được kích hoạt khi công ty thâu tóm đưa ra một đề nghị thâu tóm. Quy định giá hợp lý thường hữu dụng khi công ty mục tiêu là một mục tiêu của đề nghị công ty thâu tóm hai chiều. Yêu cầu của người công ty thâu tóm để trả giá phù hợp thấp nhất giúp phủ nhận áp lực của một đề nghị hai phía để áp đặt. Tuy nhiên, khi chúng ta đã ghi nhận, đề nghị hai chiều thì không còn quan trọng đối với sự thâu tóm. Đây là lý do tại sao ngày nay quy định giá hợp lý không còn phố biến. Vì rằng quy định giá hợp lý là một sự bảo vệ chống thâu tóm tương đối yếu, và không bất ngờ rằng nghiên cứu về hiệu ứng tài sản cổ đông không tìm thấy tác động đáng kể theo sau việc thực hiện. d. Vốn đôi Vốn đôi là việc tái cấu trúc vốn thành hai loại cổ phần với quyền biểu quyết khác nhau. Tái cấu trúc vốn có thể tiến hành chỉ khi có sự chấp nhận của cổ đông. Có nhiều lý do đa dạng để có nhiều hơn một loại cổ phiếu ngoại trừ việc phòng ngừa một sự thâu tóm thù địch. Cổ phần với quyền biểu quyết cao hơn có thể có 10 hoặc 100 biểu quyết cho một cổ phần. Cổ đông có quyền chuyển đổi cổ phần có quyền biểu quyết cao thành cổ phần thường vì siêu cổ phần có thể thiếu thị trường hoặc trả cổ tức thấp. e. Thay đổi loại hình thành lập công ty Tại các bang khác nhau của Mỹ, mỗi bang có luật chống thâu tóm khác nhau, một công ty có thể chọn chuyển địa chỉ pháp lý tại các bang có luật chống thâu tóm mạnh mẽ hơn. Các công ty thường thực hiện bằng cách tạo ra một công ty con tại bang mới và sau đó hợp nhất 29 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 công ty mẹ vào công ty con, được gọi là tái kết hợp. Và tái kết hợp có thể gây khó khăn cho công ty đi thâu tóm thực hiện thương vụ. 2. Các chiến thuật chống bị thâu tóm a. Thư xanh (Greenmail) Các giám đốc có thể sắp xếp để mua lại cổ phiếu của chính công ty mình để ngăn chặn trước một thương vụ. Trong phương thức này, một công ty mua lại chính cổ phiếu của công ty mình từ một công ty đề nghị mua lại, thường ở mức giá cao, với điều kiện là người bán cổ phiếu hứa không mua lại công ty mục tiêu trong một khoảng thời gian quy định. Khoản thanh toán như vậy được gọi là thư xanh. b. Thỏa thuận giới hạn sự nắm giữ cổ phần (standstill agreements) Một thỏa thuận giới hạn sự nắm giữ cổ phần xảy ra khi công ty mua lại đồng ý với một khoản tiền phí, giới hạn mức nắm giữ cổ phần của công ty mục tiêu. Như một phần của thỏa thuận, công ty mua lại thường hứa cho công ty mục tiêu được ưu tiên là người đầu tiên được mời hoặc là người đầu tiên có quyền từ chối mua lại cổ phiếu của mình khi công ty mua lại bán cổ phần đang nắm giữ. Lời hứa này nhằm ngăn chặn một lượng cổ phần của công ty mục tiêu rơi vào tay của các công ty muốn mua lại. c. Hiệp sĩ áo trắng (white knight). Công ty mục tiêu có thể tìm kiếm một công ty thâu tóm thân thiện, hoặc white knight, như là một sự thay đổi trong thâu tóm thù địch. d. Địa chủ áo trắng (White squire). Công ty mục tiêu có thể để cổ phần và tài sản trong tay các công ty hoặc nhà đầu tư thân thiện. Các công ty hoặc nhà đầu tư thân thiện này được gọi là white squire. e. Tái cơ cấu trúc vốn (recapitalization). Công ty mục tiêu có thể thực hiện nhiền hành động có thể thay đổi cấu trúc vốn của công ty. Ban điều hành của công ty mục tiêu thường sẽ phát hành nợ để thanh toán cổ tức – hình thức như vậy được gọi là tái cơ cấu vốn bằng đòn bẫy tài chính. Việc mua lại cổ phần cũng được xem là một giao dịch tương tự khi mà công ty phát hành nợ nhằm mua lại cổ phần của chính mình. Hai giao dịch là cách tránh việc mua lại. Thứ nhất, giá của cổ phiếu có thể tăng, có thể là do gia tăng lợi ích tấm chắn thuế từ việc sử dụng nhiều nợ hơn. Một sự gia tang trong giá cổ phiếu sẽ làm cho thương vụ mua lại trở nên ít 30 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 hấp dẫn hơn dưới gốc độ công ty đề mua. Tuy nhiên, giá cổ phiếu chỉ tăng nếu như trước khi tái cơ cấu lại vốn mức độ sử dụng nợ của công ty ở dưới mức tối ưu, do đó phương cách tái cấu cơ cấu lại vốn có sử dụng đòn bẫy không được khuyến cáo thực hiện cho tất cả công ty mục tiêu. Thứ hai, như là một phần của quá trình tái cơ cấu lại vốn, ban điều hành có thể phát hành chứng khoán mới nhằm gia tang quyền bỏ phiếu và kiểm soát so với trước khi tái cơ cấu vốn. Việc gia tang quyền kiểm soát làm cho việc mua lại mang tính thù địch trở nên khó khăn hơn. Thứ ba, các công ty có quá nhiều tiền mặt trên bảng cân đối kế toán thường được xem là những công ty mục tiêu hấp dẫn dưới mắt các công ty thâu tóm. Khi nói đến tái cấu trúc vốn, công ty mục tiêu có thể dung lượng tiền mặt dư thừa để thanh toán cổ tức hoặc mua lại cổ phiếu, khi đó làm giảm mức độ hấp dẫn của công ty trước những công ty mua lại mang tính thù địch. f. Kiện tụng. Công ty mục tiêu khởi kiện công ty thâu tóm, và công ty thâu tóm thường đáp trả bằng hành động chống lại tố tụng. Điều này không bình thường để nhìn thấy một cuộc chiến thâu tóm không đặc trưng bởi kiện tụng như là một công cụ được sử dụng bởi bất kỳ bên nào. g. Pac-Man defense. Một trong những cách bảo vệ cực đoan hơn xảy ra khi công ty mục tiêu đưa ra một đề nghị chào giá có tính cạnh tranh cho công ty thâu tóm. Đây là một trong những sự bảo vệ chống thâu tóm nhiều màu sắc hơn, mặc dù hiếm khi được sử dụng. Ưu điểm và nhược điểm của từng chiến thuật: Chiến thuật Greenmail Mô tả Ưu điểm Nhược điểm Những người đi thâu - Có thể thương lượng -Bị cấm tại một số nơi như tóm cổ phần của công ty với công ty thâu tóm California mục tiêu, sau đó đề xuất một mức giá hợp lý - Greenmail sẽ làm thay với lãnh đạo công ty để loại bỏ hiệu ứng đổi sự giàu có của cổ đông mục tiêu mua lại cổ gây rối công ty mục tiêu. phần của họ với giá cao - Rào cản của thuế đánh hơn giá thị trường trên giao dịch Greenmail (mức thuế 50% đánh trên phần thu nhập nhận được 31 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 từ giao dich này) - Chi phí kiện tụng lớn - Tốn chi phí lớn để chi trả Standstill Các thỏa thuận này đi - Thỏa thuận hoãn nợ cho công ty thâu tóm. - Làm cho suất sinh lời agreement kèm với việc thanh toán có thể cung cấp một giảm đối với cổ đông công s bán lại cổ phần cho công mức đền bù cho công ty mục tiêu, làm thay đổi ty thâu tóm công ty ty thâu tóm để không sự giàu có của cổ đông mình. Các công ty đi đe dọa lấy quyền công ty mục tiêu. thâu tóm đồng ý không kiểm soát của công ty - Tốn chi phí lớn để chi trả mua thêm cổ phần của mục tiêu cho công ty thâu tóm. công ty mục tiêu để đổi White lại một khoản phí Một bên thứ ba với sự - Hiệp sĩ trắng sẽ mua - Khó tìm ra một hiệp sĩ áo Knight hậu thuẫn của ban điều lại toàn bộ cổ phần trắng sẵn sàng đồng ý với hành tiến hành chào của công ty với điều các điều khoản của công ty mua doanh nghiệp với khoản hấp dẫn hơn: là mục tiêu đề ra. giá cao hơn đối thủ cạnh giá cao hơn, không - Cổ đông công ty “hiệp sĩ tranh hiện tại. Chiến thay đổi mục tiêu trắng” sẽ chịu tồn thất do lược này vừa giúp bán danh nghiệp, không phai mua lại công ty mục được giá cao cho các cổ sa thải giàn quản lý tiêu với giá cao hơn. đông, đồng thời ban hiện tại. điều hành cũng giữ được White việc làm. Công ty mục tiêu có thể - Nhờ một công ty - Làm thay đổi quyền kiểm squire đặt cổ phần và tài sản hay một nhà đầu tư soát và quản lý của công ty của mình trong tay các bằng lòng mua lại cổ mục tiêu công ty hoặc nhà đầu tư phần ưu đãi chuyển - Mất phí chấm dứt, tan rã thân thiện đổi của công ty mục hoặc phí phạt khi công ty tiêu và cam kết không mục tiêu bị thâu tóm bởi Thay đổi Công ty mục tiêu có thể bán lại cho công ty công ty thù địch thâu tóm thù dịch. - Điều chỉnh tăng cơ - Chịu tác động bởi luật 32 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 cấu trúc thực hiện nhiền hành cấu nợ trong doanh của mỗi quốc gia và các vốn động có thể thay đổi cấu nghiệp sẽ làm giảm điều khoàn hạn chế trong trúc vốn của công ty sự hấp dẫn của công các hợp đồng vay đối với mình để làm tính hấp ty mục tiêu đối với chủ nợ. dẫn với công ty đi thâu công ty thâu tóm. - Sử dụng tỷ lệ nợ cao sẽ tóm - Việc thay đổi cơ cấu dẫn đến ro tài chính của vốn bằng cách chia cô doanh nghiệp cao tức nhiều hơn sẽ - Tùy vào mục đích tái cơ mang lại thu nhập cao cấu vốn mà có tác dộng hơn cho cổ đông công cùng hay trái chiều lên sự ty mục tiêu. giàu có của cổ đông công - Lợi thế về thuế của ty mục tiêu nợ để trả cổ tức - Thay đổi cơ cấu vốn bằng - Tập trung sự sở hữu vay nợ từ bên ngoài hoặc trong tay của quản lý phát hành thêm cổ phần sẽ công ty mục tiêu. gia tăng chi phí cho doanh nghiệp và làm loãng quyền kiểm soát và quản lý của Kiện tụng Công ty mục tiêu khởi - Giúp công ty mục cổ đông hiện hữu - Tốn chi phí tòa án, chi phí kiện công ty thâu tóm tiêu trì hoãn sự thâu pháp lý tóm để tạo ra sự bảo - Giá cổ phiếu giảm khi vệ hiệu quả hơn xuất hiện kiện tụng, suất - Có thêm thời gian sinh lợi của cổ phiếu công để tìm ra những công ty mục tiêu sẽ giảm. ty thâu tóm khác có - Khi kết quả kiện tụng mà mức giá đề nghị cao công ty thâu tóm rút lại đề hơn và có chính sách nghị thâu tóm thì công ty ưu đãi hơn với cổ mục tiêu chịu đựng tổn thất đông công ty mục đáng kể. tiêu. - Làm cho công ty thâu tóm điều chỉnh 33 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 tăng giá dề nghị thâu Pac-Man Công ty mục tiêu quay tóm công ty mục tiêu. - Kéo dài thời gian để defense lại thâu tóm chính công tìm ra những công ty vì công ty mục tiêu thường ty đi thâu tóm mình thâu tóm khác, hoặc không có khả năng thâu những chiến thuật tóm ngược lại công ty đi khác có lợi hơn. thâu tóm. - Không mang tính khả thi - Chi phí bỏ ra rất lớn và có thể gây ra tổn thất nặng nề cho công ty mục tiêu nếu như chiến thuật này thành công. * Các chiến thuật chống thâu tóm khác Jonestown Defense: Đây là phương pháp phòng thủ tiêu cực nhất, đẩy doanh nghiệp tới bờ vực phá sản hoặc để lại những di chứng xấu lâu dài cho doanh nghiệp như bán tài sản có giá trị của mình với giá rẻ cho tất cả mọi người, trừ doanh nghiệp đang muốn thâu tóm hay vay những khoản nợ lớn, đắt không cần thiết, chiến thuật này còn được gọi là “thuốc tự tử”. Crown Jewel: Chiến thuật là công ty mục tiêu bán đi mảng kinh doanh hoặc bộ phận đang rất tốt và chính là yếu tố chính của việc thôn tính thù địch. Giá trị của mảng kinh doanh hoặc bộ phận này được xác định bởi các đặc điểm như lợi nhuận, giá trị tài sản và triển vọng trong tương lai. Nguồn gốc của thuật ngữ này bắt nguồn từ những kho báu giá trị và quan trọng nhất mà chủ quyền sở hữu Thực hiện chiến thuật này khi doanh nghiệp bị thâu tóm nêu ý định bán đi bộ phận hoặc tài sản có giá trị nhất của mình nếu bị thâu tóm. * Các biến thể của chiến thuật White Knight Gray Knight: có vai trò tương tự như white knight, tuy nhiên sự ủng hộ của hội đồng quản trị với Gray Knight là không rõ ràng; Black Knight: là bên thứ 3 không có sự hậu thuẫn của hội đồng quản trị, tiến hành mua cổ phiếu giá cao hơn, lũng đoạn từ bên trong, do đó thực chất đây là một cuộc thôn tính thù nghịch khác. Lady Macbeth là khái niệm một bên thứ 3 ngụy trang dưới dạng white knight nhằm tìm kiếm sự hậu thuẫn của ban điều hành để tiến hành thâu tóm. Tuy nhiên, hiệp sĩ này thực chất là người của bên thôn tính, đánh lừa ban điều hành doanh nghiệp. 34 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 3. Điều kiện áp dụng các chiến thuật chống thâu tóm công ty Công ty mục tiêu sử dụng các chiến thuật chống lại công ty đi thâu tóm bằng cách tiến hành các chiến thuật thâu tóm thù địch. Các chiến thuật thâu tóm có thể thực hiện có thể chia thành hai loại: chiến thuật thâu tóm thù địch công khai là “bear hug” và “tender offer”; chiến thuật thâu tóm thù địch không công khai là “proxy fight”. a. Khi công ty đi thâu tóm thực hiện chiến thuật “bear hug” Công ty mục tiêu thực hiện chiến thuật chống thâu tóm theo hai trường hợp có thể xảy ra là: - Trường hợp thứ nhất: Hội đồng quản trị công ty mục tiêu đồng ý nhưng cổ đông công ty mục tiêu không đồng ý. Trong trường hợp thứ nhất, cổ đông không chấp nhận từ bỏ quyền sở hữu công ty mục tiêu. Vì vậy, cổ đông sẽ yêu cầu hội đồng quản trị thực hiện các chiến thuật chống thâu tóm sau: Cổ đông công ty mục tiêu chấp nhận thay đổi cấu trúc vốn thông qua việc công ty mục tiêu trả cổ tức cao hơn và sử dụng nhiều nợ hơn, hoặc chỉ sử dụng nhiều nợ hơn. Chiến thuật này làm cho công ty mục tiêu trở nên ít giá trị hơn trong mắt công ty đi thâu tóm và thương vụ thâu tóm này sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn. Hoặc công ty mục tiêu thay đổi số cổ phần đang lưu hành bằng cách mua lại cổ phần của chính mình để các công ty thâu tóm thù địch không thể mua lại số cổ phần đó. Kiện tụng công ty mục tiêu sẽ tiến hành khởi kiện công ty đi thâu tóm bằng ba hình thức phổ biến bao gồm: Công ty mục tiêu khởi kiện công ty đi thâu tóm vi phạm luật chống độc quyền: hình thức này hiệu quả trong giai đoạn 1960 đến 1970 khi U.S Justice Department nghiêm khắc thực hiện các quyết định thực thi của luật chống độc quyền. Công ty mục tiêu khởi kiện công ty đi thâu tóm về việc công bố thông tin không đầy đủ: hình thức này thường tranh luận rằng công ty đi thâu tóm không cung cấp các thông tin đầy đủ theo yêu cầu của luậ Williams Act. Hình thức nhằm làm cho công ty đi thâu tóm không thể huy động đủ tiền mặt cần thiết cho việc mua lại cổ phần của công ty mục tiêu. Công ty mục tiêu khởi kiện công ty đi thâu tóm gian lận: hình thức nào tốn kém nhiều chi phí hơn và khó khăn hơn để chứng minh. Pac-man defense: công ty mục tiêu tiến hành thâu tóm ngược lại công ty đi thâu tóm mình, nhưng trường hợp này ít khi xảy ra ngoại trừ trường hợp công ty mục tiêu có tiềm lực tài chính mạnh để đảo ngược tình thế. 35 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 Trường hợp thứ hai: hội đồng quản trị công ty mục tiêu không đồng ý nhưng cổ đông công ty mục tiêu đồng ý. Công ty mục tiêu tiến hành thỏa thuận hoãn nợ đi kèm với việc bán một phần cổ phần cho công ty đi thâu tóm, và công ty đi thâu tóm cam kết không mua thêm cổ phần của công ty mục tiêu, đổi lại công ty mục tiêu thanh toán một khoản phí cho công ty đi thâu tóm. Chiến thuật Greenmail: công ty mục tiêu mua lại cổ phần với giá mà công ty đi thâu tóm đưa ra, chiến thuật này nhằm giữ không cho công ty đi thâu tóm đạt được thêm cổ phần đang lưu hành của công ty mục tiêu, và đáp ứng được nhu cầu muốn bán lại cổ phiếu của cổ đông. Chiến thuật white knight: công ty mục tiêu đi tìm một white knight tức là một công ty thâu tóm thâu thiện hơn với hội đồng quản trị nhằm bảo vệ vị trí của mình. Chiến thuật white squire: công ty mục tiêu để một phần tài sản và cổ phần trong tay một công ty khác hay một nhà đầu tư thân thiện hơn, chiến thuật này cũng giúp hội đồng quản trị của công ty mục tiêu duy trì quyền kiểm soát của mình. b. Khi công ty đi thâu tóm thực hiện chiến thuật “tender offer” Công ty mục tiêu tiến hành các chiến thuật chống thâu tóm tương tự với trường hợp công ty đi thâu tóm thực hiện chiến thuật “bear hug”. c. Khi công ty đi thâu tóm thực hiện chiến thuật “proxy fight” Khi công ty đi thâu tóm thực hiện chiến thuật “proxy fight”, trong trường hợp này công ty mục tiêu khó có thể phát hiện công ty nào đi muốn thâu tóm mình hoặc phát hiện khi công ty thâu tóm đã lôi kéo thành công cổ đông bất mãn. Vì vậy, đối với chiến thuật “proxy fight” công ty mục tiêu phải từ đề phòng bằng cách giảm vấn đề chi phí đại diện và quản lý tốt công ty, để công ty đi thâu tóm không thể tận dụng sự bất mãn của cổ đông để lôi kéo cổ đông bất mãn và giành quyền kiểm soát công ty mục tiêu. 36 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 CHƯƠNG 11: TÁI CẤU TRÚC DOANH NGHIỆP 1.4. Phân loại các loại hình tái cấu trúc doanh nghiệp dưới hình thức thu hẹp hoạt động thông qua hình thức thoái vốn Việc tái cấu trúc doanh nghiệp dưới hình thức thu hẹp hoạt động thông qua hình thức thoái vốn (sau đây gọi tắt là tái cấu trúc doanh nghiệp) có thể được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau. Nhóm chủ động giữ nguyên thuật ngữ bằng tiếng anh trong xuyên suốt bài nghiên cứu. Các hình thức tái cấu trúc doanh nghiệp gồm có: - Sell-off: là một thuật ngữ chung, mô tả việc bán đi một phần của công ty. Sell-off gồm các hình thức khác được mô tả bên dưới. - Divestiture: Là một hình thức của sell-off mà trong đó công ty bán đi một mảng kinh doanh của mình cho nhà đầu tư bên ngoài. Thương vụ thường được thanh toán bởi tiền mặt hoặc chứng khoán hoặc cả hai. - Equity carve-out: là một hình thức của sell-off mà trong đó công ty mẹ sẽ chào bán công khai một phần vốn cổ phần của công ty con cho nhà đầu tư bên ngoài. - Spin-off: Là một dạng của sell-off mà trong đó công ty mẹ chuyển giao cổ phần của mảng kinh doanh mà công ty muốn từ bỏ cho cổ đông hiện tại theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của công ty mẹ; thông thường việc chuyển giao này được thực hiện theo hình thức chia cổ tức (tức là thay vì cổ đông nhận được tiền thì họ sẽ nhận được cổ phần của cty spin-off – là mảng kinh doanh mà công ty từ bỏ). Chính vì thế mà thành phần cổ đông của công ty cũ và công ty mới được “Spin-off” này sẽ hoàn toàn giống nhau, tuy nhiên ban quản trị của công ty spin-off sẽ khác nhau và công ty spin-off sẽ là một công ty hoàn toàn độc lập. - Spit-up: là một chuỗi các hoạt động spin-off. Kết quả cuối cùng là công ty mẹ không còn tồn tại nữa, thay vào đó là các công ty spin-off mới hoàn toàn. - Split-off hay Exchange offer: khá giống với Spin-off ở chỗ là công ty con cũng sẽ được phát hành cổ phần và chào bán cho cổ đông của công ty mẹ. Các cổ đông này có hai lựa chọn, một là tiếp tục nắm giữ cổ phần của công ty mẹ, hai là chuyển đổi cổ phần của công ty mẹ thành cổ phần của công ty con theo một tỷ lệ nhất định. 37 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 1.5. Quy trình tái cấu trúc Quá trình tái cấu trúc là một quá trình đặc thù (tức các thương vụ thoái vốn không có thương vụ nào giống thương vụ nào). Một quá trình tái cấu trúc/thoái vốn thường gồm 6 bước, được mô tả ngắn gọn như sau: Bước 1: Quyết định tái cấu trúc Ban quản trị công ty mẹ phải quyết định liệu việc tái cấu trúc hay nói cách khác là thoái vốn có phải là hành động thích hợp hay không. Quyết định này chỉ được thực hiện sau khi phân tích về mặt tài chính cho các phương án khác nhau một cách kĩ lưỡng. Bước 2: Xây dựng kế hoạch tái cấu trúc Một kế hoạch tái cấu trúc cần phải được xây dựng, công ty mẹ và công ty con cần thương lượng về một thỏa thuận chung. Kế hoạch tái cấu trúc này rất cần thiết trong trường hợp spin – off, khi đó sẽ bao gồm một mối quan hệ tiếp tục giữa công ty mẹ và công ty con. Kế hoạch này cần nêu ra các chi tiết như việc bố trí tài sản và các khoản nợ của công ty con như thế nào, thiết lập nhóm phụ trách vấn đề thoái vốn bao gồm các thành viên của nhiều phòng ban khác nhau như nhân sự, pháp chế, kế toán, tài chính. Công việc của nhóm này khá đa dạng như đàm phán với bên mua hoặc xử lý các vấn đề nhân sự có thể xảy ra như người lao động chuyển sang một công ty khác hoặc khi họ bị chấm dứt hợp đồng. Doanh nghiệp bị thoái vốn càng lớn thì càng có nhiều nguồn tài nguyên quản lý được đầu tư vào quá trình lên kế hoạch và thực hiện kế hoạch. Trong trường hợp công ty con giữ một số tài sản nhất định, số còn lại chuyển về công ty mẹ, kế hoạch cần phải chi tiết được chi tiết tài sản bố trí như thế nào. Những vấn đề còn lại như việc duy trì nhân viên, tài trợ lương hưu, trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cũng cần được đề cập và giải quyết. Bước 3: Bán đi mảng kinh doanh Một doanh nghiệp muốn thoái vốn thành công cần phải tìm được người mua. Thông thường bên bán sẽ sử dụng dịch vụ của các ngân hàng đầu tư. Họ và ngân hàng sẽ xác định người mua phù hợp và tiếp thị công ty cần bán cho bên mua tiềm năng. Họ thường chuẩn bị một bản ghi nhớ bí mật, thể hiện một lượng lớn thông tin mà bên mua có thể sẽ hứng thú. Khi bên mua tiềm năng cảm thấy hứng thú, quá trình thương thảo sẽ diễn ra. Trong trường hợp bên bán nhận được nhiều lời đề nghị, họ sẽ chọn đề nghị hấp dẫn nhất. 38 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com) lOMoARcPSD|45114501 Bước 4: Cổ đông phê duyệt kế hoạch Mức độ phê duyệt kế hoạch cần thiết hay không phụ thuộc vào sự quan trọng của giao dịch và những luật có liên quan. Như trong trường hợp thoái vốn trong một mảng chính của công ty mẹ, có thể cần phải có sự chấp thuận của cổ đông. Nếu phải như vậy, kế hoạch trên phải được đệ trình lên cổ đông thông qua Đại hội cổ đông. Cổ đông cũng sẽ nhận được yêu cầu phê duyệt thoái vốn. Tài liệu được gửi đến cổ đông cũng sẽ để cập đến các vấn đề khác như thay đổi các điều khoản của tập đoàn. Bước 5: Đăng ký cổ phần Nếu giao dịch yêu cầu phát hành cổ phiếu, thì cổ phiếu này phải được đăng ký với Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch (SEC). Bên cạnh đó, bản cáo bạch cũng sẽ phải được thực hiện và phân phối đến toàn bộ cổ đông nhận cổ phiếu trong pháp nhân bị chia tách (Thường xuất hiện trong loại hình “Spin-off”) Bước 6: Hoàn tất thương vụ Sau khi các bước sơ bộ này đã được thực hiện, thỏa thuận có thể được hoàn thành. Mảng kinh doanh bị thoái vốn sẽ tách ra khỏi công ty mẹ theo lịch trình được sắp xếp trước. 39 Downloaded by Huetran Truong (huetran2003ht@gmail.com)
0
You can add this document to your study collection(s)
Sign in Available only to authorized usersYou can add this document to your saved list
Sign in Available only to authorized users(For complaints, use another form )