BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM KHOA IN & TRUYỀN THÔNG CHỦ ĐỀ: THỰC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ SỰ ẢNH HƯỞNG VỀ ĐỘ PH CỦA DUNG DỊCH CẤP ẨM ĐỐI VỚI GIA TĂNG TẦNG THỨ TRÊN TỜ IN ĐỒ ÁN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM IN GVHD: Th.S Chế Quốc Long SVTH : Hồ Minh Thương-21158059 TP.Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 12 năm 2024 NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ ............................................................................................................................ TRANG 1 LỜI CẢM ƠN! Trải qua 4 năm học tập và rèn luyện trên ghế nhà trường. Với sự giúp đỡ, giảng dạy tận tình của đội ngũ giáo viên Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM, đặc biệt là Khoa In và Truyền Thông đã mang đến cho em nguồn kiến thức và vốn kinh nghiệm vô cùng quý báu. Trong suốt thời gian từ khi thực hiện đồ án em đã được thầy cô trong khoa giúp đỡ rất nhiều để hoàn thành tốt môn đồ án. Để hoàn thành được đồ án môn học này, lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn thầy Chế Quốc Long đã tận tình hướng dẫn. Cảm ơn những bài giảng trên lớp của thầy và các giáo viên khoa in và truyền thông đã giúp em có thêm được nhiều kiến thức về chuyên ngành. Em cũng xin chân thành cảm ơn đến Công ty TNHH Sản xuất Khang Thành đã hỗ trợ và cho phép em tham quan, thực tập tại Công ty. Cảm ơn Chú Đào Công Tùng trưởng bộ phận sản xuất 1 đã sắp xếp thời gian giúp em có thể thực tập tại công ty cũng như trong quá trình làm đồ án. Mặc dù em đã có nhiều cố gắng để thực hiện đồ án. Song do vẫn còn là sinh viên nên khả năng tìm hiểu tài liệu và tiếp cận thực tế còn hạn chế nên trong quá trình thực hiện không tránh khỏi những sai sót. Em mong đây là một đề tài thực nghiệm có thể giúp công ty đánh giá được tầm quan trọng của việc kiểm soát độ pH của dung dịch cấp ẩm đến gia tăng tầng thứ trên tờ in nhằm giúp cho công ty có cái nhìn tổng quát hơn có thể ứng dụng vào sản xuất cụ thể. Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dạy của thầy để đồ án được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Hồ Minh Thương TRANG 2 MỤC LỤC Nhận xét của giảng viên.................................................................................. 1 Lời cảm ơn! ..................................................................................................... 2 PHẦN DẪN NHẬP: ....................................................................................... 5 1. Lý do chọn đề tài: ....................................................................................... 5 2. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu .............................................................. 6 2.1.Mục tiêu của đề tài .................................................................................... 6 2.2. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................. 6 3. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 6 PHẦN CƠ SỞ LÝ LUẬN: ............................................................................. 7 1.Lịch sử nghiên cứu....................................................................................... 7 2.Các khái niệm cơ bản:................................................................................ 10 2.1.Dung dịch cấp ẩm bản in offset: ............................................................. 10 2.2.Độ pH… .................................................................................................. 12 2.3. Gia tăng tầng thứ (Tone value increase - TVI) ...................................... 12 3. Ảnh hưởng của pH đến gia tăng tầng thứ trên tờ in ................................. 15 3.1. Hoạt động của dung dịch cấp ẩm và mối quan hệ với mực in .............. 15 3.2. Độ pH của dung dịch cấp ẩm ................................................................. 17 3.3. Ảnh hưởng của độ pH đến gia tăng tầng thứ trên tờ in ......................... 17 PHẦN THỰC NGHIỆM .............................................................................. 19 1. Mục tiêu.. .................................................................................................. 19 2.Nguyên liệu và thiết bị ............................................................................... 19 3.Tiến hành thực nghiệm và thu tập dữ liệu ................................................. 20 3.1.Thiết kế thực nghiệm: ............................................................................. 20 3.2. Các bước tiến hành thực nghiệm: .......................................................... 20 3.3.Thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu: .................................................... 22 3.4. Nguyên nhân .......................................................................................... 27 TRANG 3 3.5. Giải pháp ................................................................................................ 28 PHẦN KẾT LUẬN ....................................................................................... 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 31 TRANG 4 PHẦN DẪN NHẬP: 1. Lý do chọn đề tài: Trong ngành in offset, chất lượng bản in là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của nhà in và sự hài lòng của khách hàng. Một trong những vấn đề kỹ thuật phổ biến nhưng khó kiểm soát là hiện tượng gia tăng tầng thứ, làm giảm độ sắc nét, sai lệch màu sắc và mất chi tiết trên bản in. Không chỉ gây khó khăn trong việc đáp ứng yêu cầu kỹ thuật mà còn làm tăng chi phí sản xuất do phải hiệu chỉnh nhiều lần. Trong quy trình in offset, dung dịch cấp ẩm đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng mực – nước trên bề mặt bản in. Độ pH của dung dịch cấp ẩm là một thông số then chốt, ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát gia tăng tầng thứ. Độ pH không tối ưu có thể gây hiện tượng lan rộng của mực, làm mất chi tiết hình ảnh hoặc giảm hiệu quả của quá trình in. Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất, nhiều nhà in vẫn chưa đánh giá đầy đủ tác động của pH đến gia tăng tầng thứ trên tờ in, dẫn đến việc kiểm soát chất lượng bản in chưa được tối ưu. Việc nghiên cứu thực nghiệm "Ảnh hưởng của độ pH dung dịch cấp ẩm đến gia tăng tầng thứ trên tờ in" là cần thiết để lấp đầy khoảng trống trong lĩnh vực này. Nghiên cứu không chỉ làm rõ mối quan hệ giữa độ pH và hiện tượng dot gain, mà còn đưa ra các thông số cụ thể để hỗ trợ nhà in cải thiện chất lượng bản in, giảm thiểu sai sót kỹ thuật và tiết kiệm chi phí sản xuất. Ngoài ra, đề tài còn mang ý nghĩa thực tiễn cao trong việc hỗ trợ ngành in offset phát triển bền vững. Kết quả của bài thực nghiêm sẽ cung cấp cơ sở khoa học để các doanh nghiệp in áp dụng hiệu quả vào thực tế, nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trong bối cảnh ngành in ngày càng yêu cầu khắt khe hơn.Với các lý do trên, việc thực hiện đề tài này không chỉ là một thách thức kỹ thuật mà còn là cơ hội để đóng góp vào sự phát triển chung của ngành in offset. TRANG 5 2. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu 2.1. Mục tiêu của đề tài Xác định ảnh hưởng của độ pH và độ dẫn điện của dung dịch cấp ẩm đến chất lượng in: Đề tài hướng đến việc làm rõ tác động cụ thể của từng thông số kỹ thuật (độ pH và độ dẫn điện) trong dung dịch cấp ẩm đối với việc gia tăng tầng thứ và độ đồng đều của lớp mực trên tờ in. Đề xuất giải pháp cải thiện quy trình cấp ẩm trong in offset: Từ kết quả nghiên cứu, đề tài sẽ đưa ra các khuyến nghị về điều chỉnh dung dịch cấp ẩm trong quá trình in để giảm thiểu lỗi in ấn, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất. 2.2. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng chính của nghiên cứu là dung dịch cấp ẩm được sử dụng trong quá trình in offset. Cụ thể là các yếu tố trong dung dịch này như độ pH và độ dẫn điện, là các thông số kỹ thuật quan trọng cần được kiểm soát. Ảnh hưởng của dung dịch cấp ẩm lên tầng thứ trên tờ in: Thực nghiệm này sẽ tập trung vào việc đánh giá mối quan hệ giữa các thông số của dung dịch cấp ẩm với gia tăng tầng thứ trên tờ in. 3. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp thực nghiệm: sử dụng các thiết bị để đo đạc và thu thập dữ liệu ngay trong chính quá trình sản xuất thực tế Phương pháp thống kê: Sử dụng các phương pháp thống kê để xử lý dữ liệu đã thu thập được, từ đó đánh giá mối tương quan giữa độ pH của dung dịch cấp ẩm với tầng thứ trên tờ in. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu liên quan nhằm tìm hiểu các nghiên cứu trước đây và tài liệu khoa học về dung dịch cấp ẩm, vai trò của độ pH và độ dẫn điện trong in offset để làm cơ sở lý thuyết cho thực nghiệm. Điều này giúp xây dựng nền tảng vững chắc cho đề tài trong quá trình phân tích kết quả. TRANG 6 PHẦN CƠ SỞ LÝ LUẬN: 1. Lịch sử nghiên cứu Trên tạp chí hóa học châu á (Asian journal of chemistry) tập 24, số 2 (2012) trang 641- 645 đã có 1 bài nghiên cứu khoa học ” Đánh Giá Dung Dịch Làm Ẩm Trong Công Nghệ In Offset Về Khả Năng Đảm Bảo Chất Lượng In (Analysis of the Fountain Solution in the Offset Printing in Terms of Printability)”. Bài nghiên cứu này là kết quả cho sự hợp tác của 2 trường là: Đại học Marmara, Khoa In ấn, Goztepe Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ và Trường Cao đẳng Kỹ thuật Marmara, Khoa Thiết kế-In ấn & Xuất bản, Goztepe Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Trong bài nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của cân bằng mực nước trong in offset, phân tích các nhiệm vụ chính của dung dịch cấp ẩm như nhũ hóa mực, duy trì độ nhớt, làm mát, giảm ma sát và giảm sinh nhiệt trong quá trình in. Bài nghiên cứu trên cũng làm rõ về tầm quan trọng của độ pH và độ dẫn điện đến việc thấm ướt và ăn mòn bản in. Kết quả của nghiên cứu trên là làm rõ 1 số khái niệm về dung dịch cấp ẩm, bản in, độ pH, độ dẫn điện, thành phần của dung dịch cấp ẩm, thành phần cấu tạo của bản in, các hoạt động hóa học diễn ra khi dung dịch cấp ẩm tiếp xúc với bản in, sức căng bề mặt của dung dịch cấp ẩm,…ngoài ra bài nghiên cứu trên còn tìm ra được sức căn bề mặt của dung dịch cấp ẩm, ngưỡng pH và dẫn điện hợp lý, ảnh hưởng của pH và độ dẫn điện đối với bản in và cuối cùng là việc sử dụng cồn (isopropyl alcohol) như 1 chất phụ gia đặc biệt giúp diệt khuẩn, tránh tình trạng nấm mốc và dùng như 1 chất giúp giảm sức căng bề mặt của dung dịch cấp ẩm giúp nó thấm ướt đều lên bề mặt bản in. Bên cạnh những thành tựu đạt được, bài nghiên cứu này còn chưa làm rõ được ảnh hưởng của độ pH và độ dẫn điện đến chất lượng trên bài in mà chỉ nêu sự ảnh hưởng của nó lên bản in, chưa có thực nghiệm thực tế để chứng minh 1 số dẫn chứng mà chỉ dựa vào việc nghiên cứu lý thuyết để kết TRANG 7 luận và cuối cùng là chưa đưa ra được tỉ lệ pha dung dịch cấp ẩm như thế nào để ổn định được độ pH và độ dẫn điện trên cũng như không đưa ra các quy trình để kiểm tra chất lượng của nó và giải pháp khi không ổn định được dung dịch cấp ẩm. Và 1 bài nghiên cứu khác là “ Ảnh hưởngcủa dung dịch cấp ẩm đến chất lượng in trong in offset (INFLUENCE OF FOUNTAIN SOLUTION CONDUCTIVITY ON PRINT QUALITY IN OFFSET PRINTING)” được đăng trên tạp chí Quốc tế về Kỹ thuật Cơ khí (International Journal of Mechanical Engineering) tập 7 số 2, tháng 2 năm 2022 là kết quả của sự hợp tác nghiên cứu giữa: Khoa Công nghệ in, Đại học Khoa học & Công nghệ Guru Jambheshwar, Hisar, Khoa Công nghệ in, Đại học Kurukshetra, Hisar, Khoa Công nghệ in và đóng gói, Đại học Trung tâm Haryana, Mahendergarh, Haryana, Ấn Độ. Kết quả thử nghiệm cho thấy các kết quả thu được thông qua nghiên cứu phù hợp với phạm vi tiêu chuẩn về chất lượng in. Thông qua thí nghiệm, ta thấy rằng các đặc tính của dung dịch cấp ẩm đóng vai trò quan trọng trong in offset. Việc duy trì nồng độ dung dịch cấp ẩm là điều không thể tránh khỏi để có kết quả in tốt hơn về mặt chất lượng. Kết quả thu được như sau Dot Gain được tìm thấy nhiều hơn trên giấy không tráng phủ so với giấy tráng phủ. Giá trị Dot Gain lớn hơn được quan sát thấy ở nhóm A. Lỗi sai lệch tông màu được ghi nhận nhiều hơn trên giấy tráng phủ. Trong nhóm “G”, lỗi sắc thái được ghi nhận nhiều hơn cho cả giấy tráng phủ và không tráng phủ giấy. Trong cân bằng xám, hiệu ứng được ghi nhận nhiều hơn trên giấy tráng phủ trong loạt E. Mặt khác, hiệu ứng tối đa được ghi nhận trên giấy không tráng phủ. giấy được quan sát trong dãy G. TRANG 8 Độ nhớt cao hơn trong trường hợp giấy tráng phủ vì mực có thể hoạt động như một chất bôi trơn và cho phép trượt ở nơi có đủ độ phủ mực và trên giấy không tráng phủ, bề mặt thường nhám để chống trượt. Hiệu ứng tạo bọt được quan sát thấy nhiều hơn ở loạt A đối với cả giấy tráng phủ và không tráng phủ. Ưu điểm của bài nghiên cứu này là có phương pháp nghiên cứu rõ ràng, có tổ chức thực nghiệm để thu thập dữ liệu thực từ các thí nghiệm. Việc thiết kế các thí nghiệm cũng được chuẩn bị 1 cách logic, khoa học, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu. Kết quả được đánh giá dựa trên các con số cho ra độ tin cậy cao. Bên cạnh đó, thì bài nghiên cứu này chỉ công bố kết quả của dựa trên các thí nghiệm nhỏ ở quy mô của phòng thí nghiệm mà không được kiểm chứng khi sản xuất thực tế, chỉ tiến hành thí nghiểm để đúc kết kết quả mà không giải thích nguyên nhân cho các hiện tượng trên cũng như chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể để áp dụng cho sản xuất thực tế. Hay bài nghiên cứu “Phân tích quan sát về dung dịch cấp ẩm được sử dụng trong máy in offset & in tấm liên quan đến pH và các yếu tố dẫn điện”“ An observatory analysis of fountain solution used in web fed offset & sheet fed offset presses with regard to ph and conductivity factors” được đăng trên tạp chí toàn cầu về khoa học và kỹ thuật “Global journal of engineering science and researches” vào tháng 11 năm 2018. Bài nghiên cứu đạt được một số kết quả sau: pH: Nếu pH quá thấp (axit) hoặc quá cao (kiềm), có thể dẫn đến sự phân hủy mực in hoặc làm mất cân bằng nước/mực, từ đó ảnh hưởng đến độ sắc nét của hình ảnh in. Độ dẫn điện: Độ dẫn điện cao thường gây ra sự không đồng đều trong việc cấp nước, làm tăng nguy cơ thiếu đồng đều màu sắc và tăng gia tăng tầng thứ. TRANG 9 Hiệu quả kinh tế: Việc kiểm soát tốt pH và độ dẫn điện giúp giảm thiểu lãng phí vật tư in và thời gian bảo trì máy móc. Và đưa ra có khuyến nghị: Dung dịch cấp ẩm cần được kiểm soát pH trong khoảng từ 4.8 đến 5.5 để đảm bảo hiệu suất tốt nhất. Cần kiểm tra độ dẫn điện thường xuyên để tránh các biến động trong quá trình in ấn. Tóm lại thì bài nghiên cưu trên có phạm vi nghiên cứu rộng, tính thực tiễn cao, cơ sở lý lận vững chắc, đưa ra được giải pháp cụ thể. Tuy nhiên, Thiếu các điều kiện về môi trường nghiên cứu, chỉ nêu lên mối quan hệ giữa pH - độ dẫn điện – mực – giấy mà không có thực nghiệm nào nêu lên được ảnh hưởng của pH hay độ đẫn điện của dung dịch cấp ẩm ảnh hưởng đến gia tăng tầng thứ. Do khong có số liệu cụ thể nên không thể đánh giá được tác động của nó như thế nào, nhiều hay ít,… Kết luận: Qua 3 bài nghiên cứu trên ta vẫn chưa thấy được tác động trực tiếp của pH đến gia tăng tầng thứ trên tờ in, để lại một khoảng trống trong việc nghiên cứu và thực nghiệm. Tuy nhiên, các bài nghiên cứu mang lại những đóng góp quan trọng cho lĩnh vực in offset, đặc biệt là trong việc cải thiện chất lượng in thông qua kiểm soát dung dịch cấp ẩm. 2. Các khái niệm cơ bản: 2.1. Dung dịch cấp ẩm bản in offset: Dung dịch ẩm: là dung dịch làm ẩm gốc nước lên bề mặt bản in trước khi nó được chà mực. Dung dịch làm ẩm giữ cho phần tử không in trên bản được ẩm ướt do đó nó không bắt mực. Dung dịch làm ẩm sẽ được chà lên toàn bộ bản in trước khi tương tác với các trục. Trải qua nhiều thế hệ dung dịch ẩm, từ những hệ đơn giản chỉ gồm nước và axit H3PO4 đến những hệ phức tạp gồm rất nhiều chất phụ gia, những năm qua dung dịch ẩm có chứa nhiều cồn IPA (khoảng 10-25% khối lượng) được sử dụng rộng rãi trong công nghệ in offset do những ưu điểm nổi trội của IPA như khả năng thấm TRANG 10 ướt tốt trên bề mặt bản in, độ nhớt cao so với nước khiến cho sức căng bề mặt động giảm đáng kể trong quá trình in và đặc biệt là độ ổn định và đặc biệt là độ ổn định nhũ tương hóa với mực in trục lăn mực Thành phần chủ yếu của dung dịch làm ẩm gồm: Axit: giúp giảm độ pH và giữ cho vùng có hình ảnh trên bản in nhạy với mực và vùng không có hình ảnh nhạy với nước. Chất hoạt động bề mặt: có tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của nước và duy trì khả năng thấm ướt của dung dịch nước máng trên các vùng không chứa hình ảnh. Các chất hoạt động bề mặt thường được sử dụng là: isopropyl alcohol và glycerin. Các loại muối hóa học (chất điều hòa bản in): được sử dụng để tối ưu hóa hoạt động mài mòn bề mặt bản in do axit gây ra nhằm giúp gia tăng chất lượng in và độ bền bản in. Gum arabic: được thêm vào dung dịch nước máng nhằm để nó bám chặt vào vùng không có hình ảnh in trên bản với mục đích đẩy mực ra khỏi vùng này. Bên cạnh đó nó cũng giúp bảo vệ bản in khỏi sự tấn công của độ ẩm và các thành phần hóa học khác. Chất đệm: chất có khả năng trung hòa axit và bazờ trong các dung dịch và vì thế chúng giúp duy trì độ axit hoặc bazờ trong dung dịch. . Nhiệm vụ của dung dịch ẩm: Ngăn cản mực in tiếp xúc trực tiếp với phần tử để trắng, nhũ hoá mực in tạo thuận lợi cho quá trình truyền mực. Làm mát, bôi trơn bề mặt bản in và cao su offset; Tạo màng nước mỏng ngăn không cho mực bám lên phần tử không in trên bản; Duy trì tính ưa nước tự nhiên của phần tử không in; Làm sạch nhanh mực trên các phần tử không in khi bắt đầu in; TRANG 11 Làm nhanh quá trình dàn trải của nước trên toàn bộ các phần tử không in trên bản; Giúp màng nước trải đều qua các quả lô làm ẩm; Giảm ma sát giữa bản in và tấm cao su offset; Điều chỉnh quá trình nhũ hoá của nước và mực. 2.2. Độ pH Độ pH hay còn được gọi là chỉ số axit - bazo là thước đo mức độ axit hay bazo. Độ pH được đo trên thang từ 0 (tính axit mạnh) đến 14 (tính kiềm mạnh) tại pH bằng 7 thì được coi là trung tính. Trong thuật ngữ pH, H đề cập đến nguyên tố Hydrogen, cụ thể là Hydrogen H+. Dấu cộng có nghĩa là Hydrogen này mang điện tích dương. Các hóa chất mang điện tích cũng thường được gọi là “ion”, do đó H+ là ion Hydrogen. “p” trong pH là viết tắt của “power” của hoạt động của ion H+ trong nước. Thang pH dựa trên sự cân bằng giữa các ion H+ và các ion Hydroxide tích điện âm (OH- ) trong nước. Khi pH thấp, có rất nhiều ion H+ trong nước. Khi pH cao, có rất nhiều ion OH- trong nước. Ở giữa (pH = 7), hai ion cân bằng hoàn toàn với nhau. Mỗi giá trị pH toàn phần dưới 7 có tính axit gấp mười lần so với giá trị cao hơn tiếp theo. Điều tương tự cũng đúng với các giá trị pH toàn phần trên 7, mỗi giá trị có tính kiềm gấp mười lần so với giá trị dưới nó. Công thức tính pH: pH=−log10[H+] Trong đó, [H+] là nồng độ ion hydro trong mol/lít. 2.3. Gia tăng tầng thứ (Tone value increase - TVI) Trước hết cần phải làm rõ khái niệm giá trị tông màu, tầng thứ (Tone value - TV), khái niệm này mô tả tỷ lệ phần trăm của diện tích in (chấm) so với tổng bề mặt giấy chưa in. Điều đó có nghĩa là giá trị tông màu 30% TRANG 12 tương ứng với 30% tổng bề mặt được phủ bằng chấm. Do bản chất của in offset gây ra sự gia tăng giá trị tông màu (phóng to chấm), so với bản in thử. Điều này được gọi là tăng giá trị tông màu hay còn gọi là gia tăng tầng thứ (Tone value increase - TVI). Gia tăng tầng thứ (Tone Value Increase - TVI) là sự khác biệt giữa các giá trị tông trang trên phim (bản in) và trên tờ in. Đây là kết qua cho sự biến dạng hình học của điểm tram lẫn hiệu ứng quang học. Giá trị gia tăng tầng thứ thường được tính bằng phần trăm. Công thức tính gia tăng tầng thứ: Z(%)=FD – FF Trong đó, Z là giá trị gia tăng tầng thứ, FD là tầng thứ đo được trên tờ in, FF là giá trị tầng thứ trên film (bản in) Những yếu tố ảnh hưởng đến gia tăng tầng thứ của sản phẩm in phụ thuộc vào một số thông số như: Thời gian phơi – hiện. Thời gian phơi quá dài: Các điểm in có thể bị mở rộng quá mức do ánh sáng làm ảnh hưởng đến các vùng xung quanh điểm in, dẫn đến hiện tượng dot gain cao hơn. Điều này làm các tông màu trung gian trở nên tối hơn dự kiến. Thời gian phơi quá ngắn: Các điểm in không được tái tạo đầy đủ, có thể bị thiếu hoặc nhỏ hơn mong đợi, dẫn đến mất chi tiết hoặc giảm độ tương phản trong các vùng sáng. Hiện quá lâu: Lớp nhũ tương hoặc polyme nhạy sáng có thể bị loại bỏ quá mức, làm cho các điểm in to hơn hoặc mất độ sắc nét, tăng khả năng xuất hiện TVI. Hiện quá ngắn: Các điểm in chưa được tái tạo hoàn chỉnh, dẫn đến mất chi tiết ở vùng tối hoặc vùng chuyển sắc. Xác lập trên Rip: RIP (Raster Image Processor) có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát gia tăng tầng thứ (Tone Value Increase - TVI) bằng cách chuyển đổi dữ liệu vector thành điểm raster trên bản in. Nếu RIP không được cấu hình chính xác, TVI có thể tăng bất thường, dẫn đến hình TRANG 13 ảnh trên bản in tối hơn hoặc bị mất chi tiết ở các vùng tông trung gian. RIP giúp điều chỉnh kích thước điểm in theo từng loại giấy, mực và điều kiện in cụ thể, từ đó duy trì độ chính xác và đồng nhất màu sắc, giảm thiểu sai lệch giữa thiết kế và sản phẩm in cuối cùng. Mực in: Các thông số như độ nhớt, mực có độ nhớt cao có thể gây hiện tượng dot gain lớn hơn, vì các điểm in dễ bị mở rộng khi tiếp xúc với bề mặt giấy. Mực loãng, ngược lại, có thể dẫn đến việc các điểm in không đủ lớn, làm mất chi tiết ở các vùng tối. Khả năng tách dính cũng ảnh hưởng rất lớn đến tầng thứ của bài in. Mực có độ tách dính thấp có thể gây ra việc truyền mực không đều lên giấy, làm gia tăng TVI, đặc biệt ở các vùng tông màu trung gian và tối. Cuối cùng là thành phần hóa học của mực: Các thành phần như dầu và nhựa trong mực cũng có thể ảnh hưởng đến sự bám dính và độ phủ mực, từ đó tác động đến tầng thứ. Mực có chứa các thành phần dễ bay hơi có thể làm giảm tầng thứ, trong khi mực không dễ bay hơi có thể tạo ra sự tăng tầng thứ. Cao su: Các thông số của cao su như độ nén, độ đàn hồi, độ nhám của bề mặt, lực căng hay cao su mới, cũ cũng ảnh hưởng đến gia tằng tầng thứ. Cao su quá cứng sẽ làm hạt tram bị sắt gọn, trong khi cao su mềm làm nó bị bẹt ra. Độ đàn hồi, độ căng ảnh hưởng trực tiếp đế việc nhận và truyền tram. Giấy: Các yếu tố như độ nhám, khả năng thấm hút, độ mịn và dày của giấy là một trong những thông số tác động đến gia tăng tầng thứ. Giấy nhám làm mực dễ dàng lan ra ngoài các điểm in dẫn đến tình trạng gia tăng tầng thứ. Giấy có khả năng thấm hút mực mạnh sẽ làm mực lan rộng hơn làm gia tăng tầng thứ mạnh hơn các loại giấy khác. Và cuối cùng là giấy mịn giúp mực phân tán đều, giảm dot gain. Giấy dày có thể giữ mực tốt hơn, nhưng nếu độ dày quá lớn sẽ khiến mực không thấm đều, dẫn đến TVI không đồng đều TRANG 14 Canh chỉnh trên máy in: Mọi sự thay đổi trong độ dày của lớp mực hay áp lực in đều ảnh hưởng trực tiếp đến gia tăng tầng thứ của sản phẩm in. Áp lực in: Khi áp lực in quá cao, các điểm in có thể bị nén và mở rộng, dẫn đến dot gain lớn hơn, làm hình ảnh trở nên tối hơn và mất chi tiết. Ngược lại, áp lực quá thấp có thể khiến mực không được truyền đều, khiến các điểm in không đủ sắc nét và giảm độ tương phản, đặc biệt ở các vùng tông tối. Hệ thống cấp ẩm: Cũng giống như việc canh chỉnh, cấp ẩm là một trong những công đoạn ảnh hưởng trực tiếp đến gia tăng tầng thứ. Các yếu tố như dung dịch cấp ẩm, độ pH độ dẫn điện, độ nhớt, nhiệt độ đều làm biến đổi tầng thứ in. 3. Ảnh hưởng của pH đến gia tăng tầng thứ trên tờ in 3.1. Hoạt động của dung dịch cấp ẩm và mối quan hệ với mực in Bản in offset là bản phẳng (planographic plate) với hai loại vùng: Vùng in (image area): Kỵ nước (ưa mực), được chế tạo để giữ mực in. Vùng không in (non-image area): Ưa nước, được chế tạo để không dính mực. Dung dịch cấp ẩm là một hỗn hợp chứa nước, cồn hoặc các chất thay thế cồn, và các hóa chất phụ gia như axit, đệm pH, và chất hoạt động bề mặt. Khi được phân phối lên bản in, dung dịch cấp ẩm sẽ: Bảo vệ vùng không in, phủ một lớp nước mỏng lên các vùng không in, giúp chúng duy trì tính ưa nước và chống lại sự bám mực. Cân bằng giữa mực in và dung dịch cấp ẩm để đảm bảo không có mực dư bám vào vùng không in. Nhũ hóa mực và nước Mực cần phải hấp thụ một lượng nước nhỏ để hoạt động chính xác, tuy nhiên, lớp màng nước luôn bao phủ mực trên các TRANG 15 con lăn phải có chỗ để dịch chuyển. Một phần nước thấm vào mực, cải thiện dòng chảy và sự truyền mực. Mực 1 Mực 2 Nhũ tương ổn định thành từng giọt Nhũ tương lớn vfa không ổn định nhỏ trong mực Mực 1 sẽ in trơn tru với cấu trúc hạt mịn. Mực 2 sẽ có dạng tuyết hoặc in với vẻ ngoài "vỏ cam". Bất cứ khi nào mực bị bóp ở các khe in, những giọt nước lớn (giữ lỏng lẻo) này sẽ trào ra khỏi mực và hiện ra dưới dạng các lỗ rỗng trên hình ảnh. Mực bị nhũ hóa – xảy ra khi các giọt nước trong mực trở nên quá đặc (mực quá nhũ hóa), có thể dẫn đến “hiệu ứng vỏ cam”[1]1. Khi mực bị ép ở các đầu in, những giọt nước lớn này sẽ thoát ra khỏi mực và xuất hiện dưới dạng các khuyết điểm trên hình ảnh. Quá ít nước - Nếu không có đủ nước hoặc nước không được phân phối hiệu quả, sẽ có vấn đề về cặn hoặc làm đầy các mặt sau. Nước từ mực hoạt động bằng cách làm mất độ nhạy của các mặt sau hoặc các cạnh sau của chất rắn. Hãy tưởng tượng nước bị nén vào mực trong quá trình ép con lăn định hình và sau đó bật ra sau khi hình ảnh đi qua con lăn định hình. Orange Peel Effect (hiệu ứng vỏ cam) trong in ấn là thuật ngữ dùng để mô tả bề mặt in có kết cấu giống như bề mặt của một quả cam: lồi lõm, không bằng phẳng và có những vân gợn nhỏ. Hiệu ứng này thường được coi là một khuyết điểm trong quá trình in và có thể xuất hiện ở các sản phẩm in ấn. 1 TRANG 16 Dung dịch cấp ẩm sẽ giúp duy trì sự cân bằng ổn định giữa việc lấy đủ nhưng không quá nhiều nước. Mực tiếp xúc nhiều với dung dịch cấp ẩm cũng sẽ làm giảm độ pH của dung dịch cấp ẩm do một số thành phần gốc axit trong mực khi nó phản ứng với dung dịch cấp ẩm. 3.2. Độ pH của dung dịch cấp ẩm Việc kiểm soát độ pH trong in offser là rất quan trọng đối với hiệu suất của bản in. Theo dõi độ pH trong suốt quá trình in, bất kỳ thay đổi nào về độ pH đều có thể dẫn đến hiện tượng bong tróc, nhạy cảm của lớp anot hóa, mực khô và đóng cặn,… Giá trị pH của nước chưa qua xử lý sẽ được sử dụng để chuẩn bị dung dịch cấp ẩm in offset phải là 7. Giá trị pH của dung dịch cấp ẩm phải nằm trong khoảng từ 4,8 đến 5,2. Giá trị pH thấp khiến nước có đặc điểm rỉ sét. Axit dẫn đến ăn mòn bằng cách ảnh hưởng đến bề mặt kim loại. Hơn nữa, nó có thể gây ra khó khăn khi sấy mực in, oxy hóa mực kim loại và tuổi thọ hoạt động của bản in ngắn hơn. Đối với giá trị pH cao, nó có thể gây ra sự vôi hóa. Do sức căng bề mặt giữa mực in và môi trường làm ẩm giảm, mực sẽ nhũ hóa. Hơn nữa, nó có thể khiến bản in có xu hướng đóng cặn. 3.3. Ảnh hưởng của độ pH đến gia tăng tầng thứ trên tờ in Từ việc làm rõ sự ảnh hưởng của pH đến mực in và dung dịch cấp ẩm (2 trong số các yếu tố ảnh hưởng đến gia tăng tầng thứ. Qua đó ta thấy giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Độ pH không phù hợp có thể phá vỡ sự cân bằng nước và mực, làm mực bị nhũ tương hóa. Điều này khiến việc kiểm soát gia tăng tầng thứ khó khăn hơn, đặc biệt khi in các tông màu trung bình (50% - 75%). Cụ thể là : Nếu giá trị pH của dung dịch cấp ẩm quá thấp (axit quá mạnh), nó sẽ gây ra sự ăn mòn nghiêm trọng của đế bản in và làm mực khô chậm. Điều này là do dung dịch cấp ẩm là môi trường axit yếu. Trong môi trường axit yếu này, đế TRANG 17 bản in sẽ bị ăn mòn nhẹ và bề mặt bản in trở nên quá ẩm ướt. Điều này có thể làm mực bị lan rộng nhiều hơn khi tiếp xúc với giấy, dẫn đến sự gia tăng tầng thứ một cách đáng kể. Các điểm tram sẽ bị phóng đại, làm hình ảnh in bị tối hơn và mất chi tiết ở các vùng tông trung gian. Trong khi đó, pH cao (kiềm): nó sẽ hòa tan hợp chất diazonium trong phần đồ họa của bản in, khiến hình ảnh trên tấm in không còn sắc nét, chất lượng in giảm và gây ra hiện tượng nhũ hóa mực. Bề mặt bản in lúc này cũng trở nên khô hơn, dung dịch cấp ẩm có thể làm cho mực không bám chắc lên bản in, gây mực không đều và dẫn đến các vùng sáng bị mất chi tiết. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, pH kiềm có thể giúp giảm dot gain ở các vùng tối bằng cách kiểm soát sự thấm mực lên bề mặt giấy. TRANG 18 PHẦN THỰC NGHIỆM 1. Mục tiêu Đánh giá sự ảnh hưởng của độ pH của dung dịch cấp ẩm đối với sự gia tăng tầng thứ (Tone value increase - TVI) trên tờ in từ đó đưa ra những nhận định một cách khách quan nhất cho mối quan hệ giữa dung dịch cấp ẩm đối với gia tăng tầng thứ trên tờ in và một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát độ pH của dung dịch cấp ẩm trong in offset. 2. Nguyên liệu và thiết bị Thực nghiệm được tiến hành trên máy in Máy in Mitsubishi 3H 1870 Để tiến hành thực nghiệm ta cần có 2 thiết bị là máy đo pH cầm tay Hanna Instruments pHep và Máy đo màu quang phổ cầm Xrite Exact, dung dịch cấp ẩm, tờ in hoàn chỉnh. TRANG 19 Thiết bị đo độ pH Hanna Instruments pHep Máy đo màu quang phổ cầm Xrite Exact 3. Tiến hành thực nghiệm và thu tập dữ liệu 3.1. Thiết kế thực nghiệm: Sử dụng thiết bị đo pH để đo độ pH của dung dịch cấp ẩm tại 3 thời điểm đầu ngày, giữa ngày và cuối ngày tương ứng với các thời điểm dung dịch cấp ẩm lúc mới pha, khi đang chạy ổn định và khi đã thay đổi pH đáng kể do ảnh hưởng của mực in. Thu thập các tờ in ngay sau thời điểm trên và tiến hành đo gia tăng tầng thứ trên tờ in đó. 3.2. Các bước tiến hành thực nghiệm: Bước 1: Hiệu chỉnh thiết bị đo Hiệu chỉnh thiết bị đo pH Hanna Instruments pHep: Dung dịch hiệu chuẩn pH: Thường sử dụng các dung dịch chuẩn có giá trị pH 4.01, 7.01 và 10.01 để hiệu chỉnh Dùng nước cất hoặc nước deionized: Để rửa điện cực trước khi chuyển đổi giữa các dung dịch chuẩn. Cốc sạch: Dùng để chứa dung dịch hiệu chuẩn. Giấy mềm hoặc khăn sạch: Để lau khô điện cực. TRANG 20 Hiệu chỉnh máy đo màu quang phổ cầm Xrite Exact: điều chỉnh máy về các điều kiện đo: M0, nguồn sáng ban ngày D50 và góc chiếu sáng là 20 (theo tiêu chuẩn ISO 12647) Bước 2: Tiến hành đo độ pH Sau khi đã canh chỉnh thiết bị đo ta tiến hành đo trực tiếp độ pH của dung dịch cấp ẩm ngay trên bồn pha tại máy in. Nhấn nút nguồn để khởi động máy và nhúng trực tiếp đầu đo của máy và dung dịch cấp ẩm. Ấn nút nguồn để khởi động Đo trực tiếp trên bể pha Đợi 5-10s cho máy ổn định và ghi lại kết quả đo hiển thị trên màn hình của máy. Bước 3: Lấy tờ in ngay tại thời điểm đó và tiến hành đo gia tăng tầng thứ Sau khi lấy tờ in cần đợi 20-30 phút cho tờ in khô Khởi động máy đo đã hiệu chỉnh và chọn chế độ đo gia tăng tầng thứ (TVI) Tiến hành đo vùng giấy, vùng tông nguyên và lần lượt ở các ô 25%, 50% và 75%. Đo lần lượt cho cả 4 màu CMYK, ghi lại các kết quả đo. TRANG 21 Chọn chức năng đo tầng thứ Đo vùng giấy Đo vùng tông nguyên Đo các vùng 25%, 50%, 75% 3.3. Thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu: Việc thực nghiệm và thu thập dữ liệu được tiến hành trên 3 loại giấy và định lượng khác nhau bao gồm giấy C150, I300 và D250. Dưới đây là bảng thu thập dữ liệu cho thực nghiệm: Thời gian 7h Màu Vật liệu C150 Độ pH vùng đo 5.1 0.0 25.0 50.0 75.0 100.0 C M Y K TVI chuẩn 0.0 17.3 23.8 15.6 0.0 0.0 12.9 16.3 11.6 0.0 0.0 21.8 23.6 13.0 0.0 0.0 16.7 20.8 12.3 0.0 0.0 13.5 16.0 14.0 0.0 TRANG 22 Thời gian 11h Thời gian Màu Vật liệu C150 Vật liệu Độ pH vùng đo Độ pH C M Y K TVI chuẩn 0.0 32.1 39.4 21.2 0.0 0.0 21.9 29.6 18.0 0.0 0.0 21.1 27.3 16.8 0.0 0.0 30.6 33.7 19.8 0.0 0.0 13.5 16.0 14.0 0.0 4.8 Thời gian Vật liệu Độ pH vùng đo 5.2 0.0 25.0 50.0 75.0 100.0 Thời gian 16h K 0.0 15.8 20.0 12.7 0.0 vùng đo C150 11h Y 0.0 21.8 18.5 12.3 0.0 5 16h Thời gian M 0.0 16.0 18.9 11.2 0.0 0.0 25.0 50.0 75.0 100.0 0.0 25.0 50.0 75.0 100.0 7h C 0.0 17.3 20.1 13.7 0.0 Màu Màu I300 I300 Độ pH vùng đo 4.9 0.0 25.0 50.0 75.0 100.0 M Y K TVI chuẩn 0.0 19.4 24.5 15.2 0.0 0.0 21.0 25.5 15.1 0.0 0.0 16.1 21.7 12.7 0.0 0.0 26.8 30.7 17.8 0.0 0.0 13.5 16.0 14.0 0.0 C M Y K TVI chuẩn 0.0 18.0 22.3 13.7 0.0 0.0 17.9 22.1 13.3 0.0 0.0 21.7 25.2 11.2 0.0 0.0 19.4 24.7 15.1 0.0 0.0 13.5 16.0 14.0 0.0 Màu Vật liệu I300 Độ pH vùng đo 4.8 0.0 25.0 50.0 75.0 100.0 0.0 13.5 16.0 14.0 0.0 C Màu Vật liệu TVI chuẩn C M Y K TVI chuẩn 0.0 21.7 27.0 18.2 0.0 0.0 23.5 30.5 18.1 0.0 0.0 17.8 23.6 15.4 0.0 0.0 29.5 33.9 20.9 0.0 0.0 13.5 16.0 14.0 0.0 TRANG 23 Thời gian 7h Thời gian 11h Thời gian 16h Màu Vật liệu D250 Độ pH vùng đo 5.4 0.0 25.0 50.0 75.0 100.0 C M Y K TVI chuẩn 0.0 37.0 45.6 25.0 0.0 0.0 37.5 46.8 25.0 0.0 0.0 42.8 41.9 25.0 0.0 0.0 60.1 49.2 25.0 0.0 0.0 13.5 16.0 14.0 0.0 Màu Vật liệu D250 Độ pH vùng đo 5.4 0.0 25.0 50.0 75.0 100.0 C M Y K TVI chuẩn 0.0 42.4 35.7 25.0 0.0 0.0 45.6 36.3 25.0 0.0 0.0 45.0 34.2 25.0 0.0 0.0 51.7 40.7 25.0 0.0 0.0 13.5 16.0 14.0 0.0 Màu Vật liệu D250 Độ pH vùng đo 5.0 0.0 25.0 50.0 75.0 100.0 C M Y K TVI chuẩn 0.0 23.5 22.9 20.3 0.0 0.0 27.3 28.4 20.4 0.0 0.0 21.0 26.6 21.6 0.0 0.0 18.1 25.0 17.1 0.0 0.0 13.5 16.0 14.0 0.0 Phân tích dữ liệu: Đầu tiên là giấy C150: Về tổng quan thì tầng thứ khá ổn định và có xu hướng tăng dần đều tại các vùng đo. Tại pH 5.1 Màu K (đen) có mức gia tăng cao hơn các màu còn lại (C, M, Y) ở vùng trung gian. Màu Y (vàng) thấp nhất trong hầu hết các vùng đo. TVI tăng không quá đột biến và khá ổn định. Gia tăng tầng thứ của các màu CMYK có sự chênh lệch nhỏ, đặc biệt màu K cao hơn. Tương tự pH 5.1, khi pH giảm còn 5.0 thì Vùng trung gian (25% → 75%) cho thấy sự khác biệt rõ hơn: Màu K (đen) và Y (vàng) có xu hướng tăng tuyen nhiên không quá đáng kể. TVI của màu C (cyan) và M (magenta) ổn định hơn. Khi pH giảm xuống 5.0, TVI vẫn có xu hướng khá ổn định tại các vùng trung gian. TRANG 24 Khi pH 1 lần nữa giảm và còn 4.8, TVI tăng mạnh nhất so với 2 mức pH trước đó. Màu K (đen) và C (cyan) có mức gia tăng rõ rệt, đặc biệt ở vùng trung gian (50%). Màu Y (vàng) vẫn duy trì mức thấp hơn nhưng có xu hướng tăng. Độ dốc của đường TVI lớn hơn, thể hiện sự tăng đột biến. Tại pH 4.8, TVI tăng mạnh hơn rõ rệt, đặc biệt ở các vùng trung gian và vùng tối. Khi so với đường gia tăng tầng thứ do ISO khuyến cáo ta thấy rõ ràng tại các độ pH 5.1 và 4.8 thì vẫn khá cao. Tại độ pH 5.0 thì nhìn chung là gần với đường ISO nhất tuy nhiên TVI vẫn khá cao tại màu vàng. Với giấy I300, nhìn chung tại các độ pH khác nhau gia tăng tầng thứ vẫn tương đối ổn định tuy nhiên khi pH giảm mạnh cũng giống giấy C150 thì gia tăng tầng thứ vẫn gia tăng đột biến. TRANG 25 Tại pH 5.2 gia tăng tầng thứ đều và ổn định với các màu K, M, C tăng mạnh. Điều này cho thấy khả năng hấp thụ mực của giấy ở mức tốt. Khi pH giảm xuống 4.9, khả năng hấp thụ mực của giấy có sự biến động nhẹ, thể hiện rõ nhất ở việc các màu có mức gia tăng đồng đều và ổn định hơn so với pH 5.2. Khi pH giảm còn 4.8 hiện tượng gia tăng tầng thứ tăng đột biến ở tất cả các kênh màu. Độ dốc so với đường TVI lý tưởng tăng mạnh điều này phản ánh khả năng hấp thụ mực của giấy khá cao. Tại pH là 5.2 và 4.8 TVI tại các màu trở nên bất ổn định, không đều nhau và tăng đáng kể so với đường TVI của ISO. Còn tại pH 4.9 các màu có xu hương ổn định hơn và vẫn có xu hướng tăng nhẹ so với TVI của ISO khuyến cáo. Cuối cùng là giấy D250 và tại các độ pH là 5.4 và 5.0. Một cái nhìn tổng quá thì tại pH 5.4 gia tăng tầng thứ ở mức cao đột biến và đáng kể so với các mức pH khác. Với độ pH này ta không thể phân biệt được vùng TRANG 26 trung gian 75% và vùng solid 100%. Giá trị gia tăng tầng thứ máy đo tại vùng 25% được hiện lên và cho giá trị tại vùng 50% (tức giá trị TVI tại 25% tăng mạnh và ở mức hơn 60%) còn tại vùng 50% thì giá trị lại thay thế cho vùng 75% (TVI tại vùng này cũng tăng cao và vượt mức 90%). Qua biểu đồ ta thấy tại pH 5.4 tầng thứ tại tất cả các kênh màu đều tăng cao so với đường TVI lý tưởng. Màu đen tăng nhiều nhất ở tất cae các vùng đo. Các màu còn lại đều tăng cao tuy nhiên cũng khá đồng đều nhau. Cuối cùng khi pH giảm còn 5.0 thì tương tự như pH 5.0 ở các loại giấy khác. Màu đen giảm mạnh và các màu trở nên đồng đều và ổn định hơn. Gia tăng tầng thứ tại pH 5.4 đã gần như vượt mức kiểm soát, tất cả các kênh màu đều tăng mất kiểm soát đặc biệt là màu đen, vượt xa TVI mà ISO khuyến nghị. Khi pH ổn định lại ở mức 5.0 các màu có xu hướng ổn định hơn và cũng giống như các loại giấy trên thì tại 5.0 TVI vẫn có mức tăng nhẹ so với TVI của ISO. 3.4. Nguyên nhân TRANG 27 Khi pH giảm (tính axit của dung dịch cấp ẩm tăng) thì gia tăng tầng thứ sẽ tăng và điều này được chứng minh qua thực nghiệm trên. Một phần do sự bay hơi của cồn dùng trong dung dịch cấp ẩm và phần còn lại do các gốc axit trong mực phản ứng với các thành phần trong dung dịch cấp ẩm nên qua nhiều lần in đặc biệt là khi in các ấn phẩm số lượng lớn dẫn đến các lô không được tẩy rửa thường xuyên dẫn đến giảm độ pH của dung dịch cấp ẩm dẫn đến tầng thứ cũng tăng theo. Trong thực nghiệm trên lại có trường hợp ngoại lệ. Đó là khi pH ở 5.4 trên lý thuyết thì gia tăng tầng thứ tại đây phải giảm so với pH thấp. Tuy nhiên ta lại thấy rõ sự tăng tầng thứ ở mức cao không thể kiểm soát. Điều này có thể lý giải do một số nguyên nhân sau: Hiện tượng trương nở giấy: pH cao có thể làm tăng khả năng hút ẩm của giấy, dẫn đến giấy trương nở. Khi giấy bị trương nở, bề mặt in có thể thay đổi, làm tăng lượng mực in thực tế bám trên giấy, từ đó làm tăng tầng thứ. Hiện tượng đọng nước xuất hiện trên bề mặt bản in. Khi pH tăng cao, sức căng bề mặt của dung dịch cũng tăng theo dẫn đến hiện tượng đọng nước. Nước sẽ không được trải đều lên bề mặt bản in mà sẽ hình thành những giọt nhỏ li ti, các phần tử không in không còn được bao phủ hoàn toàn, mực sẽ lem qua những vùng này và dẫn đến gia tăng tầng thứ. Áp lực in không đổi nhưng thay đổi bề mặt tiếp xúc: Dung dịch cấp ẩm với pH cao có thể làm biến đổi cấu trúc bề mặt của lớp mực hoặc giấy, dẫn đến việc bề mặt tiếp xúc hiệu quả thay đổi, tăng độ dày mực và gia tăng tầng thứ. Tuy nhiên nếu bỏ qua các yếu tố về vật liệu do khó thay đổi tính chất và ảnh hưởng đến giá cả in ấn thì yếu tố về con người vẫn cho thấy là một yếu tố then chốt. Máy móc hoạt động theo sự lập trình của con người, việc kiểm soát các điều kiện in nói chung và dung dịch cấp ẩm nói riêng đều do người vận hành quyết định. Việc người vận hành kể cả các khâu từ xử lý file đến CTP và in ấn khi làm không đúng quy trình đều làm ảnh hưởng sản phẩm in. 3.5. Giải pháp Trong ngắn hạn: TRANG 28 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: bằng cách đào tạo, mời các chuyên gia để đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng. Tiến hành thiết lập các quy trình thực hiện và đánh giá độ pH của dung dịch cấp ẩm trước khi tiến hành sản xuất: lập quy trình pha, công thức pha, phiếu đánh giá dung dịch cấp ẩm, thiết bị đo và khuyến khích người vận hành máy thực hiện đúng quy định và đúng quy trình. Trong dài hạn: Tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đa dạng hóa các nguồn cung về vật liệu nhằm tìm ra được nhà cung cấp có chất lượng cao và phù hợp với máy móc thiết bị nhất (do vật liệu là một trong những yếu tố khó thay đổi nhất) Áp dụng khoa học công nghệ và việc kiểm soát độ pH độ dẫn điện, nhiệt độ của dung dịch cấp ẩm. Sử những công nghệ mới vào sản xuất như sử dụng bản in không hiện. Trong thời gian gần đây các loại bản in không cần hiện đã có mặt trên thị trường phải kể đến các nhà cung cấp như Kodak, Eco,… In không dùng cồn hiện cũng đang được thử nghiệm và đang cho ra những kết quả khả quan như bài nghiên cứu “In offset không có cồn Isopropyl trong dung dịch giảm chấn” (Offset Printing without Isopropyl Alcohol in Damping Solution) trong Hội thảo quốc tế về Công nghệ và vật liệu cho năng lượng tái tạo, Môi trường và tính bền vững, TMREES15 (International Conference on Technologies and Materials for Renewable Energy, Environment and Sustainability, TMREES15) và bài nghiên cứu “In không cồn” (Alcohol-Free Printing) một bản in lại từ GATFWorld, tạp chí của Graphic Arts Technical Foundation. TRANG 29 PHẦN KẾT LUẬN Kết quả nghiên cứu cho thấy pH của dung dịch cấp ẩm có ảnh hưởng rõ rệt đến sự gia tăng tầng thứ (TVI) trong quá trình in offset. Cụ thể, khi pH dung dịch giảm từ 5.2 xuống 4.8, mức gia tăng tầng thứ có xu hướng tăng dần, đặc biệt tại các vùng trung gian từ 25% đến 75%. Ở pH 5.0 và 5.1 mức gia tăng tầng thứ diễn ra ổn định và đồng đều, cho thấy khả năng giữ mực và truyền mực tốt hơn trong quá trình in. Trong khi đó, tại pH 4.9 và 4.8, mức gia tăng tầng thứ có xu hướng suy tăng và ít đồng đều hơn, biểu hiện rõ qua các vùng in có mật độ trung bình. Điều này cho thấy pH trong khoảng từ 4.9 đến 5.1 là khoảng tối ưu để đảm bảo chất lượng in ổn định, hạn chế hiện tượng mực loang hoặc mất nét. Ngoài yếu tố pH, loại vật liệu sử dụng cũng có ảnh hưởng đáng kể đến sự gia tăng tầng thứ. Kết quả cho thấy giấy C150 và giấy I300 cho thấy giấy C150 có khả năng kiểm soát sự gia tăng tầng thứ tốt hơn. Ở cùng điều kiện pH, giấy C150 cho độ ổn định cao hơn, các đường biểu diễn gia tăng tầng thứ ít biến động hơn so với giấy I300. Điều này có thể lý giải bởi đặc tính bề mặt và cấu trúc của giấy C150, giúp quá trình bám mực diễn ra ổn định và hạn chế hiện tượng lan mực. Trong khi đó, giấy I300 có xu hướng gia tăng tầng thứ cao hơn ở các vùng đậm (từ 50% đến 100%), dẫn đến chất lượng in kém sắc nét hơn. Sự khác biệt giữa các màu in cũng là một yếu tố đáng chú ý. Màu đen (K) cho thấy mức gia tăng tầng thứ cao nhất, tiếp theo là Magenta (M) và Cyan (C). Trong khi đó, màu vàng (Y) có mức gia tăng tầng thứ thấp nhất trong tất cả các điều kiện pH và loại giấy. Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi độ dày lớp mực và đặc tính vật lý của từng màu trong quá trình truyền mực. Màu đen thường có mật độ quang học cao hơn, nên hiện tượng gia tăng tầng thứ sẽ rõ rệt hơn so với các màu còn lại. Nhìn chung, nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát độ pH dung dịch cấp ẩm trong quá trình in offset. Việc duy trì và tối ưu pH sẽ giúp cải thiện chất lượng in, giảm thiểu các sai lệch. Kết quả thực nghiệm là cơ sở khoa học để các nhà in tham khảo, đánh giá tầm quan trong của việc kiểm soát độ pH của dung dịch cấp ẩm (điều mà đa số các nhà in thường xuyên bỏ qua) và áp dụng trong thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng in ấn. TRANG 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình quản lý & kiểm tra chất lượng sản phẩm in: Ngô anh tuấn, chương 3 trang 65-66,69-83, chương 4 trang 102, 104-106 2. Giáo trình thực hành-thí nghiệm vật liệu in: Trần Thanh Hà – Nguyễn Thành Phương, chương 9 trang 67-74 3. Giáo trình công nghệ in: Chế Quốc Long, Chương 4 trang 84-88 4. Theory and practical applications of pH: Mettler-Toledo GmbH, chương 1 trang 5-7 5. The function of fountain solution in lithography: fuji hunt 6. Analysis of the fountain solution in the offset printing in terms of printability: asian journal of chemistrz vol. 24, No. 2 (2012), 641-645 7. Influence of fountain solution conductivity on print quality in offset printing: International Journal of Mechanical Engineering, Vol. 7 No. 2 February, 2022 8. Dung dịch ẩm - Những yêu cầu về dung dịch làm ẩm trong in offset: Khoa kỹ thuật điện Đại học Bách khoa Hà Nội 9. An observatory analysis of fountain solution used in web fed offset & sheet fed offset presses with regard to ph and conductivity factors: Global journal of engineering science and researches, November,2018 10. The impact of paper on tone value increase in heatset web offset: R. Klein, G. Meder, O. Höhne and J. Tomaszewski 11. Alcohol-Free Printing - A reprint from GATFWorld, the magazine of the Graphic Arts Technical Foundation 12. A reprint from GATFWorld, the magazine of the Graphic Arts Technical Foundation - International Conference on Technologies and Materials for Renewable Energy, Environment and Sustainability, TMREES15 13. The impact of paper on tone value increase in heatset web offset - R. Klein, G. Meder, O. Höhne and J. Tomaszewski Các link tham khảo: 1. https://tapchimoitruong.vn/chuyen-muc-3/nghien-cuu-tac-dung-dungdich-am-khong-su-dung-con-isopropyl-alcohol-trong-cong-nghe-inoffset-30036 2. https://prima.vn/dung-dich-lam-am-in-offset-1/ TRANG 31 3. https://eco3.com/uploads/Know-how/Solutions-magazine/ECO3Solutions-magazine-commercial-packaging-EN-web.pdf 4. https://printwiki.org/Fountain_Solution 5. https://www.academia.edu/100197680/Study_of_Propylene_Glycol_E ffect_as_Wetting_Agent_Content_for_Offset_Printing_Technique 6. https://www.degruyter.com/document/doi/10.3183/npprj-2007-22-03p388-393/html 7. https://hrcak.srce.hr/file/331106 TRANG 32 Lực kết dính cohesion: là lực hút giữa các phân tử của cùng 1 chất. Liên kết chúng lại với nhau và được gọi là sức căng bề mặt. Lực kết dính càng cao, sức căng bề mặt càng lớn và dung dịch có xu hướng tồn tại dưới dạng hình cầu, giảm thiểu tiếp xúc với bề mặt, giảm độ thấm ướt. Lực bám dính adhesion: là lực hút giữa các chất khác nhau Thêm các chất tẩy rửa vào nước, các phân tử chất tẩy rửa chui vào giữa các phân thử nước làm giảm số liên kết hydro đồng thời làm giảm lực kết dính tổng thể của nước khiến nước dễ dính và các bề mặt hơn từ đó làm tăng hiệu quả tẩy rửa Chuẩn bị mẫu thử: Chuẩn bị bản in offset sạch (có thể dùng bản in nhôm đã rửa sạch lớp nhạy sáng hoặc một bề mặt kim loại phẳng tương tự). Chuẩn bị dung dịch làm ẩm cần kiểm tra. Nếu so sánh nhiều mẫu dung dịch, cần đảm bảo điều kiện thử nghiệm như nhau. Nhỏ dung dịch lên bản in: Dùng pipet hoặc ống nhỏ giọt để nhỏ cùng một lượng dung dịch (ví dụ: 10 µL) lên các vị trí khác nhau của bản in. Quan sát cách dung dịch lan tỏa trên bề mặt. Đánh giá: Nếu dung dịch lan tỏa rộng, tạo lớp mỏng đồng đều: Sức căng bề mặt thấp, dung dịch có khả năng làm ẩm tốt. Nếu dung dịch co lại thành giọt nhỏ, không lan tỏa: Sức căng bề mặt cao, có thể gây khó khăn trong việc làm ẩm bản in. Nếu dung dịch lan tỏa không đều, có các điểm tụ nước: Có thể do sức căng bề mặt không ổn định hoặc do bề mặt bản in không đồng nhất. TRANG 33 1. Ảnh hưởng của các thành phần hóa học trong dung dịch làm ẩm Các hợp chất có chỉ số khúc xạ tương tự IPA: o Một số chất trong dung dịch làm ẩm, như glycol (ethylene glycol, propylene glycol) hoặc chất hoạt động bề mặt, có thể ảnh hưởng đến phép đo của khúc xạ kế, vì chúng có chỉ số khúc xạ gần giống cồn IPA. o Nếu dung dịch làm ẩm có chứa glycerin hoặc glycol ether, thiết bị có thể nhầm lẫn và hiển thị giá trị tương ứng với cồn. Hàm lượng muối và chất điện giải: o Các muối vô cơ và chất điều chỉnh pH trong dung dịch làm ẩm có thể ảnh hưởng đến độ khúc xạ, làm tăng giá trị đo được trên khúc xạ kế. 2. Ô nhiễm từ hệ thống cấp dung dịch Hệ thống cung cấp dung dịch làm ẩm có thể còn dư cồn từ lần sử dụng trước. Nếu trước đó hệ thống có sử dụng IPA, có thể vẫn còn tồn dư trong đường ống, thùng chứa hoặc con lăn nước. Nhiễm IPA từ môi trường: Nếu trong nhà in vẫn còn sử dụng IPA ở khu vực khác (ví dụ: làm sạch mực in), một lượng nhỏ có thể bị nhiễm vào dung dịch làm ẩm qua không khí hoặc thiết bị. TRANG 34 Thông số kỹ thuật về dung dịch Fountain và dung dịch Fountain cô đặc Phát minh hiện tại liên quan đến dung dịch Fountain và dung dịch Fountain cô đặc dùng trong in offset và phương pháp sản xuất chúng. Phát minh hiện tại cũng đề cập đến việc sử dụng tert.-amyl alcohol trong dung dịch Fountain hoặc dung dịch Fountain cô đặc dùng trong in offset. Ngoài ra, phát minh hiện tại còn đề cập đến phương pháp in offset trong đó dung dịch Fountain theo phát minh hiện tại được áp dụng cho tấm ảnh để khử nhạy các vùng không phải ảnh của tấm ảnh cũng như phương tiện in thu được bằng phương pháp này. In offset là một kỹ thuật in thông dụng trong đó hình ảnh có mực được chuyển (hay "in offset") từ bản in thạch bản sang tấm cao su, sau đó đến bề mặt in. Trong in offset, bản in thạch bản được thiết kế theo cách mà các vùng hình ảnh dương có bề mặt ưa nước trong khi các vùng hình ảnh âm có bề mặt kỵ nước. Tấm thạch bản thường được xử lý bằng cái gọi là dung dịch đài phun nước. Dung dịch đài phun nước thường là một thành phần gốc nước ưa nước bám dính vào các vùng không phải hình ảnh ưa nước của tấm thạch bản. Việc xử lý tấm thạch bản bằng dung dịch đài phun nước đảm bảo rằng các dung dịch mực kỵ nước được áp dụng trong bước xử lý tiếp theo chỉ bám dính vào các vùng hình ảnh kỵ nước của tấm. Do đó, chức năng của dung dịch đài phun nước là làm mất độ nhạy của các vùng không phải hình ảnh, khiến chúng trở nên chống mực. Các dung dịch đài phun nước thông thường bao gồm nước, muối kim loại kiềm hoặc muối amoni của axit dicromic, axit photpho hoặc muối của axit photpho và một chất dạng keo, chẳng hạn như kẹo cao su arabic hoặc carboxymethyl cellulose (CMC). Các giải pháp chỉ dựa trên những chất này có nhược điểm là chúng không làm ướt đủ các vùng không có hình ảnh trên bản in. Nếu sử dụng quá ít dung dịch phun, các vùng không in sẽ không tiếp nhận đủ độ ẩm và sẽ tiếp nhận một ít mực, sau đó mực sẽ được chuyển sang giấy. Mặt khác, nếu sử dụng quá nhiều dung dịch phun lên bản in, mực sẽ bị loãng và khiến hình ảnh in có vẻ ngoài bị phai. TRANG 35 Nếu dung dịch phun không được áp dụng đều, nghĩa là quá ít chất lỏng được áp dụng cho một số phần của tấm và quá nhiều chất lỏng được áp dụng cho các phần khác của tấm, hình ảnh in cuối cùng sẽ có một số vùng không mong muốn được phủ mực và các vùng khác mà hình ảnh sẽ bị nhòe. Do đó, cần có một lượng lớn kỹ năng và kinh nghiệm để kiểm soát tốc độ nạp dung dịch phun vào bản in. Để khắc phục vấn đề này, người ta thường thêm một chất làm ướt vào dung dịch phun. Chất làm ướt làm giảm sức căng bề mặt của dung dịch phun, cho phép hình thành nhanh chóng một lớp màng mỏng, đều của dung dịch phun trên các vùng không phải là hình ảnh. Dahlgren (US 3,705,451) đã đề xuất sử dụng cồn isopropyl làm chất làm ướt và dung dịch phun được gọi là "hệ thống Dahlgren" đã trở thành tiêu chuẩn trong ngành. Việc sử dụng cồn isopropyl trong dung dịch phun có nhiều ưu điểm ngoài việc làm giảm sức căng bề mặt. Nó cũng làm tăng độ nhớt của dung dịch, cho phép phủ một lớp màng dày hơn lên các con lăn và/hoặc tấm in. Độ bay hơi cao của cồn isopropyl có nghĩa là nó sẽ bay hơi nhanh hơn trước khi được chuyển sang lớp phủ, giảm thiểu hiệu ứng rửa trôi và lem mực. Xu hướng nhũ hóa mực ít hơn các chất lỏng khác của nó làm giảm hiện tượng đóng tuyết (các đốm nhỏ, trắng, không in trên các chất rắn và loại in). Ngoài ra, cồn isopropyl có xu hướng cho phép chất lượng in tốt hơn ngay khi khởi động, đây là một lợi ích tiết kiệm chi phí. Tuy nhiên, các quy định của Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) và Cơ quan Quản lý An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp (OSHA) (chẳng hạn như các quy định yêu cầu giảm hợp chất hữu cơ dễ bay hơi) đang hạn chế việc sử dụng cồn isopropyl trong các dung dịch đài phun nước. Ví dụ, phải thực hiện các biện pháp khi sử dụng nồng độ 5% theo trọng lượng hoặc lớn hơn, chẳng hạn như lắp đặt hệ thống thông gió, đo môi trường làm việc và kiểm tra sức khỏe của người lao động. Một số nhược điểm của cồn isopropyl - chẳng hạn như chi phí, độc tính, dễ cháy và nhu cầu thông gió đầy đủ ở những khu vực sử dụng đang khiến các chất thay thế được sử dụng thường xuyên hơn. TRANG 36 Các chất thay thế này bao gồm rượu đa chức, glycol, ete glycol và các dẫn xuất của chúng thường kết hợp với etylen glycol (ví dụ: US 3,877,372 hoặc US 5,695,550). Các chất thay thế này có thể thay thế hoàn toàn isopropanol hoặc có thể được thêm vào như một chất bổ sung, làm giảm nồng độ isopropanol tổng thể. Tiêu chuẩn US 2009/0081592 đề cập đến thành phần dung dịch đài phun nước bao gồm ít nhất một hợp chất hydrocarbon diol không vòng, có tổng cộng 6 đến 8 nguyên tử cacbon và hai nhóm hydroxyl ở vị trí 1 và 2. Bằng sáng chế US 4,278,467 công bố dung dịch phun chứa ít nhất một thành phần được chọn từ nhóm bao gồm n-hexoxyethylene glycol, n-hexoxydiethylene glycol, 2-ethyl-1, 3-hexanediol, nbutoxyethylene glycol acetate, n-butoxydiethylene glycol acetate và 3butoxy-2-propanol. Các dung dịch đài phun nước bao gồm 2-ethyl-1,3-hexanediol và ít nhất một thành viên được chọn từ nhóm bao gồm propylen glycol, ethylene glycol, dipropylen glycol, diethylene glycol, hexylene glycol, Methylene glycol, tetraethylene glycol, tripropane glycol và 1,5pentanediol được đề cập trong US 4.560.410. Vì các dung dịch phun này không chứa cồn isopropyl, nên chúng được ưa chuộng hơn vì lý do an toàn và vệ sinh. Tuy nhiên, khả năng thấm ướt đối với các vùng không phải hình ảnh của bản in thạch bản trong quá trình in là không đủ và đôi khi người ta thấy rằng các vùng không phải hình ảnh bị nhiễm bẩn, đặc biệt là trong quá trình in tốc độ cao. Điều này có thể gây ra cái gọi là hiện tượng mực lan rộng các phần hình ảnh nửa chấm, một hiện tượng trong đó hình dạng của các hình ảnh nửa chấm bị biến dạng bất thường. Hơn nữa, 2-ethyl-1,3hexanediol không đủ tan trong nước và do đó việc sử dụng nó không thuận lợi để thu được dung dịch phun cô đặc hoặc chất phụ gia cho dung dịch phun có nồng độ cao. US 5,106,414 tiết lộ các dung dịch đài phun bao gồm các rượu aliphatic hoặc diol có 5 đến 1 1 nguyên tử cacbon mà 1 đến 10 đơn vị etylen oxit được thêm vào. Một dung dịch đài phun tương tự được đề cập trong US 5,308,388 trong đó các alkanol, alkenol hoặc alkanediol TRANG 37 hoặc alkenediol có 5 đến 15 nguyên tử cacbon được chuyển đổi với 3 đến 12 đơn vị etylen oxit và hoặc propylen oxit. Các chất thay thế như vậy được thêm vào các dung dịch đài phun với lượng nhỏ, có ít ảnh hưởng đến độ nhớt của dung dịch đài phun. Do đó, cần có tốc độ lăn cao hơn trong các hệ thống làm ẩm dòng chảy liên tục khi sử dụng các dung dịch như vậy. Mục đích của sáng chế này là cung cấp một dung dịch phun mực cho phép tái tạo bản in tuyệt vời, ví dụ như chuyển hình ảnh chính xác sang vật liệu in. Do đó, mục đích của sáng chế này là cung cấp một dung dịch phun mực giúp giảm thiểu tình trạng lem mực. Mục đích của sáng chế này cũng là cung cấp một dung dịch phun mực giúp vận hành trơn tru trong in offset, ví dụ như giảm thiểu tình trạng mực vón cục trên chăn. Một mục đích khác của sáng chế này là cung cấp một dung dịch phun mực giúp nhũ hóa mực đúng cách, ví dụ như ngăn ngừa tình trạng nhũ hóa quá mức, có thể dẫn đến hình ảnh không rõ nét hoặc hình ảnh có lỗ rỗng hoặc ngăn ngừa tình trạng hấp thụ nước không đủ (nhũ hóa kém), từ đó có thể dẫn đến tình trạng mực vón cục và chuyển mực kém trên chăn. Nó cũng nhằm mục đích cho phép thông lượng cao hơn trong quá trình in. Do đó, mục đích là cung cấp một dung dịch phun mực có sức căng bề mặt động thấp để tăng cường các đặc tính giảm nhạy cảm và độ nhớt động đủ cao để cho phép dung dịch phun mực phân phối đều trên tấm ảnh. Ngoài ra, người ta còn dự định cung cấp một dung dịch phun có chất làm ướt cho thấy xu hướng bay hơi hợp lý để giảm thiểu hiệu ứng rửa trôi và chảy mực. Một mục đích xa hơn nữa của sáng chế này là cung cấp một dung dịch phun hoặc dung dịch phun cô đặc không tuân theo các quy định hiện hành về sức khỏe và môi trường. Mục đích của phát minh hiện tại được giải quyết bằng dung dịch phun để in offset bao gồm nước và tert.-amyl alcohol (2-methyl-2-butanol). Phát minh hiện tại cũng liên quan đến dung dịch cô đặc dạng phun để in offset có thể pha loãng với nước để tạo ra dung dịch phun sẵn sàng sử dụng theo phát minh hiện tại. Ưu điểm của việc cung cấp dung dịch cô đặc dạng phun là nước không được vận chuyển từ nhà sản xuất dung dịch cô đặc đến người vận hành máy in. Dung dịch cô đặc dạng TRANG 38 phun của phát minh hiện tại bao gồm tert.-amyl alcohol (2-methyl-2butanol). Dung dịch cô đặc dạng đài phun nước bao gồm 10 đến 100% theo trọng lượng của tert.-amyl alcohol, tốt nhất là từ 20 đến 95% theo trọng lượng, tốt hơn nữa là từ 5 đến 75% theo trọng lượng, thậm chí tốt hơn nữa là từ 7,5 đến 60% theo trọng lượng và tốt nhất là từ 10 đến 50% theo trọng lượng. Bên cạnh rượu tert-amyl, dung dịch cô đặc dạng đài phun nước cũng có thể bao gồm các tác nhân làm ướt phụ trợ. Tốt nhất là các chất làm ướt phụ trợ là chất hoạt động bề mặt hoặc dung môi làm ướt phụ trợ, có thể trộn lẫn với tert-amyl alcohol. Chất hoạt động bề mặt tốt nhất là chất hoạt động bề mặt không ion, anion, N-alkylpyrrolidone và rượu axetilen và các dẫn xuất của chúng. Chất hoạt động bề mặt anion được ưa thích là muối axit béo, abietate, hydroxyalkanesulfonate, alkanesulfonate, dialkyl sulfosuccinate, alkylbenzene sulfonate tuyến tính, alkyl-benzene sulfonate phân nhánh, alkylnaphthalenesulfonate, alkylphenoxy polyoxyethylene propyl-sulfonate, muối polyoxyethylene alkylsulfenyl ether, muối natri N-methyl-N-oleyl taurine, muối dinatri monoamide của axit Nalkyl sulfosuccinic, sulfonate dầu mỏ, dầu thầu dầu sunfat hóa, dầu mỡ bò sunfat hóa, muối este sunfat của axit béo alkyi este, muối este axit sunfatic alkyi, muối este sunfatic polyoxyethylene alkyi ether, muối este sunfatic monoglyceride của axit béo, muối este sunfatic polyoxyethylene alkylphenyl ether, muối este sunfatic polyoxyethylene styrylphenyl ether, muối este sunfatic alkyi, muối este photphoric polyoxyetylen alkyi ete, muối este photphoric polyoxyetylen alkylphenyl ete, sản phẩm xà phòng hóa một phần của đồng trùng hợp styren-maleic anhydride, sản phẩm xà phòng hóa một phần của đồng trùng hợp olefin-maleic anhydride, ngưng tụ formalin naphthalene sulfonat và tương tự. Các chất hoạt động bề mặt không ion được ưa thích là polyoxyethylene alkyi ether, polyoxyethylene alkylphenyl ether, polyoxyethylene polystyrylphenyl ether, polyoxyethylene TRANG 39 polyoxypropyl-ene alkyi ether, glycerol fatty acid partial ester, sorbitan fatty acid partial ester, pentae-rythritol fatty acid partial ester, propylene glycol mono fatty acid ester, sucrose fatty acid partial ester, polyoxyethylene sorbitan fatty acid partial ester, polyoxyethylene sorbitol fatty acid partial ester, polyethylene glycol fatty acid ester, polyglycerin fatty acid partial ester, polyoxyethylenated castor oil, polyoxyethylene glycerol fatty acid partial ester, fatty acid diethanol amide, N,N-bis-2-hydroxy alkylamine, polyoxyethylene al-kylamine, triethanolamine fatty acid ester, trialkylamine oxide và các chất tương tự. Ngoài ra, có thể sử dụng các chất hoạt động bề mặt flo và chất hoạt động bề mặt silicon. Các N-alkylpyrrolidone được ưa chuộng là N-ethyl pyrrolidone, Nbutyl pyrrolidone, N-pentylpyrrolidone, N-hexylpyrrolidone, Noctylpyrrolidone và N-laurylpyrrolidone. Các loại rượu axetilen và các dẫn xuất của chúng được ưa chuộng là 3,5-dimethyl-1-hexyne-3ol, 2,5-dimethyl-3-hexyne-2,5-diol, 2,4,7,9-tetramethyl-5-decyne-4,7diol, 3,6-dimethyl-4- octyne-3,6-diol, 2-butyne-1 ,4-diol, 3-methyl-1butyne-3-ol, các hợp chất cộng hợp của etylen oxit và/hoặc propylen oxit với các loại rượu axetilen trên, chẳng hạn như 2,4,7,9Tetramethyl-5-decyn-4,7-diol đã được ethoxyl hóa (có sẵn dưới dạng Surfynol ® 440), v.v. Trong số này, 3,6-dimethyl-4-octyne-3,6-diol, 2,4,7,9-tetramethyl-5-decyne-4,7-diol và hợp chất cộng của 4 đến 10 oxit etylen với 2,4,7,9-tetramethyl-5-decyne-4,7-diol là thích hợp hơn. Ngoài ra, có thể sử dụng kết hợp hai hoặc nhiều chất hoạt động bề mặt. Lượng chất hoạt động bề mặt dựa trên tổng trọng lượng của dung dịch đài phun nước nồng độ thường nằm trong khoảng từ 0 đến 15% theo trọng lượng, tốt nhất là từ 1 đến 10% theo trọng lượng và tốt hơn nữa là từ 3 đến 8% theo trọng lượng. Dung môi làm ướt phụ trợ là dung môi có thể trộn hoàn toàn hoặc ít nhất là một phần với tert-amyl alcohol. Tốt nhất, dung môi làm ướt phụ trợ có thể trộn lẫn với rượu tert-amyl là rượu, ete của rượu đa chức, chẳng hạn như chất cộng hợp của rượu đa chức với etylen hoặc propylen oxit. TRANG 40 Dung môi làm ướt phụ trợ có khả năng trộn lẫn với tert.-amyl alcohol được chọn từ nhóm bao gồm n-propyl alcohol, n-pentyl alcohol, 2methyl-1-butanol, 2,2-dimethyl-1-propanol, 2,2-dimethyl-2-propanol, 1-pentanol, 2-pentanol, 3-pentanol, 2-methyl-1-butanol, 3-methyl-1butanol, 2-methyl-2-butanol, 3-methyl-2-butanol, 1-octanol, 2octanol, 2-ethylhexanol, etylen glycol, etylen glycol mono-isopropyl ete, etylen glycol mono-n-propyl ete, etylen glycol mono-n-butyl ete, etylen glycol mono-tertiary-butyl ete, dietylen glycol, dietylen glycol mono-n-butyl ete, dietylen glycol monoetyl ete, propylen glycol, propylen glycol monomethyl ete, propylen glycol monoethyl ether, propylene glycol mono-n-propyl ether, propylene glycol mono-nbutyl ether, propylene glycol monoisobutyl ether, dipropylene glycol, dipropylene glycol monomethyl ether, dipropylene glycol monoethyl ether, dipropylene glycol monobutyl ether, dipropylene glycol isobutyl ether, Methylene glycol, Methylene glycol monomethyl ether, Methylene glycol monoethyl ether, Methylene glycol monobutyl ether, butylene glycol, glycerin, 3-methoxy-3methylbutane. Lượng dung môi làm ướt phụ trợ có khả năng trộn lẫn với tert.-amyl alcohol dựa trên tổng trọng lượng của dung dịch cô đặc dạng phun thường nằm trong khoảng từ 0 đến 60% theo trọng lượng, tốt hơn là từ 5 đến 55% theo trọng lượng, tốt hơn nữa là từ 10 đến 50% theo trọng lượng và tốt nhất là từ 15 đến 50% theo trọng lượng. Trong một dạng thực hiện được ưa thích, dung dịch cô đặc dạng phun chứa ít hơn 10% theo trọng lượng, tốt hơn là ít hơn 5% theo trọng lượng và tốt nhất là ít hơn 1% theo trọng lượng của cồn isopropyl. Tốt nhất là dung dịch phun và dung dịch cô đặc dạng phun theo sáng chế hiện tại không chứa cồn isopropyl. Trong một dạng thực hiện được ưa thích hơn nữa của sáng chế hiện tại, dung dịch cô đặc dạng phun theo sáng chế hiện tại cũng chứa nước. Lượng nước dựa trên tổng trọng lượng của dung dịch cô đặc dạng phun nói chung nằm trong khoảng từ 0 đến 75% theo trọng lượng, tốt hơn là từ 5 đến 75% theo trọng lượng, tốt hơn nữa là từ 7,5 đến 60% theo trọng lượng và tốt nhất là từ 15 đến 55% theo trọng lượng Dung dịch đài phun theo sáng chế hiện tại có thể tùy chọn bao gồm các tác nhân khử nhạy cảm, tác nhân điều chỉnh độ pH, tác nhân tạo TRANG 41 phức và các chất phụ gia khác, chẳng hạn như tác nhân che mùi, chất bảo quản, chất chống ăn mòn, tác nhân chống tạo bọt, v.v. Lượng và lựa chọn các thành phần bổ sung phụ thuộc vào khu vực ứng dụng và bộ in và được người có chuyên môn trong lĩnh vực này biết đến. Dung dịch đài phun cô đặc có thể tùy chọn bao gồm tác nhân khử nhạy cảm để truyền cho các khu vực không phải hình ảnh khả năng tiếp nhận nước và khả năng chống mực. Ví dụ về tác nhân giảm nhạy cảm trong nước bao gồm dung dịch nước của các polyme tự nhiên tan trong nước như gôm arabic, dextrin và carboxymethyl cellulose, và dung dịch nước của các polyme tổng hợp tan trong nước như polyvinyl alcohol, poly-vinyl pyrrolidone và axit polyacrylic. Lượng chất làm mất độ nhạy trong dung dịch cô đặc dạng phun tốt nhất là trong khoảng từ 0 đến 15% theo trọng lượng, tốt hơn là từ 1 đến 10% theo trọng lượng và tốt nhất là từ 3 đến 8% theo trọng lượng dựa trên trọng lượng của dung dịch cô đặc dạng phun. Dung dịch cô đặc dạng phun có thể bao gồm thêm chất điều chỉnh pH. Chất điều chỉnh pH có thể được sử dụng để điều chỉnh phạm vi pH cụ thể trong dung dịch phun hoặc để đệm dung dịch phun. Dung dịch Fountain tốt nhất là có tính axit nhẹ đến trung bình, ví dụ trong phạm vi pH từ 3 đến 7, nếu sử dụng các chất làm giảm độ nhạy như gum arabic vì gum arabic có thể mất hiệu quả nếu pH tăng trên 5. Trong trường hợp này, nó có thể mất khả năng bám dính vào bản in và mực có thể bắt đầu bám vào bản in ở các khu vực không phải hình ảnh, một vấn đề được gọi là đóng cặn. Tuy nhiên, tính axit quá mức cũng có thể gây ra tình trạng đóng cặn (vì axit ăn mòn lớp phủ bảo vệ bản in), cũng như làm mù bản in, trong đó axit ăn mòn các khu vực hình ảnh của bản in, khiến mực không tiếp nhận được. Tính axit tăng cũng có thể khiến trục lăn bị bong tróc hoặc trục lăn mực không tiếp nhận được mực. Dung dịch Fountain tốt nhất là có tính kiềm nhẹ, ví dụ trong phạm vi pH từ 7 đến 1 1, nếu sử dụng giấy kiềm hoặc giấy có chứa canxi cacbonat làm chất độn hoặc lớp phủ trong quá trình in. Canxi cacbonat là một vật liệu kiềm, và khi các hạt của nó tiếp xúc với dung dịch đài phun nước có tính axit, có thể xảy ra các tác động TRANG 42 có hại. Nếu muốn có dung dịch đài phun nước có tính kiềm nhẹ, thì tốt hơn là không sử dụng kẹo cao su làm chất làm mất cảm giác. Chất điều chỉnh pH thường là axit hữu cơ và/hoặc vô cơ tan trong nước và/hoặc muối của chúng. Axit hữu cơ được ưa thích bao gồm, ví dụ, axit citric, axit ascorbic, axit malic, axit tar- taric, axit lactic, axit axetic, axit gluconic, axit axetic, axit hydroxyacetic, axit oxalic, axit malonic, axit levulinic, axit sulfanilic, axit p-toluenesulfonic, axit phytic, axit phosphonic hữu cơ và tương tự. Axit vô cơ được ưa thích bao gồm axit phosphoric, axit nitric, axit sulfuric, axit polyphosphoric và tương tự. Ngoài ra, có thể ưu tiên sử dụng muối kim loại kiềm, muối kim loại kiềm thổ, muối amoni hoặc muối amin hữu cơ của các axit hữu cơ và/hoặc vô cơ này, đặc biệt là cacbonat kim loại kiềm, cacbonat kim loại kiềm thổ, silicat kim loại kiềm hoặc silicat kim loại kiềm thổ, đặc biệt là natri cacbonat hoặc natri silicat, và các axit hữu cơ và vô cơ cũng như muối của chúng có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp nhiều loại. Lượng chất điều chỉnh pH dựa trên tổng trọng lượng của dung dịch cô đặc dạng phun thường nằm trong khoảng từ 0 đến 15% theo trọng lượng, tốt nhất là từ 1 đến 10% theo trọng lượng và tốt nhất là từ 3 đến 8% theo trọng lượng. Dung dịch cô đặc dạng phun có thể tùy chọn chứa thêm tác nhân tạo phức. Chất tạo phức thường được sử dụng như một chất làm mềm nước để liên kết các ion canxi, có thể ảnh hưởng xấu đến quá trình in. Ví dụ về các tác nhân tạo phức được ưa thích bao gồm axit ethylenediaminetetraacetic và muối kali và muối natri của chúng; axit diethylenetriaminepentaacetic và muối kali và muối natri của chúng; axit triethylenetetraminehexaacetic và muối kali và muối natri của chúng; axit hydroxyethylethylenediaminetriacetic và muối kali và muối natri của chúng; axit nitrilotriacetic và muối natri của chúng; axit phosphonic hữu cơ như axit 1-hydroxy ethane-1, axit 1- TRANG 43 diphosphonic và muối kali và muối natri của chúng; muối aminotri (axit methylenephosphonic) và muối kali và muối natri của chúng, và axit phosphonoalkanetricarboxylic. Muối amin hữu cơ cũng có thể được sử dụng làm tác nhân tạo phức. Lượng chất tạo phức dựa trên tổng trọng lượng của dung dịch cô đặc dạng phun thường nằm trong khoảng từ 0 đến 5% trọng lượng, tốt nhất là từ 0,1 đến 2,5% trọng lượng và tốt nhất là từ 0,3 đến 1% trọng lượng chất tạo phức. Ngoài ra, dung dịch cô đặc dạng đài phun nước cũng có thể bao gồm các chất phụ gia khác, chẳng hạn như chất che mùi, chất bảo quản, chất chống ăn mòn, chất chống tạo bọt, chất hoạt động bề mặt, v.v. Các chất che mùi bao gồm các este thường được biết đến là được sử dụng làm hương liệu. Các ví dụ cụ thể về các chất che mùi có thể được sử dụng bao gồm các este của axit formic, axit axetic, axit propionic, axit butyric, axit isobutyric, axit 2-ethylbutyric, axit valeric, axit isovaleric, axit 2-methylvaleric, axit hexanoic (axit caproic), axit 4-methylpentanoic (axit isohexane), axit 2-hexenoic, axit 4-pentene, axit heptanoic, axit 2-methylheptane, axit octanoic (axit caprylic), axit nonanoic, axit decanoic (axit capric), axit 2decenoic, axit lauric hoặc axit myristic. Ngoài ra, các chất che mùi cũng bao gồm các este acetoacetic như benzyl phenylacetate, etyl acetoacetate và 2-hexyl acetoacetate. Trong số này, n-pentyl acetate, isopentyl acetate, n-butyl butyrate, n-pentyl butyrate và isopentyl butyrate được ưa chuộng hơn và đặc biệt là n-butyl butyrate, n-pentyl butyrate và isopentyl butyrate được ưa chuộng hơn. Chất bảo quản có thể được sử dụng cho dung dịch cô đặc dạng phun của phát minh hiện tại bao gồm phenol hoặc các dẫn xuất của chúng, formalin, các dẫn xuất imidazole, natri dehydroacetate, các dẫn xuất 4-isothiazolin-3-one, các dẫn xuất benztriazole, các dẫn xuất của amidine hoặc guanidine, muối amoni bậc bốn, pyridine, các dẫn xuất của quinoline hoặc guanidine, các dẫn xuất của diazine hoặc triazole, các dẫn xuất của oxazol hoặc oxazin, các rượu bromonitro như bromonitro propanol, 2,2-dibromo-2-nitro ethanol, 3-bromo-3-nitro pentane 2,4-diol, v.v. Lượng chất bảo quản được thêm vào thích hợp TRANG 44 là lượng thể hiện tác dụng của nó một cách ổn định đối với vi khuẩn, nấm, nấm men, v.v. và thay đổi tùy theo loại vi khuẩn, nấm và nấm men. Các chất chống ăn mòn có thể được sử dụng cho phát minh này bao gồm benzotriazole, 5-methylbenzotriazole, axit thiosalicylic, benzimidazole và các dẫn xuất của chúng và tương tự như vậy. Lượng phụ gia khác dựa trên tổng trọng lượng của dung dịch cô đặc dạng phun thường nằm trong khoảng từ 0 đến 15% theo trọng lượng, tốt hơn là từ 1 đến 10% theo trọng lượng và tốt nhất là từ 3 đến 8% theo trọng lượng, dựa trên trọng lượng của dung dịch cô đặc dạng phun. Trong một dạng thực hiện được ưa thích, dung dịch đài phun nước cô đặc theo sáng chế hiện tại bao gồm: tert.-amyl alcohol: 15 đến 75% theo trọng lượng và/hoặc nước: 0 đến 75% theo trọng lượng; và/hoặc dung môi làm ướt phụ trợ: 0 đến 60% theo trọng lượng và/hoặc chất làm giảm độ nhạy cảm: 0 đến 15% theo trọng lượng và/hoặc Chất điều chỉnh pH: 0 đến 15% theo trọng lượng và/hoặc chất tạo phức: 0 đến 5% theo trọng lượng và/hoặc chất hoạt động bề mặt: 0 đến 15% theo trọng lượng và/hoặc các chất phụ gia khác, bao gồm chất che mùi, chất bảo quản, chất chống ăn mòn, chất chống tạo bọt: 0 đến 15% theo trọng lượng, dựa trên trọng lượng của dung dịch cô đặc. Trong một dạng thực hiện ưa thích khác, dung dịch đài phun nước cô đặc theo sáng chế hiện tại được ưa thích hơn nữa bao gồm: tert.-amyl alcohol: 7,5 đến 60% theo trọng lượng và/hoặc nước: 5 đến 75% theo trọng lượng và/hoặc dung môi làm ướt phụ trợ: 5 đến 55% theo trọng lượng và/hoặc chất làm giảm độ nhạy: 1 đến 10% theo trọng lượng và/hoặc TRANG 45 Chất điều chỉnh pH: 1 đến 10% theo trọng lượng và/hoặc chất tạo phức: 0,1 đến 2,5% theo trọng lượng và/hoặc chất hoạt động bề mặt: 1 đến 10% theo trọng lượng và/hoặc các chất phụ gia khác, bao gồm chất che mùi, chất bảo quản, chất chống ăn mòn, chất chống tạo bọt: 1 đến 10% theo trọng lượng, dựa trên trọng lượng của dung dịch cô đặc. Trong một dạng thực hiện được ưa thích hơn, dung dịch đài phun nước cô đặc theo sáng chế hiện tại được ưa thích hơn nữa bao gồm: rượu tert.-amyl: 10 đến 50% theo trọng lượng và/hoặc nước: 7,5 đến 60% theo trọng lượng và/hoặc dung môi làm ướt phụ trợ: 10 đến 50% theo trọng lượng và/hoặc chất làm mất cảm giác: 3 đến 8% theo trọng lượng và/hoặc Chất điều chỉnh pH: 3 đến 8% theo trọng lượng và/hoặc chất tạo phức: 0,3 đến 1% theo trọng lượng và/hoặc chất hoạt động bề mặt: 3 đến 8% theo trọng lượng và/hoặc các chất phụ gia khác, bao gồm chất che mùi, chất bảo quản, chất chống ăn mòn, chất chống tạo bọt: 3 đến 8% theo trọng lượng, dựa trên trọng lượng của dung dịch cô đặc. Dung dịch đài phun nước cô đặc theo sáng chế hiện tại có thể thu được bằng cách trộn tert.-amyl alcohol với nước và tùy chọn các thành phần khác, chẳng hạn như chất làm giảm độ nhạy, chất điều chỉnh độ pH, chất tạo phức hoặc các chất phụ gia khác, chẳng hạn như chất che mùi, chất bảo quản, chất chống ăn mòn, chất chống tạo bọt, v.v. Dung dịch đài phun theo sáng chế này được thu được bằng cách thêm nước vào dung dịch đài phun cô đặc của sáng chế hiện tại. TRANG 46 Tỷ lệ trọng lượng của tert.-amyl alcohol so với nước trong các dung dịch phun có thể thu được tốt nhất là trong khoảng từ 1 : 200 đến 20 : 100, tốt hơn nữa là trong khoảng từ 1 : 100 đến 10 : 100 và tốt nhất là từ 3 : 100 đến 5 : 100. Trong một dạng thực hiện được ưa thích, dung dịch đài phun theo sáng chế hiện tại bao gồm: tert.-amyl alcohol: 0,1 đến 10%, tốt nhất là 0,3 đến 10% theo trọng lượng, tốt hơn nữa là 0,5 đến 3% theo trọng lượng và/hoặc nước: 50 đến 99,9% theo trọng lượng, tốt nhất là 70 đến 99,5% theo trọng lượng, tốt hơn nữa là 95 đến 99% theo trọng lượng và/hoặc dung môi làm ướt phụ trợ: 0 đến 5% theo trọng lượng, tốt nhất là 0,05 đến 3% theo trọng lượng, tốt hơn nữa là 0,1 đến 2% theo trọng lượng và/hoặc chất làm giảm độ nhạy: 0 đến 5% theo trọng lượng, tốt nhất là 0,05 đến 3% theo trọng lượng, tốt hơn nữa là 0,1 đến 2% theo trọng lượng và/hoặc Chất điều chỉnh pH: 0 đến 5% theo trọng lượng, tốt nhất là 0,05 đến 3% theo trọng lượng, tốt hơn nữa là 0,1 đến 2% theo trọng lượng và/hoặc chất tạo phức: 0 đến 1% theo trọng lượng, tốt nhất là 0,01 đến 0,5% theo trọng lượng, tốt hơn là 0,05 đến 0,25% theo trọng lượng và/hoặc chất hoạt động bề mặt: 0 đến 5% theo trọng lượng, tốt nhất là 0,05 đến 3% theo trọng lượng, tốt hơn nữa là 0,1 đến 2% theo trọng lượng và/hoặc các chất phụ gia khác, bao gồm chất che mùi, chất bảo quản, chất chống ăn mòn, chất chống tạo bọt: 0 đến 5% theo trọng lượng, tốt nhất là 0,05 đến 3% theo trọng lượng, tốt hơn nữa là 0,1 đến 2% theo trọng lượng dựa trên trọng lượng của dung dịch cô đặc dạng phun. Việc sử dụng tert-amyl alcohol trong dung dịch đài phun nước mang lại cho dung dịch đài phun nước những đặc tính ứng dụng vượt trội. Dung dịch phun theo sáng chế hiện tại có thể dễ dàng được áp dụng cho các tấm ảnh để khử nhạy cảm với các vùng không phải ảnh của TRANG 47 tấm ảnh bằng thiết bị tiêu chuẩn mà người có chuyên môn trong lĩnh vực này biết đến. Dung dịch phun theo sáng chế hiện tại cho phép tái tạo bản in tuyệt vời, ví dụ như chuyển chính xác hình ảnh sang phương tiện in. Giảm đáng kể tình trạng lem mực. Các dung dịch phun theo sáng chế hiện tại cũng cho phép hoạt động trơn tru trong in offset, ví dụ như giảm thiểu tình trạng mực chồng chất trên chăn và cho phép nhũ hóa mực thích hợp, ngăn ngừa tình trạng nhũ hóa quá mức, có thể dẫn đến hình ảnh không rõ nét hoặc hình ảnh có lỗ rỗng hoặc hấp thụ quá ít nước (nhũ hóa kém), có thể dẫn đến tình trạng mực truyền kém và mực chồng chất trên chăn. Các dung dịch phun hiện tại cho phép tốc độ xử lý cao trong quá trình in. Chúng có sức căng bề mặt động thấp để tăng cường các đặc tính khử nhạy cảm và độ nhớt động đủ cao để cho phép phân phối đều dung dịch phun trên tấm ảnh. Ngoài ra, dung dịch phun theo sáng chế hiện tại giảm thiểu hiệu ứng rửa trôi và lem mực. Các giải pháp đài phun nước theo sáng chế hiện tại tuân thủ các quy định hiện hành về sức khỏe và môi trường. Phương tiện in thu được theo quy trình in theo sáng chế hiện tại có chất lượng cao, ngay cả ở tốc độ xử lý cao. Phát minh hiện tại được minh họa bằng các ví dụ sau: Ví dụ: Các dung dịch sau được pha chế bằng cách trộn lượng cồn tương ứng với nước: a) 1% theo khối lượng tert-amyl alcohol; 99% theo khối lượng nước. b) 3% theo khối lượng rượu tert-amyl; 97% theo khối lượng nước. c) 5% theo khối lượng rượu tert-amyl; 95% theo khối lượng nước. d) 1% theo trọng lượng của tert.-butyl alcohol; 99% theo trọng lượng của nước (ví dụ so sánh). e) 3% theo trọng lượng của tert.-butyl alcohol; 97% theo trọng lượng của nước (ví dụ so sánh). f) 5% theo trọng lượng của tert.-butyl alcohol; 95% theo trọng lượng của nước (ví dụ so sánh). g) 1% theo trọng lượng của isopropyl alcohol; 99% theo trọng lượng của nước (ví dụ so sánh). h) 3% theo trọng lượng của isopropyl alcohol; 97% theo trọng lượng của nước (ví dụ so sánh). i) 5% theo trọng lượng của isopropyl alcohol; 95% theo trọng lượng của nước (ví dụ so sánh). TRANG 48 Độ nhớt động học của hỗn hợp được xác định ở 20°C. Kết quả được liệt kê trong Bảng 1. Độ căng bề mặt tĩnh của hỗn hợp được xác định theo phương pháp áp suất bong bóng với máy đo độ căng bề mặt động tự động BP-D của Kyowa Interface Science Co.. Kết quả cũng được liệt kê trong Bảng 1. Bảng 1: > FSE = Sức căng bề mặt động của nước (72,8 dyne/cm) - (Sức căng bề mặt động / Độ nhớt động) Rõ ràng là dung dịch đài phun dựa trên tert.-amyl alcohol và nước có sức căng bề mặt thấp hơn so với dung dịch đài phun dựa trên các loại rượu khác. Tuy nhiên, việc sử dụng tert.-amyl alcohol trong dung dịch đài phun không dẫn đến việc giảm độ nhớt của dung dịch đài phun không mong muốn. Do đó, dung dịch đài phun theo sáng chế hiện tại có thể kết hợp sức căng bề mặt thấp mà không phải hy sinh độ nhớt. Ngoài ra, FSE cao hơn đối với dung dịch đài phun của sáng chế hiện tại so với dung dịch đài phun dựa trên các loại rượu khác ở cùng nồng độ. FSE là thước đo hiệu quả mà dung dịch đài phun có thể được cung cấp từ cuộn này sang cuộn khác trong quá trình in offset. 1 Kiểm tra ứng dụng: Các dung dịch đài phun nước cô đặc sau đây được chuẩn bị bằng cách trộn một lượng tert-amyl alcohol với một lượng tương ứng của hỗn hợp dung dịch đài phun nước cơ bản bao gồm: TRANG 49 nước: 19% theo trọng lượng; dung môi làm ướt phụ trợ: 60% theo trọng lượng; chất làm giảm độ nhạy cảm: 5% theo trọng lượng; Chất điều chỉnh pH: 5% theo trọng lượng; chất tạo phức: 1% theo trọng lượng; chất hoạt động bề mặt: 5% theo trọng lượng; phụ gia khác: 5% theo trọng lượng, dựa trên tổng trọng lượng của hỗn hợp dung dịch gốc dạng phun Các dung dịch dạng phun tương ứng thu được bằng cách trộn một lượng dung dịch cô đặc dạng phun tương ứng với một lượng nước tương ứng. Dung dịch cô đặc Fountain I: a) rượu tert-amyl: 33,33% theo trọng lượng; b) Hỗn hợp dung dịch gốc: 66,67% theo khối lượng. Giải pháp đài phun nước I: a) dung dịch cô đặc I: 3% theo khối lượng; b) nước: 97% theo trọng lượng. Dung dịch cô đặc Fountain II: a) rượu tert-amyl: 20% theo khối lượng; b) hỗn hợp dung dịch nền đài phun nước: 80% theo trọng lượng. Dung dịch đài phun nước cô đặc II: a) dung dịch cô đặc II: 2,5% theo khối lượng; b) Nước: 97,5% theo trọng lượng. Dung dịch cô đặc dạng đài phun nước III: a) rượu tert-amyl: 32,3% theo trọng lượng; b) hỗn hợp dung dịch gốc: 64,5% theo khối lượng; TRANG 50 c) N-octylpyrrolidone: 3,2% theo trọng lượng. Giải pháp đài phun nước III: a) dung dịch cô đặc III: 3,1% theo trọng lượng; b) nước: 96,9% theo khối lượng. Dung dịch cô đặc dạng phun IV: a) rượu tert-amyl: 50% theo khối lượng; b) hỗn hợp dung dịch gốc Fountain: 50% theo khối lượng. Dung dịch Fountain IV: a) dung dịch cô đặc IV: 2% theo trọng lượng; b) nước: 98% theo trọng lượng. Dung dịch cô đặc Fountain V: a) rượu tert-amyl: 47,6% theo trọng lượng; b) hỗn hợp dung dịch gốc: 47,6% theo trọng lượng; c) Noctylpyrrolidone: 4,8% theo trọng lượng. Giải pháp Fountain V: a) dung dịch cô đặc V: 2,1% theo trọng lượng; b) nước: 97,9% theo trọng lượng. Dung dịch cô đặc Fountain VI: a) rượu tert-amyl: 47,6% theo trọng lượng; b) hỗn hợp dung dịch gốc: 47,6% theo trọng lượng; c) Surfynol® 440 (Sản phẩm Air): 4,8% theo trọng lượng. Giải pháp đài phun nước VI: a) dung dịch cô đặc VI: 2,1% theo trọng lượng; c) nước: 97,9% theo trọng lượng. Dung dịch Fountain cô đặc VII (ví dụ so sánh a) hỗn hợp cơ sở dung dịch Fountain: 2% theo trọng lượng. Dung dịch Fountain VII (ví dụ so sánh): TRANG 51 a) dung dịch cô đặc VII: 2% theo khối lượng; b) nước: 98% theo khối lượng. Dung dịch đài phun nước cô đặc VIII (thí dụ so sánh a) hỗn hợp dung dịch đài phun nước cơ bản: 40% theo trọng lượng; b) cồn isopropy: 60% theo trọng lượng. Giải pháp Fountain VIII (ví dụ so sánh): a) dung dịch phun tập trung VIII: 2,1% theo trọng lượng; b) nước: 97,9% theo trọng lượng. Các thử nghiệm in được thực hiện trên máy in thương mại (Mitsubishi Lithopia Max BT-2 800). Tốc độ in là 800 vòng/phút. Loại giấy được sử dụng là: Giấy Aurora® do Nippon Paper Co. sản xuất. Quá trình in được thực hiện ở nhiệt độ môi trường từ 20 đến 25°C và độ ẩm tương đối từ 40 đến 50%. Loại mực sử dụng: WD LEO-X của Toyo Ink MFG. CO., LTD. Các tính chất in ấn sử dụng các giải pháp đài phun nước khác nhau đã được đánh giá. Kết quả được tóm tắt trong Bảng 2. Bảng 2: Số quay số nguồn nước tối thiểu đề cập đến cài đặt kiểm soát tốc độ nạp dung dịch đài phun của máy in. Máy in Mitsubishi được sử dụng 1) TRANG 52 cho các thí nghiệm có phạm vi quay số từ 0 đến 100. Một giá trị nhỏ cho số quay số nguồn nước tương ứng với tốc độ nạp dung dịch đài phun thấp hơn. Để có được giá trị cho cài đặt thấp nhất có thể mà tại đó không tạo ra vết bẩn trên giấy và hoạt động in ổn định. Rõ ràng là có thể áp dụng tốc độ nạp dung dịch đài phun bằng hoặc thấp hơn để có được các đặc tính in tốt hơn khi sử dụng dung dịch đài phun của các sáng chế hiện tại. ¾ Độ nhũ hóa của mực được kiểm soát sau khi in 10.000 tờ giấy ở số vạch nước tối thiểu. Độ nhũ hóa được đánh giá bằng mắt thường và được xếp loại theo thang điểm sau: A: tốt; B: hơi kém; C: rất kém. Nhũ hóa hoặc trộn lẫn giữa mực và dung dịch phun xảy ra do lực cắt trong quá trình chuyển. Nếu mực hấp thụ quá nhiều nước, nó sẽ bị nhũ hóa quá mức, để lại các khoảng trống và hình ảnh không rõ trên vật liệu nền. Nếu mực không trộn với nước và không tạo thành nhũ tương ổn định, mực có thể bị loang lổ và việc chuyển mực sang các tấm hình sẽ kém hơn, do đó mực có thể bị vón cục khi mực đọng lại trên tấm và không chuyển sang vật liệu nền. 3 > Các đặc tính chảy mực của mực và dung dịch phun được đánh giá bằng mắt thường và được xếp hạng theo thang điểm sau: A: tốt; B: hơi kém; C: rất kém. Chảy mực xảy ra khi các sắc tố màu của mực bị dung dịch phun rửa giải phóng. Hiệu ứng này dẫn đến việc dung dịch phun bị đổi màu và mực tích tụ ở các vùng không phải hình ảnh của các tấm in. > Độ tái tạo bản in là thước đo mức độ chất lượng tái tạo hình ảnh trên tấm in lên giấy. Độ tái tạo bản in được đánh giá bằng cách so sánh kích thước của một chấm bán sắc trên tấm in so với kích thước của chấm bán sắc trên giấy in. Độ tái tạo bản in được đánh giá theo thang điểm sau: A: tốt (không tăng đáng kể kích thước của chấm bán sắc); B: hơi kém (tăng vừa phải kích thước của chấm bán sắc); C: rất kém (tăng đáng kể kích thước của chấm bán sắc). 5 > Độ chống chồng lớp là thước đo lượng mực tích tụ trên bề mặt của tấm dùng để chuyển hình ảnh từ tấm in lên giấy. Độ chống chồng lớp là tốt nếu ít hoặc không có mực tích tụ trên tấm và là xấu nếu có một lượng mực đáng kể về mặt thị giác tích tụ trên tấm. Độ chống chồng lớp được đánh giá theo thang điểm sau: A: tốt; B: hơi kém; C: rất kém. 4 TRANG 53 TRANG 54 BỐI CẢNH CỦA SÁNG CHẾ [0001] 1. Lĩnh vực phát minh [0002] Phát minh hiện tại liên quan đến các thành phần dung dịch phun cho in thạch bản, cụ thể hơn là các thành phần dung dịch phun cho quy trình in offset, được ưu tiên sử dụng cho quy trình in offset nhiệt quay. [0003] 2. Mô tả về Nghệ thuật liên quan [0004] In thạch bản là một quá trình in, tận dụng lợi thế của đặc tính là nước và dầu về cơ bản không thể trộn lẫn với nhau, và bao gồm hai vùng: một vùng tiếp nhận nước và đẩy mực gốc dầu, và vùng còn lại tiếp nhận mực gốc dầu và đẩy nước. Vùng trước là vùng không có hình ảnh, và vùng sau là vùng có hình ảnh. Làm ướt vùng không có hình ảnh bằng dung dịch phun sẽ làm tăng sự khác biệt về mặt hóa học giữa vùng có hình ảnh và vùng không có hình ảnh, do đó tăng cường khả năng đẩy mực của vùng không có hình ảnh và khả năng tiếp nhận mực của vùng có hình ảnh. [0005] Máy in thạch bản thường sử dụng phương pháp in offset, trong đó mực và dung dịch phun được cung cấp lên tấm kim loại, tại đó mực sẽ bám vào vùng hình ảnh và dung dịch phun sẽ bám vào vùng không có hình ảnh để tạo ra hình ảnh, hình ảnh trên tấm kim loại này sẽ được chuyển sang chăn và sau đó từ chăn sang giấy, do đó đạt được hiệu quả in. Trong quá trình này, khi tiếp tục in trong thời gian dài, sẽ xảy ra sự cố được gọi là "chồng chất đống chăn", trong đó thành phần mực và thành phần giấy dần dần chồng chất lên các vùng không có hình ảnh trên chăn. Cụ thể, in thạch bản quay (offset quay) được đặc trưng bởi khả năng hoạt động liên tục và lâu dài cũng như năng suất cao, tuy nhiên, lại gặp phải vấn đề đáng kể là gây ra tình trạng chồng chất chăn. TRANG 55 [0006] Trong hiện tượng chồng lớp chăn, mực trên vùng hình ảnh có xu hướng bị đùn ra và lắng đọng ở đặc biệt là mặt sau của vòng quay (mặt đầu kẹp), và sự lắng đọng này ngăn cản việc truyền mực từ chăn sang giấy dẫn đến mực không bám đủ. Để loại bỏ lớp phủ, phải dừng hoạt động in để vệ sinh chăn, làm tăng đáng kể lượng giấy thải và giảm năng suất. Do đó, cần phải cải thiện. [0007] Một số giải pháp cho việc chồng lớp phủ đã được đề xuất như thành phần mực cho in offset thạch bản quay bao gồm lanolin có giá trị axit nhỏ hơn 1,0 với lượng từ 1-5% theo trọng lượng (xem Tài liệu sáng chế 1) và giấy tráng phủ sắc tố để in offset được đặc trưng bởi được tráng bằng thành phần tráng phủ trong đó tỷ lệ giữa chất kết dính cụ thể và sắc tố được xác định (xem Tài liệu sáng chế 2). [0008] Tuy nhiên, việc giới hạn đối với một số loại mực hoặc giấy in nhất định không thể thỏa đáng trong trường hợp cần sử dụng nhiều loại mực hoặc giấy khác nhau. Do đó, việc cải thiện việc xếp chồng chăn vẫn là một vấn đề quan trọng. [0009] Các dung dịch phun nước thông thường bao gồm các dung dịch nước chứa muối kim loại kiềm hoặc muối amoni của axit dicromic, axit photpho hoặc muối của chúng như amoni phosphat, gôm arabic, các chất keo như carboxymethyl cellulose (CMC) và các chất tương tự. Tuy nhiên, dung dịch phun nước chỉ chứa các hợp chất này có nhược điểm là khó làm ướt đều vùng không có hình ảnh của tấm và thường gây ra các vết bẩn không mong muốn trên các vật liệu in. Ngoài ra, còn có một vấn đề là việc kiểm soát nguồn cung cấp dung dịch phun nước đòi hỏi phải đào tạo đáng kể. [0010] Để cải thiện nhược điểm trên, hệ thống Dahlgren sử dụng dung dịch nước chứa 20-25% cồn isopropyl đã được đề xuất. Phương pháp này có lợi thế ở TRANG 56 nhiều điểm, bao gồm cả về mặt vận hành và chất lượng của các vấn đề in, bằng cách cải thiện khả năng làm ướt vùng không phải hình ảnh, giảm lượng dung dịch phun cần thiết, tạo điều kiện cân bằng lượng mực in và nước cần cung cấp, giảm lượng nhũ hóa của dung dịch phun vào mực in và hơn nữa bằng cách cải thiện hiệu quả truyền mực in sang chăn. Tuy nhiên, vì cồn isopropyl dễ bay hơi, nên cần có một thiết bị đặc biệt để duy trì một mức cồn isopropyl nhất định trong dung dịch phun, dẫn đến tăng chi phí. Hơn nữa, cồn isopropyl có mùi khó chịu đặc biệt và vấn đề độc tính, do đó không có lợi cho môi trường làm việc. Việc áp dụng dung dịch phun có chứa cồn isopropyl vào in offset khi sử dụng lô làm ẩm thông thường đã gặp vấn đề vì cồn isopropyl bay hơi trên lô và trên bề mặt bản in và không phát huy tác dụng. [0011] Các dung dịch đài phun nước không chứa cồn isopropyl đã được đề xuất như dung dịch đài phun nước chứa các hợp chất propylene glycol cụ thể (xem Tài liệu sáng chế 3), dung dịch đài phun nước chứa các hợp chất có ethylenediamine mà ethylene oxide và propylen oxide được gắn vào (xem Tài liệu sáng chế 4 và 5), và dung dịch đài phun nước chứa các hợp chất có ethylenetriamine mà ethylene oxide và propylen oxide được gắn vào (xem Tài liệu sáng chế 6). Tuy nhiên, những dung dịch này vẫn có xu hướng gây ra hiện tượng chồng lớp và cần phải cải thiện hiện tượng này. [0012] Mặt khác, một kỹ thuật sử dụng polyme hữu cơ hòa tan trong nước để cải thiện khả năng thấm ướt của xi lanh in đã được đề xuất và nó sử dụng dung dịch phun chứa collagen/elastin tự nhiên, có thể hòa tan trong môi trường nước có tính axit yếu (xem Tài liệu sáng chế 7). Tài liệu này cũng tiết lộ rằng khả năng thấm ướt được cải thiện hơn nữa bằng cách đưa vào một loại rượu và/hoặc ankan diol không phải polyme chuỗi dài (n≧6) có nhóm hydroxyl ở vị trí (1,2) hoặc (1,3). Tuy nhiên, phương pháp cải thiện khả năng phủ chăn không được đề cập rõ ràng trong các tài liệu kỹ thuật trước đó ở trên. [0013] [Tài liệu sáng chế 1] JP 2006-328299 A TRANG 57 [0014] [Tài liệu sáng chế 2] JP 2006-322114 A [0015] [Tài liệu sáng chế 3] JP 2001-138655 A [0016] [Tài liệu sáng chế 4] JP 2007-50665 A [0017] [Tài liệu sáng chế 5] JP 2007-168124 A [0018] [Tài liệu sáng chế 6] JP 2007-55182 A [0019] [Tài liệu sáng chế 7] JP S61-189997 A CÔNG BỐ SÁNG CHẾVấn đề cần giải quyết bằng phát minh [0020] Mục đích của sáng chế hiện nay là cung cấp một phương pháp cải thiện cọc phủ, và cụ thể là cung cấp một phương pháp cải thiện cọc phủ về mặt thành phần dung dịch phun. Phương tiện để giải quyết vấn đề [0021] Để đạt được các mục tiêu được mô tả ở trên, nhà phát minh hiện nay đã nghiên cứu sâu rộng để khám phá ra rằng việc đắp chăn được cải thiện đáng kể bằng cách thêm các hợp chất diol cụ thể vào dung dịch phun. [0022] Theo đó, phát minh hiện tại là một thành phần dung dịch phun cho in thạch bản đặc trưng bởi bao gồm ít nhất một hợp chất hydrocarbon diol không vòng, có tổng cộng 9 nguyên tử carbon và hai nhóm —OH, trong đó số TRANG 58 lượng nguyên tử carbon tồn tại giữa hai nhóm —OH nói trên theo khoảng cách tối thiểu là từ 2 đến 6. [0023] Là một dạng thực hiện của phát minh này, có thành phần dung dịch phun trong đó hợp chất diol là 2,4-diethyl-1,5-pentanediol và/hoặc 2-butyl-2ethyl-1,3-propanediol. [0024] Trong một dạng thực hiện của phát minh, thành phần dung dịch đài phun nước bao gồm hợp chất diol nêu trên, 2-butyl-2-ethyl-1,3-propanediol. [0025] Một hiện thân khác của phát minh này là thành phần dung dịch đài phun nước bao gồm hai hoặc nhiều hợp chất diol nói trên, trong đó 2-butyl-2ethyl-1,3-propanediol chiếm ít nhất 1% theo trọng lượng của tổng trọng lượng hợp chất diol. Là một ví dụ về thành phần dung dịch đài phun nước nói trên bao gồm hai hoặc nhiều hợp chất diol nói trên, có thành phần dung dịch đài phun nước bao gồm 2,4-diethyl-1,5-pentanediol. [0026] Trong một dạng thực hiện khác của thành phần dung dịch đài phun nước của phát minh, thành phần dung dịch đài phun nước như mô tả ở trên bao gồm ít nhất một hợp chất có công thức (I) được hiển thị bên dưới và ít nhất một hợp chất có công thức (II) được hiển thị bên dưới. R 1 —O—(CH 2 CHR 2 O) m —H (I) [0027] trong đó R 1 biểu thị nhóm alkyl có từ 1 đến 4 nguyên tử cacbon, R 2 biểu thị nguyên tử hydro hoặc nhóm metyl và m biểu thị số nguyên từ 1 đến 3. HO—(CH 2 CH(CH 3 )O) n —H (II) [0028] TRANG 59 trong đó n biểu thị số nguyên từ 1 đến 5. [0029] Trong một dạng thực hiện khác của thành phần dung dịch phun của phát minh này, thành phần dung dịch phun được mô tả ở trên bao gồm ít nhất một hợp chất được chọn từ hợp chất cộng của etylen oxit và propylen oxit với etylendiamin và hợp chất cộng của etylen oxit và propylen oxit với diethylenetriamine. [0030] Trong một dạng thực hiện khác của thành phần dung dịch phun của phát minh này, thành phần dung dịch phun được mô tả ở trên bao gồm thêm một dẫn xuất pyrrolidone được biểu thị bằng công thức chung (VI) sau: trong đó R 4 biểu thị nhóm alkyl có từ 2 đến 12 nguyên tử cacbon. [0031] Trong một dạng thực hiện khác của thành phần dung dịch đài phun nước của phát minh này, thành phần dung dịch đài phun nước được mô tả ở trên bao gồm ít nhất một thành phần được chọn từ nhóm bao gồm axetilen glycol, axetilen rượu và một hợp chất cộng của etylen oxit và/hoặc propylen oxit. Là một dạng thực hiện cụ thể của thành phần này, có thành phần dung dịch đài phun nước bao gồm ít nhất một hợp chất được chọn từ nhóm bao gồm 3,6-dimethyl-4-octyne-3,6-diol, 2,4,7,9-tetramethyl-5-decyne-4,7-diol và một hợp chất cộng của 4 đến 10 etylen oxit với 2,4,7,9-tetramethyl-5decyne-4,7-diol. [0032] Thành phần dung dịch phun của phát minh này có thể được sử dụng tốt nhất cho in offset nhiệt quay, do đó, phát minh hiện tại cũng hướng đến quy trình in offset nhiệt quay sử dụng mực in offset loại nhiệt quay và thành phần dung dịch phun ở trên. TRANG 60 HIỆU LỰC CỦA SÁNG CHẾ [0033] Thành phần dung dịch phun của sáng chế này ngăn chặn hiện tượng chồng lớp phủ, và tạo ra bản in ổn định với chất lượng cao ngay cả khi in liên tục trong thời gian dài. Ngoài ra, thành phần dung dịch phun của sáng chế này không yêu cầu sử dụng dung môi hữu cơ dễ bay hơi như isopropyl alcohol, vốn thường được sử dụng cho dung dịch phun. Do đó, bằng cách sử dụng thành phần dung dịch phun của sáng chế này, lượng dung dịch phun cần cung cấp có thể dễ dàng được kiểm soát, và vết mực (phản hồi mực) trên lô làm ẩm hầu như không bị hỏng, do đó có thể cung cấp hiệu suất in tuyệt vời. Ngoài ra, thành phần dung dịch phun của sáng chế này thuận lợi hơn cho môi trường hoạt động. CÁCH THỨC TỐT NHẤT ĐỂ THỰC HIỆN SÁNG CHẾ [0034] Phát minh hiện tại sẽ được mô tả chi tiết dưới đây. [0035] Hợp chất diol được sử dụng cho phát minh hiện tại là hợp chất diol hydrocarbon mạch hở, có tổng cộng 9 nguyên tử cacbon và hai nhóm —OH, trong đó số nguyên tử cacbon tồn tại giữa hai nhóm —OH nói trên theo khoảng cách tối thiểu là từ 2 đến 6. Do tổng số nguyên tử cacbon là 9, hợp chất nói trên cho thấy khả năng hòa tan thuận lợi, do đó có thể đạt được hiệu quả mà phát minh hiện tại hướng tới. [0036] Một hợp chất như 1,9-nonanediol có tổng cộng 9 nguyên tử cacbon, nhưng số lượng nguyên tử cacbon tồn tại giữa hai nhóm —OH nói trên thông qua khoảng cách tối thiểu lớn hơn 6, dường như không thể hiện hiệu ứng của phát minh được thiết lập trước. Do đó, người ta quan sát thấy rằng chỉ những hợp chất có sự cân bằng ưa nước-kỵ nước và cấu trúc phân tử trong giới hạn hẹp mới có thể thể hiện hiệu ứng mà phát minh hướng tới. [0037] TRANG 61 Trong hợp chất diol được sử dụng cho phát minh hiện tại, số lượng nguyên tử cacbon tồn tại giữa hai nhóm —OH nói trên theo khoảng cách tối thiểu tốt nhất là trong khoảng từ 3 đến 5. [0038] Các ví dụ về hợp chất diol được sử dụng cho phát minh hiện tại bao gồm các hợp chất cụ thể (1) đến (15) được trình bày bên dưới, tuy nhiên phát minh hiện tại không nên bị giới hạn ở đó. TRANG 62 TRANG 63 [0039] Trong số các hợp chất diol trên, (7) 2-butyl-2-ethyl-1,3-propanediol và (10) 2,4-diethyl-1,5-pentanediol có tác dụng tuyệt vời trong việc giảm hiện tượng đóng cọc. [0040] Thành phần dung dịch đài phun nước của sáng chế này có thể bao gồm một hoặc nhiều hơn một hợp chất diol. Là một ví dụ về thành phần dung dịch đài phun nước của sáng chế này, có dung dịch đài phun nước bao gồm hai hoặc nhiều hợp chất diol, trong đó 2-butyl-2-ethyl-1,3-propanediol chiếm ít nhất 1% theo trọng lượng của tổng trọng lượng các hợp chất diol. Trong dạng thực hiện này, 2-butyl-2-ethyl-1,3-propanediol chiếm ưu thế ít nhất 3% theo trọng lượng và ưu thế hơn nữa là ít nhất 10% theo trọng lượng của tổng trọng lượng các hợp chất diol. Trong dung dịch đài phun nước trên bao gồm hai hoặc nhiều hợp chất diol, hợp chất diol được sử dụng kết hợp với 2butyl-2-ethyl-1,3-propanediol bao gồm cụ thể 2,4-diethyl-1,5-pentanediol. TRANG 64 [0041] Lượng hợp chất diol thích hợp của phát minh này cần được thêm vào là 0,001 đến 2,0% theo trọng lượng dựa trên tổng lượng thành phần dung dịch phun khi sử dụng, vì trong phạm vi trên, thành phần sẽ thể hiện hiệu quả của phát minh này một cách đầy đủ, đồng thời không thể hiện độ hòa tan kém hoặc gây ra vết mực (phản hồi mực) trên con lăn làm ẩm. Lượng cần được thêm vào tốt nhất là 0,05 đến 1,0% theo trọng lượng, tốt hơn nữa là 0,1 đến 0,7% theo trọng lượng và tốt hơn nữa là 0,2 đến 0,5% theo trọng lượng. [0042] Tốt nhất là thành phần dung dịch đài phun nước thường được sử dụng bằng cách pha loãng dung dịch cô đặc trước khi sử dụng về mặt chi phí vận chuyển, không gian lưu trữ và chi phí sản xuất bao gồm chi phí vật liệu đóng gói. Tỷ lệ pha loãng tốt nhất là từ 10 đến 200 lần, tốt hơn nữa là từ 20 đến 150 lần và tốt nhất là từ 30 đến 100 lần. Do đó, nồng độ của thành phần trong dung dịch cô đặc được điều chỉnh đến mức sẽ cung cấp nồng độ trên của thành phần dung dịch đài phun nước khi sử dụng sau khi pha loãng. Nồng độ cao hơn được ưu tiên về mặt chi phí, tuy nhiên, nồng độ quá mức có thể gây ra một số vấn đề như lắng đọng hoặc tách chất lỏng, do đó không thuận lợi. [0043] Khi chuẩn bị dung dịch cô đặc, như một tác nhân hòa tan, nên sử dụng ít nhất một hợp chất có công thức (I) bên dưới và ít nhất một hợp chất có công thức (II) bên dưới, và các hợp chất này sẽ tăng cường hiệu quả của phát minh theo cách hiệp đồng. Hợp chất có công thức (I) [0044] R 1 —O—(CH 2 CHR 2 O) m —H (I) [0045] trong đó R 1 biểu thị nhóm alkyl có từ 1 đến 4 nguyên tử cacbon, R 2 biểu thị nguyên tử hydro hoặc nhóm metyl và m biểu thị số nguyên từ 1 đến 3. TRANG 65 [0046] Trong hợp chất có công thức (I), cụ thể là R 1 biểu thị một nhóm alkyl tuyến tính hoặc phân nhánh có 1 đến 4 nguyên tử cacbon bao gồm, cụ thể là, các nhóm methyl, ethyl, propyl, isopropyl, n-butyl, isobutyl và t-butyl, trong đó nhóm n-butyl hoặc t-butyl được ưu tiên đặc biệt vì chúng làm tăng độ hòa tan của các hợp chất diol và ngăn chặn hiện tượng chồng lớp. R 2 biểu thị một nguyên tử hydro hoặc một nhóm methyl, tốt nhất là một nhóm methyl, và m biểu thị một số nguyên từ 1 đến 3, tốt nhất là 1. [0047] Ví dụ về hợp chất có công thức (I) bao gồm etylen glycol mono t-butyl ete, etylen glycol mono n-butyl ete, propylen glycol monomethyl ete, dipropylen glycol monomethyl ete, tripropylen glycol monomethyl ete, propylen glycol monoethyl ete, dipropylen glycol monoethyl ete, tripropylen glycol monoethyl ete, tetrapropylen glycol monoethyl ete, propylen glycol monopropyl ete, dipropylen glycol monopropyl ete, tripropylen glycol monopropyl ete, propylen glycol monoisopropyl ete, dipropylen glycol monoisopropyl ete, tripropylen glycol monoisopropyl ete, propylen glycol mono n-butyl ete, dipropylen glycol monobutyl ete, tripropylen glycol monoisobutyl ete, propylen glycol monoisobutyl ete, dipropylen glycol monoisobutyl ete, propylen glycol monoisobutyl ete, propylen glycol monoisobutyl ete, propylen glycol monoisobutyl ete, propylen glycol mono t-butyl ete, dipropylen glycol mono t-butyl ete và tripropylen glycol mono tbutyl ê-te. [0048] Các hợp chất này có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp nhiều loại. [0049] Trong số này, có thể ưu tiên sử dụng n-butyl hoặc t-butyl ete của propylene glycol hoặc ethylene glycol. Lượng hợp chất có công thức (I) thích hợp cần thêm vào là 0,05 đến 5,0% theo trọng lượng dựa trên tổng lượng thành phần dung dịch phun khi sử dụng, vì trong phạm vi trên, thành phần sẽ thể hiện hiệu ứng đủ để ngăn chặn tình trạng chồng lớp phủ, trong khi không gây ra TRANG 66 các vấn đề như bong lô hoặc độ bền in kém. Ưu tiên hơn nữa, lượng cần thêm vào là 0,1 đến 3,0% theo trọng lượng. Hợp chất của công thức (II) [0050] HO—(CH 2 CH(CH 3 )O) n —H (II) [0051] trong đó n biểu thị số nguyên từ 1 đến 5. [0052] Trong hợp chất có công thức (II), cụ thể, n được ưu tiên là 1. [0053] Theo đó, các ví dụ về hợp chất có công thức (II) bao gồm propylene glycol, dipropylene glycol, tripropyleneglycol, tetrapropylene glycol và pentapropylene glycol. Các hợp chất này có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhiều hợp chất. Trong số các hợp chất này, propylene glycol, dipyropylene glycol và tripropylene glycol là tốt nhất, và propylene glycol là tốt nhất để tăng độ hòa tan của hợp chất diol. [0054] Hàm lượng thích hợp của hợp chất công thức (II) trong thành phần dung dịch phun là 0,05 đến 5,0% theo trọng lượng dựa trên tổng lượng thành phần dung dịch phun khi sử dụng, vì trong phạm vi trên, độ hòa tan của hợp chất diol trở nên đủ và thành phần sẽ thể hiện hiệu ứng đủ để ngăn chặn sự chồng lớp phủ, đồng thời không gây bong tróc con lăn do nồng độ mực ổn định. Tốt hơn nữa, lượng cần thêm là 0,1 đến 3,0% theo trọng lượng. [0055] Thành phần dung dịch phun của phát minh này có thể bao gồm thêm ít nhất một hợp chất được chọn từ hợp chất cộng của etylen oxit và propylen oxit với etylendiamin và hợp chất cộng của etylen oxit và propylen oxit với dietylendiamin. TRANG 67 [0056] Các hợp chất này sẽ được mô tả như sau. [Hợp chất cộng hợp của Ethylene Oxide và Propylene Oxide thành Ethylenediamine] [0057] Hợp chất cộng hợp của etylen oxit và propylen oxit với etylendiamine được sử dụng cho phát minh này có trọng lượng phân tử trung bình thích hợp từ 500 đến 20000, tốt nhất là từ 500 đến 5000, tốt hơn nữa là từ 800 đến 1500 và tốt nhất là khoảng 1000. [0058] Trong hợp chất, tỷ lệ mol của chất kết dính etylen oxit và propylen oxit thích hợp trong khoảng từ 5:95 đến 50:50 và tốt hơn nữa là trong khoảng từ 20:80 đến 35:65 xét về hiệu suất in đủ. [0059] Cấu trúc liên kết của etylen oxit và propylen oxit trong hợp chất bao gồm cấu trúc khối trong đó etylen oxit được thêm vào trước sau đó là propylen oxit, cấu trúc khối trong đó propylen oxit được thêm vào trước sau đó là etylen oxit và cấu trúc ngẫu nhiên trong đó etylen oxit và propylen oxit được thêm vào đồng thời. Tuy nhiên, bất kỳ cấu trúc nào trong số này đều có hiệu ứng gần như giống nhau. [0060] được sử dụng cho phát minh này có thể được sản xuất bằng phương pháp thông thường, ví dụ, bằng cách cho etylen oxit và/hoặc propylen oxit phản ứng với etylendiamin khi có chất xúc tác. [0061] Hợp chất cộng hợp của etylen oxit và propylen oxit với etylendiamin được sử dụng cho phát minh này được biểu diễn bằng công thức (III) như sau. TRANG 68 [0062] trong đó A và B mỗi nhóm độc lập biểu diễn —CH 2 CH 2 O— hoặc — CH 2 CH(CH 3 )O—, A và B là các nhóm khác nhau, a đến h mỗi nhóm biểu diễn một số nguyên từ 0 đến 50, trong đó ít nhất một trong số a, c, e và g không nhỏ hơn 1, và ít nhất một trong số b, d, f và h không nhỏ hơn 1. Các ký hiệu a đến h có các giá trị nhất định sao cho tổng khối lượng phân tử của hợp chất sẽ là từ 500 đến 20000. Mỗi chuỗi đồng trùng hợp có thể ở dạng khối hoặc cấu trúc ngẫu nhiên. [0063] Khối lượng phân tử của hợp chất và tỷ lệ etylen oxit và propylen oxit có thể được xác định, ví dụ, bằng cách đo giá trị hydroxyl và giá trị amin, hoặc bằng phép đo NMR. [0064] Hợp chất có công thức (III) được biểu diễn tốt nhất bằng công thức (IV) như sau. trong đó a, b, c, d, e, f, g và h mỗi số biểu thị một số nguyên từ 0 đến 50, trong đó ít nhất một trong số a, c, e và g không nhỏ hơn 1, và ít nhất một trong số b, d, f và h không nhỏ hơn 1. [0065] Hợp chất có công thức trên (IV) có trọng lượng phân tử trung bình theo trọng lượng từ 500 đến 20000, tốt nhất là từ 500 đến 5000 và tốt hơn nữa là từ 800 đến 1500. Các ký hiệu từ a đến h có giá trị nhất định sao cho trọng lượng phân tử của hợp chất nói chung sẽ là từ 500 đến 20000, tuy nhiên, từ a đến h tốt nhất là từ 1 đến 10 và đặc biệt là từ 2 đến 4. [0066] Các hợp chất như vậy sẽ không ảnh hưởng xấu đến các vùng hình ảnh, ngay cả khi các giọt nước còn lại được để lại và trở nên cô đặc do bay hơi trong thời gian máy in chạy chậm. Các hợp chất này có thể thay thế isopropyl TRANG 69 alcohol mà không cần kết hợp với dung môi hữu cơ dễ bay hơi, tuy nhiên, có xu hướng làm xấu đi hiện tượng chồng lớp và vết mực (phản hồi mực) trên trục lăn làm ẩm. Bằng cách kết hợp với hợp chất diol được sử dụng cho phát minh này, hợp chất trên sẽ có thể thay thế isopropyl alcohol mà không làm trầm trọng thêm hiện tượng chồng lớp và vết mực (phản hồi mực) trên trục lăn làm ẩm. [0067] Trong hợp chất, tỷ lệ mol thích hợp của etylen oxit và propylen oxit được thêm vào nằm trong khoảng từ 5:95 đến 50:50 và tốt hơn nữa là nằm trong khoảng từ 20:80 đến 35:65 xét về hiệu suất in đủ. [Hợp chất cộng hợp của Ethylene Oxide và Propylene Oxide thành Diethylenetriamine] [0068] Hợp chất cộng hợp của etylen oxit và propylen oxit với diethylenetriamine được sử dụng cho phát minh này có trọng lượng phân tử trung bình thích hợp từ 500 đến 3000, tốt nhất là từ 800 đến 2000 và tốt nhất là khoảng 1000. [0069] Các hợp chất có trọng lượng phân tử như vậy sẽ không ảnh hưởng xấu đến các vùng hình ảnh, ngay cả khi các giọt nước còn lại bị bỏ lại và trở nên cô đặc do bay hơi trong thời gian máy in chạy hết công suất. Các hợp chất này có thể thay thế isopropyl alcohol mà không cần kết hợp với dung môi hữu cơ dễ bay hơi. [0070] Trong hợp chất, tỷ lệ mol thích hợp của etylen oxit và propylen oxit được thêm vào nằm trong khoảng từ 5:95 đến 50:50 và tốt hơn nữa là nằm trong khoảng từ 20:80 đến 35:65 xét về hiệu suất in đủ. [0071] Cấu trúc liên kết của etylen oxit và propylen oxit bao gồm cấu trúc khối trong đó etylen oxit được gắn trước rồi đến propylen oxit, cấu trúc khối trong đó propylen oxit được gắn trước rồi đến etylen oxit và cấu trúc ngẫu TRANG 70 nhiên trong đó etylen oxit và propylen oxit được gắn đồng thời. Tuy nhiên, bất kỳ cấu trúc nào trong số này đều có hiệu ứng gần như giống nhau. [0072] Hợp chất adduct của etylen oxit và propylen oxit với diethylenetriamine được sử dụng cho phát minh này có thể được sản xuất bằng phương pháp thông thường, ví dụ, bằng cách cho etylen oxit và/hoặc propylen oxit phản ứng với diethylenetriamine khi có chất xúc tác. Ngoài ra, người ta có thể làm lạnh diethylenetriamine cùng với acetonitrile trong bồn nước đá và thêm propylen oxit vào đó, và thêm etylen oxit vào đó để phản ứng, sau đó loại bỏ cặn khỏi hỗn hợp bằng cách lọc, qua đó thu được hợp chất adduct của propylen oxit/etylen oxit với diethylenetriamine. [0073] Hợp chất cộng hợp của propylen oxit/etylen oxit với diethylenetriamine được sử dụng cho phát minh này được biểu diễn cụ thể bằng công thức (V) như sau. [0074] trong đó A và B mỗi nhóm độc lập biểu diễn —CH 2 CH 2 O— hoặc — CH 2 CH(CH 3 )O—, A và B là các nhóm khác nhau, a đến j mỗi nhóm biểu diễn một số nguyên không nhỏ hơn 1. Mỗi chuỗi đồng trùng hợp có thể ở dạng khối hoặc cấu trúc ngẫu nhiên. Trong công thức, các ký hiệu a đến j có giá trị nhất định sao cho tổng trọng lượng phân tử của hợp chất sẽ là 500 đến 3000, tuy nhiên, a đến h tốt nhất là từ 1 đến 6 và đặc biệt là từ 2 đến 3. [0075] Khối lượng phân tử của hợp chất và tỷ lệ etylen oxit và propylen oxit có thể được xác định, ví dụ, bằng cách đo giá trị hydroxyl và giá trị amin hoặc bằng phép đo NMR. [0076] TRANG 71 Cồn isopropyl có thể được thay thế bằng hợp chất trên có chứa với lượng từ 0,01 đến 1% theo trọng lượng, tốt nhất là từ 0,05 đến 0,5% theo trọng lượng, trong thành phần dung dịch phun khi sử dụng, và sau đó khả năng in tuyệt vời sẽ được thể hiện. Các hợp chất như vậy sẽ không ảnh hưởng xấu đến các vùng hình ảnh, ngay cả khi các giọt nước còn lại bị bỏ lại và trở nên cô đặc do bay hơi trong thời gian máy in chạy hết công suất sau khi sử dụng dung dịch phun. Tuy nhiên, các hợp chất này có xu hướng làm xấu đi tình trạng chồng lớp và vết mực (phản hồi mực) trên lô làm ẩm. Bằng cách kết hợp với hợp chất diol được sử dụng cho sáng chế này, hợp chất trên sẽ có thể thay thế cồn isopropyl mà không làm trầm trọng thêm tình trạng chồng lớp và vết mực (phản hồi mực) trên lô làm ẩm. [0077] Thành phần dung dịch đài phun nước của phát minh này có thể bao gồm các thành phần khác như sau: (a) tác nhân phụ trợ để cải thiện khả năng thấm ướt (b) hợp chất polyme hòa tan trong nước (c) tác nhân điều chỉnh pH (d) tác nhân tạo phức (e) tác nhân che mùi (f) các chất khác ((i) chất bảo quản, (ii) chất tạo màu, (iii) chất chống ăn mòn, (iv) chất chống tạo bọt, v.v.) [0078] Đối với (a) các tác nhân phụ trợ để cải thiện khả năng thấm ướt, có thể sử dụng chất hoạt động bề mặt và các dung môi khác. Trong số các chất hoạt động bề mặt, ví dụ, chất hoạt động bề mặt anion bao gồm các muối axit béo, abietate, hydroxyalkanesulfonate, alkanesulfonate, dialkyl sulfosuccinate, alkylbenzene sulfonate tuyến tính, alkylbenzene sulfonate phân nhánh, alkylnaphthalenesulfonate, alkylphenoxy polyoxyethylene propylsulfonate, muối polyoxyethylene alkylsulfenyl ether, muối natri N-methyl-N-oleyl taurine, muối dinatri monoamide của axit N-alkyl sulfosuccinic, sulfonate dầu mỏ, dầu thầu dầu sunfat hóa, dầu mỡ bò sunfat hóa, muối este sunfat của axit béo alkyl este, muối este axit sunfat hóa alkyl, muối este sunfat hóa polyoxyethylene alkyl ether, muối este sunfat hóa polyoxyethylene alkyl, muối este sunfat hóa axit béo monoglyceride, muối este sunfat hóa TRANG 72 polyoxyethylene alkylphenyl ether, muối este sunfat hóa polyoxyethylene styrylphenyl ether, este alkyl phosphoric muối, muối este photphoric polyoxyetylen alkyl ete, muối este photphoric polyoxyetylen alkylphenyl ete, sản phẩm xà phòng hóa một phần của copolymer styrene-maleic anhydride, sản phẩm xà phòng hóa một phần của copolymer olefin-maleic anhydride, ngưng tụ formalin naphthalene sulfonate và tương tự. Trong số này, dialkyl sulfosuccinate, muối este axit alkyl sulfuric và alkylnaphthalenesulfonate được sử dụng đặc biệt ưu tiên. [0079] Chất hoạt động bề mặt không ion bao gồm polyoxyethylene alkyl ether, polyoxyethylene alkylphenyl ether, polyoxyethylene polystyrylphenyl ether, polyoxyethylene polyoxypropylene alkyl ether, glycerol fatty acid partial ester, sorbitan fatty acid partial ester, pentaerythritol fatty acid partial ester, propylene glycol mono fatty acid ester, sucrose fatty acid partial ester, polyoxyethylene sorbitan fatty acid partial ester, polyoxyethylene sorbitol fatty acid partial ester, polyethylene glycol fatty acid ester, polyglycerin fatty acid partial ester, polyoxyethylenated castor oil, polyoxyethylene glycerol fatty acid partial ester, fatty acid diethanol amide, N,N-bis-2hydroxy alkylamine, polyoxyethylene alkylamine, triethanolamine fatty acid ester, trialkylamine oxide và các chất tương tự. Ngoài ra, có thể sử dụng chất hoạt động bề mặt flo và chất hoạt động bề mặt silicon. Trong số này, polyoxyethylene alkylphenyl ether và polyoxyethylene-polyoxypropylene block polymer được ưu tiên sử dụng. Ngoài ra, còn có chất hoạt động bề mặt của các dẫn xuất silicon và các dẫn xuất flo. Trong trường hợp sử dụng chất hoạt động bề mặt, hàm lượng thích hợp của chất này không quá 1,0% theo trọng lượng, tốt nhất là 0,001 đến 0,5% theo trọng lượng trong thành phần dung dịch phun khi sử dụng, vì lý do tạo bọt. Ngoài ra, có thể sử dụng kết hợp hai hoặc nhiều chất hoạt động bề mặt. [0080] Đối với tác nhân phụ trợ hoặc dung môi làm ướt khác, có thể sử dụng 3methoxy-3-methyl butanol, 3-methoxybutanol, ethylene glycol, diethylene glycol, triethylene glycol, butylene glycol, hexylene glycol, glycerol, diglycerol, polyglycerin, trimethylolpropane và các chất tương tự. Các dung môi này có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhiều hơn một. Các TRANG 73 dung môi này được sử dụng phù hợp trong phạm vi từ 0,1 đến 3% theo trọng lượng dựa trên tổng trọng lượng của thành phần dung dịch phun khi sử dụng và tốt nhất là từ 0,3 đến 2% theo trọng lượng. [0081] Đối với một tác nhân phụ trợ khác, có thể sử dụng dẫn xuất pyrrolidone được biểu thị bằng công thức chung (VI) sau. trong đó R 4 biểu thị nhóm alkyl có từ 2 đến 12 nguyên tử cacbon. [0082] Các ví dụ cụ thể về dẫn xuất pyrrolidone bao gồm ethyl pyrrolidone, butyl pyrrolidone, pentapyrrolidone, hexapyrrolidone, octylpyrrolidone, laurylpyrrolidone và các dẫn xuất tương tự. Các hợp chất này có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp nhiều hơn một. Trong số các hợp chất này, các hợp chất mà trong đó R 4 biểu thị một alkyl có 6 hoặc nhiều nguyên tử cacbon trong công thức (VI) được ưa chuộng hơn và octylpyrrolidone được ưa chuộng hơn. Hợp chất biểu thị bằng công thức chung (VI) được sử dụng một cách thích hợp với lượng từ 0,0001 đến 1,0% theo trọng lượng dựa trên tổng trọng lượng của thành phần dung dịch phun khi sử dụng và tốt hơn nữa là từ 0,001 đến 0,1% theo trọng lượng. [0083] Thành phần dung dịch đài phun của phát minh này cũng có thể bao gồm ít nhất một thành phần được chọn từ nhóm bao gồm axetilen glycol, axetilen alcohol và hợp chất cộng của etylen oxit và/hoặc propylen oxit vào đó. Các ví dụ cụ thể về các hợp chất nói trên bao gồm 3,5-dimethyl-1-hexyne-3-ol, 2,5-dimethyl-3-hexyne-2,5-diol, 2,4,7,9-tetramethyl-5-decyne-4,7-diol, 3,6dimethyl-4-octyne-3,6-diol, 2-butyne-1,4-diol, 3-methyl-1-butyne-3-ol, hợp chất cộng của etylen oxit và/hoặc propylen oxit vào hợp chất trên, v.v. Trong số này, 3,6-dimethyl-4-octyne-3,6-diol, 2,4,7,9-tetramethyl-5-decyne-4,7diol và hợp chất adduct của 4 đến 10 ethylene oxides với 2,4,7,9tetramethyl-5-decyne-4,7-diol là thích hợp hơn. Các hợp chất này được sử TRANG 74 dụng một cách thích hợp với lượng từ 0,0001 đến 1,0% theo trọng lượng dựa trên tổng trọng lượng của thành phần dung dịch đài phun khi sử dụng và thích hợp hơn là từ 0,001 đến 0,1% theo trọng lượng. [0084] Các hợp chất sau đây có thể được thêm vào thành phần dung dịch phun, nếu muốn, cho mục đích điều chỉnh sức căng bề mặt động, hòa tan, kiểm soát tỷ lệ pha trộn (tỷ lệ nhũ hóa) của mực in vào phạm vi thích hợp hoặc tương tự như vậy: 2-ethyl-1,3-hexanediol, hợp chất cộng của etylen oxit và/hoặc propylen oxit với 2-ethyl-1,3-hexanediol, hợp chất cộng của propylen oxit với trimethylolpropane, hợp chất cộng của propylen oxit với glycerin, hợp chất cộng của propylen oxit với sorbitol, tetrahydrofurfuryl alcohol, v.v. Trong số này, được ưa chuộng làm tác nhân phụ trợ để điều chỉnh sức căng bề mặt động là 2-ethyl-1,3-hexanediol, và được ưa chuộng làm tác nhân hòa tan là tetrahydrofurfuryl alcohol. Là một tác nhân kiểm soát tốc độ nhũ hóa mực, một hợp chất cộng của ethylene oxide với 2-ethyl-1,3-hexanediol, một hợp chất cộng của propylen oxide với trimethylolpropane và các hợp chất tương tự có thể được sử dụng tốt hơn. Các hợp chất này có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhiều hơn một hợp chất. Các hợp chất này được sử dụng một cách thích hợp với lượng từ 0,01 đến 7% theo trọng lượng dựa trên tổng trọng lượng của thành phần dung dịch phun khi sử dụng và tốt hơn là từ 0,05 đến 5% theo trọng lượng. [0085] Hợp chất polyme tan trong nước (b) được sử dụng cho thành phần dung dịch phun của phát minh này bao gồm các sản phẩm tự nhiên và các sản phẩm biến tính của chúng như gôm arabic, các dẫn xuất tinh bột (ví dụ dextrin, dextrin phân giải bằng enzym, dextrin phân giải bằng enzym hydroxypropylat, tinh bột cacboxymethylat, tinh bột axit phosphoric, tinh bột octenylsuccinat), alginat, các dẫn xuất cellulose (ví dụ carboxymethyl cellulose, carboxyethyl cellulose, methyl cellulose, hydroxypropyl cellulose, hydroxypropylmethyl cellulose, hydroxyethyl cellulose) và các sản phẩm tương tự, và các sản phẩm tổng hợp như polyethylene glycol và copolyme của chúng, polyvinyl alcohol và các dẫn xuất của chúng, polyvinylpyrrolidone, polyacrylamide và copolyme của chúng, axit polyacrylic và copolyme của chúng, copolyme vinyl methyl ether/maleic TRANG 75 anhydride, copolyme vinyl acetate/maleic anhydride, axit polystyrene sulfonic và copolyme của chúng, và các sản phẩm tương tự. Hàm lượng thích hợp của polyme hòa tan trong nước là 0,0001 đến 0,1% theo trọng lượng, tốt nhất là 0,0005 đến 0,05% theo trọng lượng, dựa trên tổng trọng lượng của thành phần dung dịch phun khi sử dụng. [0086] Trong số các hợp chất polyme hòa tan trong nước được liệt kê ở trên, polyvinylpyrrolidone, hydroxypropyl cellulose và hydroxypropylmethyl cellulose được ưu tiên sử dụng cho phát minh này. [0087] Polyvinylpyrrolidone có trong thành phần dung dịch đài phun nước đề cập đến một homopolymer của vinylpyrrolidone. Phù hợp, trọng lượng phân tử của polyvinylpyrrolidone là 200 đến 3.000.000, tốt nhất là 300 đến 500.000 và tốt hơn nữa là 300 đến 100.000. Trọng lượng phân tử từ 300 đến 30.000 được ưu tiên đặc biệt. [0088] Các polyvinylpyrrolidone này có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhiều loại có trọng lượng phân tử khác nhau. Ngoài ra, chúng có thể được kết hợp với polyvinylpyrrolidone có trọng lượng phân tử thấp, chẳng hạn như oligomer vinylpyrrolidone có độ trùng hợp từ 3 đến 5. [0089] Polyvinylpyrrolidone như vậy có bán trên thị trường. Ví dụ, polyvinylpyrrolidone ở các cấp độ khác nhau, chẳng hạn như K-15, K-30, K-60, K-90, K-120 và các loại tương tự từ ISP Co., Ltd. có thể được sử dụng hữu ích. [0090] Hàm lượng polyvinylpyrrolidone thích hợp trong thành phần dung dịch phun khi sử dụng là 0,001 đến 0,3% theo trọng lượng và tốt nhất là 0,005 đến 0,2% theo trọng lượng. [0091] TRANG 76 Thành phần dung dịch đài phun nước của phát minh này tốt nhất bao gồm ít nhất một hợp chất được chọn từ đường. Đường để sử dụng có thể được chọn từ monosaccharide, disacarit, oligosaccharide và rượu đường của chúng có thể thu được bằng cách hydro hóa. Ví dụ về đường bao gồm D-erythrose, Dthreose, D-arabinose, D-ribose, D-xylose, D-erythro-pentulose, D-alulose, D-galactose, D-glucose, D-mannose, D-talose, β-D-fructose, α-L-sorbose, 6deoxy-D-glucose, D-glycero-D-galactose, α-D-allulo-heptulose, β-D-altro-3heptulose, saccharose, lactoza, D-maltose, isomaltose, inulobiose, maltotriose, D,L-arabite, ribitol, xylitol, D,L-sorbitol, D,L-mannite, D,L-idit, D,L-talite, dulcite, allodulcite, maltitol, xirô tinh bột khử và các loại tương tự. Những loại đường này có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp nhiều loại. [0092] Hàm lượng thích hợp của ít nhất một hợp chất được chọn từ đường là 0,01 đến 1% theo trọng lượng và tốt nhất là 0,1 đến 0,8% theo trọng lượng trong thành phần dung dịch phun khi sử dụng. [0093] Axit hữu cơ và/hoặc vô cơ tan trong nước và/hoặc muối của chúng có thể được sử dụng làm chất điều chỉnh pH (c) được sử dụng cho thành phần dung dịch phun của phát minh này. Các hợp chất này hoạt động như chất điều chỉnh pH hoặc chất đệm trong dung dịch phun và có thể được sử dụng hiệu quả để khắc hoặc xử lý chống ăn mòn đầy đủ. Axit hữu cơ được ưu tiên bao gồm, ví dụ, axit citric, axit ascorbic, axit malic, axit tartaric, axit lactic, axit axetic, axit gluconic, axit axetic, axit hydroxyacetic, axit oxalic, axit malonic, axit levulinic, axit sulfanilic, axit p-toluenesulfonic, axit phytic, axit phosphonic hữu cơ và tương tự. Axit vô cơ bao gồm axit phosphoric, axit nitric, axit sulfuric, axit polyphosphoric và tương tự. Ngoài ra, có thể ưu tiên sử dụng muối kim loại kiềm, muối kim loại kiềm thổ, muối amoni hoặc muối amin hữu cơ của các axit hữu cơ và/hoặc vô cơ này, và các axit hữu cơ và vô cơ và muối của chúng có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhiều loại. Lượng chất điều chỉnh pH như vậy được thêm vào thành phần dung dịch phun của sáng chế này tốt nhất là trong khoảng từ 0,001 đến 0,3% theo trọng lượng. Mặc dù chất điều chỉnh pH được ưu tiên sử dụng trong điều kiện axit có độ pH từ 3-7 trong thành phần dung dịch phun, nhưng nó TRANG 77 cũng có thể được sử dụng trong điều kiện kiềm có độ pH từ 7-11 khi có mặt hydroxit kim loại kiềm, axit photphoric, muối kim loại kiềm, muối kim loại kiềm của axit cacbonic, silicat và các chất tương tự. [0094] Thành phần dung dịch đài phun của phát minh này có thể bao gồm thêm tác nhân tạo phức (d). Thành phần dung dịch đài phun thường được pha chế bằng cách pha loãng dung dịch cô đặc với nước máy, nước giếng hoặc tương tự, và các thành phần của nước máy hoặc nước giếng như ion canxi có thể ảnh hưởng xấu đến việc in và làm cho vật liệu in dễ bị ố. Trong điều kiện như vậy, việc bổ sung tác nhân tạo phức có thể giải quyết vấn đề trên. Các ví dụ về tác nhân tạo phức được ưa thích bao gồm axit ethylenediaminetetraacetic và muối kali và muối natri của chúng; axit diethylenetriaminepentaacetic và muối kali và muối natri của chúng; axit triethylenetetraminehexaacetic và muối kali và muối natri của chúng; axit hydroxyethylethylenediaminetriacetic và muối kali và muối natri của chúng; axit nitrilotriacetic và muối natri của chúng; axit phosphonic hữu cơ như axit 1-hydroxy ethane-1,1-diphosphonic và muối kali và muối natri của chúng; aminotri(axit methylenephosphonic) và muối kali và muối natri của chúng, và axit phosphonoalkanetricarboxylic. Muối amin hữu cơ cũng có hiệu quả thay cho muối natri hoặc muối kali của các tác nhân tạo phức ở trên. Trong số này, các tác nhân tạo phức ổn định trong thành phần dung dịch phun khi sử dụng và không ức chế tính chất in được lựa chọn. Hàm lượng thích hợp của tác nhân tạo phức là 0,001 đến 0,5% theo trọng lượng và tốt nhất là 0,002 đến 0,25% theo trọng lượng trong thành phần dung dịch phun khi sử dụng. [0095] Các chất che mùi (e) bao gồm các este thường được biết đến là được sử dụng làm hương liệu. Các ví dụ về chất che mùi bao gồm các chất được biểu thị bằng công thức (VII) như sau. R 2 —COOR 3 (VII) [0096] TRANG 78 Trong hợp chất có công thức (VII), R 2 là nhóm C 1 -C 15 alkyl, alkenyl hoặc aralkyl hoặc nhóm phenyl; trong trường hợp R 2 là alkyl hoặc alkenyl, số nguyên tử cacbon trong đó tốt nhất là từ 4 đến 8; trong trường hợp R 2 biểu diễn nhóm alkyl, alkenyl hoặc aralkyl, nhóm có thể là tuyến tính hoặc phân nhánh. Lưu ý rằng nhóm alkenyl thích hợp có một liên kết đôi. Nhóm aralkyl bao gồm nhóm benzyl, nhóm phenylethyl và tương tự. Một hoặc nhiều nguyên tử hydro của nhóm alkyl, alkenyl hoặc aralkyl hoặc nhóm phenyl được biểu diễn bởi R 2 có thể tùy chọn được thay thế bằng nhóm hydroxy hoặc nhóm acetyl. R 3 là nhóm C 3 -C 10 alkyl, aralkyl hoặc phenyl và có thể là tuyến tính hoặc phân nhánh; trong trường hợp R 3 là nhóm alkyl, số nguyên tử cacbon trong đó tốt nhất là từ 3 đến 9. Nhóm aralkyl bao gồm nhóm benzyl, nhóm phenylethyl và tương tự như vậy. [0097] Các ví dụ cụ thể về tác nhân che mùi (e) có thể được sử dụng bao gồm este của axit formic, axit axetic, axit propionic, axit butyric, axit isobutyric, axit 2-ethylbutyric, axit valeric, axit isovaleric, axit 2-methylvaleric, axit hexanoic (axit caproic), axit 4-methylpentanoic (axit isohexan), axit 2hexenoic, axit 4-pentene, axit heptanoic, axit 2-methylheptane, axit octanoic (axit caprylic), axit nonanoic, axit decanoic (axit capric), axit 2-decenoic, axit lauric hoặc axit myristic. Ngoài ra, các tác nhân che mùi cũng bao gồm este acetoacetic như benzyl phenylacetate, ethyl acetoacetate và 2-hexyl acetoacetate. Trong số này, n-pentyl acetate, isopentyl acetate, n-butyl butyrate, n-pentyl butyrate và isopentyl butyrate được ưa chuộng và đặc biệt, n-butyl butyrate, n-pentyl butyrate và isopentyl butyrate được ưa chuộng. Hàm lượng thích hợp của este axit như vậy trong thành phần dung dịch phun là 0,0001 đến 10% theo trọng lượng và tốt nhất là 0,001 đến 1% theo trọng lượng, dựa trên tổng trọng lượng của thành phần dung dịch phun khi sử dụng. Các chất che mùi như vậy có thể cải thiện môi trường làm việc và được sử dụng kết hợp với vanillin, etyl vanillin và các chất tương tự. [0098] Chất bảo quản (f)(i) được sử dụng cho thành phần dung dịch phun của phát minh này bao gồm phenol hoặc các dẫn xuất của chúng, formalin, các dẫn xuất imidazole, natri dehydroacetate, các dẫn xuất 4-isothiazolin-3-one, các dẫn xuất benztriazole, các dẫn xuất của amidine hoặc guanidine, muối amoni TRANG 79 bậc bốn, pyridine, các dẫn xuất của quinoline hoặc guanidine, các dẫn xuất của diazine hoặc triazole, các dẫn xuất của oxazol hoặc oxazin, các rượu bromotitro như bromonitro propanol, 2,2-dibromo-2-nitro ethanol, 3-bromo3-nitro pentane 2,4-diol, v.v. Lượng chất bảo quản được thêm vào phải thể hiện tác dụng ổn định của nó đối với vi khuẩn, nấm, nấm men và các loại tương tự, và thay đổi tùy theo loại vi khuẩn, nấm và nấm men, tuy nhiên, tốt nhất là từ 0,001 đến 1,0% theo trọng lượng so với thành phần dung dịch phun khi sử dụng. Tốt hơn nữa là sử dụng chất bảo quản kết hợp nhiều hơn một chất có hiệu lực chống lại nhiều loại vi khuẩn, nấm và nấm men. [0099] Chất tạo màu thực phẩm và các chất tương tự có thể được ưu tiên sử dụng cho sáng chế này như chất tạo màu (f)(ii). Các ví dụ về chất tạo màu bao gồm CI số 19140 và 15985 cho sắc tố vàng; CI số 16185, 45430, 16255, 45380 và 45100 cho sắc tố đỏ; CI số 42640 cho sắc tố tím; CI số 42090 và 73015 cho sắc tố xanh; CI số 42095 cho sắc tố xanh lá cây; và các chất tương tự. Chất chống ăn mòn (f)(iii) có thể được sử dụng cho sáng chế này bao gồm benzotriazole, 5-methylbenzotriazole, axit thiosalicylic, benzimidazole và các dẫn xuất của chúng và các chất tương tự. Các chất chống tạo bọt silicon được ưu tiên sử dụng cho các chất chống tạo bọt (f)(iv) có thể được sử dụng cho sáng chế này. Trong số này, có thể sử dụng loại phân tán nhũ tương hoặc loại hòa tan. [0100] Thành phần dung dịch đài phun nước cân bằng theo sáng chế là nước. Các thành phần dung dịch đài phun nước thường được cô đặc trong các sản phẩm thương mại trên cơ sở thương mại. Theo đó, dung dịch cô đặc có thể thu được dưới dạng dung dịch nước với các thành phần trên được hòa tan trong đó bằng cách sử dụng nước, tốt nhất là nước khử muối, tức là nước tinh khiết. Dung dịch cô đặc được sử dụng bằng cách pha loãng khoảng 10-200 lần với nước máy, nước giếng hoặc tương tự, do đó tạo thành thành phần dung dịch đài phun nước khi sử dụng. [0101] Thành phần dung dịch phun của phát minh này có thể được sử dụng cho nhiều loại bản in thạch bản và đặc biệt, có thể được sử dụng tốt nhất cho các TRANG 80 bản in thạch bản có thể thu được bằng cách phơi sáng hình ảnh và tráng một bản in thạch bản nhạy sáng (một bản in được nhạy sáng sơ bộ và được gọi là bản PS) lên bề mặt của giá đỡ tấm nhôm. Các ví dụ ưa thích về các tấm PS như vậy bao gồm một tấm trong đó một lớp nhạy sáng bao gồm hỗn hợp với nhựa diazo (muối của sản phẩm ngưng tụ của p-diazodiphenylamine và paraformaldehyde) và shellac được chế tạo trên một tấm nhôm như mô tả trong Bằng sáng chế GB số 1, 350, 521, một tấm trong đó một lớp nhạy sáng bao gồm hỗn hợp với nhựa diazo và một polyme chứa đơn vị hydroxyethylmethacrylate hoặc đơn vị hydroxyethyl acrylate là đơn vị lặp lại chính được chế tạo trên một tấm nhôm như mô tả trong Bằng sáng chế GB số 1, 460, 978 và 1, 505, 739, một tấm PS làm việc âm trong đó một polyme nhạy sáng chứa nhóm dimethylmaleimide được chế tạo trên một tấm nhôm như mô tả trong JP H2-236552 A và JP H4-274429 A, và một tấm PS làm việc dương trong đó một polyme nhạy sáng bao gồm hỗn hợp với oquinonediazido sản phẩm nhạy sáng và nhựa phenol novolac được chế tạo trên tấm nhôm như mô tả trong JP S50-125806 A. Hơn nữa, thành phần dung dịch phun có thể được sử dụng cho tấm PS làm việc dương đã qua xử lý đốt. [0102] Trong thành phần tạo thành lớp nhạy sáng ở trên, một loại nhựa hòa tan trong kiềm khác với nhựa novolac hòa tan trong kiềm có thể được kết hợp, nếu cần thiết. Một loại nhựa hòa tan trong kiềm như vậy bao gồm ví dụ, đồng trùng hợp axit styrene-acrylic, đồng trùng hợp axit metylmethacrylatemathacrylic, nhựa polyurethane hòa tan trong kiềm, nhựa vinyl hòa tan trong kiềm như được tiết lộ trong JP KOKOKU (công bố đơn xin cấp bằng sáng chế đã được kiểm tra) số Sho 52-28401 và nhựa polybutyral hòa tan trong kiềm. Hơn nữa, một tấm PS trong đó một lớp nhạy sáng của thành phần quang trùng hợp có thể trùng hợp được bằng quang được cung cấp trên một tấm nhôm như được tiết lộ trong Bằng sáng chế Hoa Kỳ số 4.072.528 và 4.072.527, và một tấm PS trong đó một lớp nhạy sáng bao gồm hỗn hợp của một hợp chất azide và một loại polyme hòa tan trong nước được cung cấp trên một tấm nhôm như được tiết lộ trong Bằng sáng chế GB số 1.235.281 và 1.495.861 là thích hợp hơn. [0103] TRANG 81 Hơn nữa, thành phần dung dịch phun của sáng chế hiện tại có thể được áp dụng tốt nhất cho một tấm CTP, đã được chiếu trực tiếp bằng tia laser khả kiến hoặc hồng ngoại, và các ví dụ về chúng bao gồm một tấm kỹ thuật số loại quang trùng hợp như LP-NX do FUJI FILM Corporation sản xuất, một tấm kỹ thuật số loại nhiệt dương như LH-PI do FUJI FILM Corporation sản xuất, một tấm thuộc loại xử lý trên máy in sẽ được tráng bằng dung dịch phun và mực, như ET-S do FUJI FILM Corporation sản xuất, và một tấm kỹ thuật số loại nhiệt âm như LH-NI do FUJI FILM Corporation sản xuất, v.v. VÍ DỤ [0104] Phát minh hiện tại sẽ được mô tả chi tiết hơn thông qua các ví dụ. Cần lưu ý rằng % được sử dụng ở đây chỉ % theo trọng lượng trừ khi được đề cập khác. Ví dụ 1-8 và Ví dụ so sánh 1-9 [0105] Nhiều thành phần dung dịch đài phun nước đã được chuẩn bị theo cách chuẩn bị sau đây theo cùng một cách, ngoại trừ việc thay đổi hợp chất diol như thể hiện trong Bảng 1 bên dưới, nhưng sử dụng trọng lượng bằng nhau của chúng. Các đơn vị được sử dụng trong quá trình chuẩn bị là gam và mỗi giá trị biểu thị một lượng được thêm vào khi nước cuối cùng được thêm vào đến 100 gam, do đó phù hợp với % theo trọng lượng. [0106] Công thức của thành phần dung dịch đài phun nước (dung dịch làm việc) sử dụng Thành phần Lượng phụ gia TRANG 82 Propylene glycol mono-n-butyl ete 0,5 g Propylen glycol 0,5 g Hợp chất diol được thể hiện trong Bảng 1 0,3 g Cacboxy metyl xenluloza 0,01 g Amoni nitrat 0,05 g Axit xitric 0,02 g 2,2-Dibromo-2-nitroethanol 0,002 g 2-Methyl-5-chloro-4-isothiazolin-3-one 0,002 g Benzotriazol 0,001 g Nước lên đến 100 g tổng cộng [0107] Các thử nghiệm sau đây được tiến hành đối với từng thành phần dung dịch phun sau khi in 20.000 bản bằng máy in Lithron26 của Tập đoàn KOMORI với loại mực: Super LeoEcoo SOY Black L, TOYO INK MFG CO., LTD., giấy tráng phủ siêu nhẹ: OK topcoat+ của OJI Paper Co., Ltd. và bản kẽm: PN-V của Tập đoàn FUJI FILM. (1) Đánh giá cọc chăn [0108] Sau khi in ở trên, lớp chăn được gỡ bỏ và chiều cao của lớp phủ trên một khu vực không phải hình ảnh được đo bằng máy đo độ nhám bề mặt dạng bút stylus (SURFCORDER) để đánh giá lớp phủ chăn như một giá trị tương đối với dung dịch phun không có hợp chất diol. Giá trị càng nhỏ thì chiều cao của lớp phủ càng nhỏ, do đó được ưu tiên. TRANG 83 (2) Tỷ lệ giảm giá trị chấm [0109] Giá trị chấm trong vùng hình ảnh có giá trị chấm là 40% được đo cho các vấn đề in tại điểm bắt đầu và điểm kết thúc khi in 20000 bản bằng máy đo mật độ phản xạ D19C từ Gretag Macbeth, qua đó tính toán tỷ lệ giảm giá trị chấm tại điểm kết thúc khi in so với điểm bắt đầu. Tỷ lệ giảm = (giá trị điểm tại điểm bắt đầu - giá trị điểm tại điểm kết thúc) / giá trị điểm tại điểm bắt đầu × 100 Các giá trị nhỏ hơn cho biết quá trình in được thực hiện ổn định hơn, do đó được ưa chuộng hơn. (3) Vết mực (Phản hồi mực) trên con lăn làm ẩm [0110] Sau khi hoàn tất quá trình in, vết mực trên lô làm ẩm được quan sát trực quan và xếp hạng như sau ◯. . . vết mực nhỏ Δ . . . vết mực nhẹ X . . . vết mực rõ ràng [0111] Kết quả được thể hiện ở Bảng 1. BẢNG 1 (Các ký hiệu của hợp chất diol được sử dụng trong các ví dụ tương ứng đối với những chất gắn liền với các hợp chất minh họa được mô tả ở trên.) Sự giảm bớt Vết mực TRANG 84 Cái chăn Diol tỷ lệ của TRÊN giá trị chấm làm giảm độ ẩm Ví dụ hợp chất đóng cọc (%) con lăn Nhận xét Ví dụ 1 (1) 74 17 Δ 2 (2) 78 19 Δ 3 (5) 69 15 Δ 4 (6) 66 13 Δ 5 (7) 52 7 ◯ 6 (10) 50 5 ◯ 7 (14) 65 14 Δ 8 (15) 78 20 Δ So sánh Không có phụ gia 100 30 Δ 2 1,4-butanediol 100 30 Δ 3 1,8-octanediol 100 28 Δ 4 2-etyl-1,3- 96 28 Δ 96 27 Δ Ví dụ 1 hexanediol 5 1,9-nonanediol TRANG 85 6 1,10- 100 30 Δ nghèo độ hòa tan decanediol 7 So sánh 100 28 X 98 28 X 98 26 X hợp chất (1) 8 So sánh hợp chất (2) 9 So sánh hợp chất (3) Hợp chất so sánh (1): Hợp chất so sánh (2): Hợp chất so sánh (3): đó là hợp chất trong đó ethylene oxide được thêm vào với một diol được mô tả trong JP H02-48996 A. TRANG 86 [0112] Kết quả thể hiện trong Bảng 1 cho thấy việc bổ sung hợp chất diol theo sáng chế này ức chế hiện tượng chồng lớp và làm giảm tỷ lệ giảm giá trị chấm. Hơn nữa, việc bổ sung hợp chất diol không làm trầm trọng thêm vết mực (phản hồi mực) trên con lăn làm ẩm. Trong số các hợp chất diol được sử dụng cho sáng chế này, hợp chất (7) và (10) được ưa chuộng hơn cả. [0113] Trong Ví dụ 5 và 6, một dung dịch cô đặc có nồng độ cao hơn dung dịch làm việc từ 50-200 lần đã được chuẩn bị và dung dịch làm việc được chuẩn bị bằng cách pha loãng dung dịch cô đặc với nước máy và được sử dụng để xác nhận có thể quan sát thấy cùng một hiệu ứng như mô tả ở trên. Ví dụ 9-18 [0114] Thí nghiệm hoàn toàn giống như mô tả trong Ví dụ 6 đã được tiến hành ngoại trừ việc propylene glycol mono-n-butyl ether và propylene glycol được thay thế bằng các hợp chất được thể hiện trong Bảng 2 bên dưới. Trong Ví dụ 18, isopropyl alcohol đã được sử dụng và lượng isopropyl alcohol được thêm vào đã tăng lên gấp 15 lần (tức là lên 7,5%) so với lượng các hợp chất được sử dụng trong các ví dụ khác (0,5%). Trong Ví dụ 18, ngay cả khi thể tích nước được tăng lên, các vết bẩn vẫn có xu hướng xảy ra do mực bám vào các vùng không phải hình ảnh trên vật liệu in, trừ khi lượng isopropyl alcohol được thêm vào được tăng lên. Các kết quả được thể hiện trong Bảng 2. TRANG 87 BẢNG 2 Bán tại- Sự giảm bớt Vết mực trên là- Cái chăn tỷ lệ chấm xin vui lòng Hợp chất 1 Hợp chất 2 đóng cọc giá trị (%) 6 Propylen Propylen glycol glycol làm giảm độ ẩm con lăn 50 5 ◯ 56 8 ◯ 55 7 ◯ 60 10 ◯ đơn âm-nete butyl 9 Etylen Propylen glycol đơn glycol n-butyl ête 10 Etylen Propylen glycol đơn glycol ete t-butyl 11 Etylen Propylen glycol đơn glycol isopropyl TRANG 88 ête 12 Etylen Propylen glycol đơn glycol 70 14 Δ 72 15 Δ 55 8 ◯ 57 8 ◯ 70 15 Δ n-hexan ête 13 3-methoxy3- Propylen metyl-1- glycol butanol 14 Propylen Dipropylen glycol đơn glycol n-butyl ête 15 Propylen Tripropylen glycol đơn glycol n-butyl ête 16 Propylen Dietilen glycol đơn glycol TRANG 89 n-butyl ête 17 Propylen Không có phụ gia 72 16 Δ Không có phụ gia 65 13 Δ glycol đơn n-butyl ête 18 Isopropyl rượu bia (7,5g/100g) [0115] Trong Bảng 2, hợp chất công thức (I) được sử dụng trong Ví dụ 6, 9-11 và 14-17 trong khi hợp chất công thức (II) được sử dụng trong Ví dụ 6 và 9-15. Những kết quả này chỉ ra rằng tác dụng của việc bổ sung hợp chất diol trở nên nổi bật khi hợp chất công thức (I) và công thức (II) được sử dụng kết hợp. [0116] Một dung dịch cô đặc có nồng độ cao hơn 50 lần so với dung dịch làm việc đã được chuẩn bị và người ta thấy rằng việc sử dụng các hợp chất có công thức (I) và công thức (II) có ưu điểm hơn về độ ổn định độ hòa tan. Ví dụ 19 đến 25 [0117] Thí nghiệm hoàn toàn giống như mô tả trong Ví dụ 5 đã được tiến hành ngoại trừ việc ete mono-n-butyl propylene glycol và propylene glycol được TRANG 90 thay thế bằng các hợp chất được thể hiện trong Bảng 3 bên dưới. Kết quả được thể hiện trong Bảng 3. BẢNG 3 Bán tạilà- Sự giảm bớt Vết mực trên Cái chăn tỷ lệ chấm xin vui lòng Hợp chất 1 Hợp chất 2 đóng cọc giá trị (%) 5 Propylen Propylen glycol đơn glycol làm giảm độ ẩm con lăn 52 7 ◯ 50 6 ◯ 48 5 ◯ 60 10 Δ n-butyl ête 19 Etylen Propylen glycol đơn glycol n-butyl ête 20 Etylen Propylen glycol đơn glycol ete t-butyl 21 3-methoxy3- Propylen TRANG 91 metyl-1- glycol butanol Không có phụ gia 22 Propylen 64 11 Δ 52 7 ◯ 55 8 ◯ 64 12 Δ glycol 23 Etylen Dipropylen glycol đơn glycol ete t-butyl 24 Etylen Tripropylen glycol đơn glycol ete t-butyl 25 Etylen Dietilen glycol đơn glycol ete t-butyl Ví dụ thực nghiệm 1 [0118] Thí nghiệm in ấn tương tự như mô tả trong Ví dụ 6 đã được tiến hành ngoại trừ lượng hợp chất diol (10) cần thêm vào đã được thay đổi. Kết quả là, người ta phát hiện ra rằng lượng phụ gia của nó tốt nhất là không ít hơn 0,05%, tốt hơn nữa là không ít hơn 0,1% và đặc biệt tốt nhất là không ít hơn 0,2%. Mặt khác, lượng phụ gia vượt quá 1% có xu hướng làm trầm trọng thêm một chút vết mực (phản hồi mực) trên con lăn làm ẩm. TRANG 92 Ví dụ thực nghiệm 2 [0119] Trong Ví dụ 6, lượng hợp chất diol (10) được thêm vào đã giảm xuống lần lượt là 99%, 97%, 90% và 50% và mỗi lần giảm 1%, 3%, 10% và 50% biểu thị hợp chất diol (7). Kết quả là, hiệu ứng tương tự đã được quan sát thấy như trong Ví dụ 6. Ví dụ thực nghiệm 3 [0120] Thí nghiệm in ấn tương tự như mô tả trong Ví dụ 5 đã được tiến hành ngoại trừ lượng hợp chất diol (7) cần thêm vào đã được thay đổi. Kết quả là, người ta phát hiện ra rằng lượng phụ gia của nó tốt nhất là không ít hơn 0,05%, tốt hơn nữa là không ít hơn 0,1% và đặc biệt tốt nhất là không ít hơn 0,2%. Mặt khác, lượng phụ gia vượt quá 1% có xu hướng làm trầm trọng thêm một chút phản hồi mực in-vết mực trên con lăn làm ẩm. Ví dụ 26 đến 31 [0121] Thí nghiệm in ấn giống như mô tả trong Ví dụ 13 đã được tiến hành ngoại trừ việc thêm dẫn xuất pyrrolidone hoặc dẫn xuất axetilen được thể hiện trong Bảng 4 với nồng độ 0,01%. Kết quả thu được được thể hiện trong Bảng 4. TRANG 93 BẢNG 4 Sự giảm bớt Vết mực tỷ lệ của Bài thi- TRÊN Dẫn xuất pyrrolidone/ Cái chăn giá trị chấm làm giảm độ ẩm xin vui lòng dẫn xuất axetilen đóng cọc (%) con lăn 13 Không có phụ gia 72 15 Δ 26 Butylpyrrolidon 68 13 Δ 27 Octylpyrrolidon 52 7 ◯ 28 3,5-Dimethyl-1-hexyne-3- 68 12 Δ 55 9 ◯ 58 10 ◯ 53 8 ◯ ol 29 3,6-Dimetyl-4-octyne-3,6diol 30 2,4,7,9-Tetramethyl-5decyne-4,7-diol 31 Hợp chất cộng của 4 oxit etylen thành 2,4,7,9tetramethyl-5-decyne-4,7diol TRANG 94 Ví dụ 32 đến 37 [0122] Thí nghiệm in ấn giống như mô tả trong Ví dụ 22 đã được tiến hành ngoại trừ việc thêm dẫn xuất pyrrolidone hoặc dẫn xuất axetilen được thể hiện trong Bảng 5 với nồng độ 0,01%. Kết quả thu được được thể hiện trong Bảng 5. BẢNG 5 Sự giảm bớt Vết mực tỷ lệ của Bài thi- TRÊN Dẫn xuất pyrrolidone/ Cái chăn giá trị chấm làm giảm độ ẩm xin vui lòng dẫn xuất axetilen đóng cọc (%) con lăn 22 Không có phụ gia 64 11 Δ 32 Butylpyrrolidon 61 10 Δ 33 Octylpyrrolidon 50 6 ◯ 34 3,5-Dimethyl-1-hexyne-3- 60 10 Δ 52 7 ◯ 56 9 ◯ ol 35 3,6-Dimetyl-4-octyne-3,6diol 36 2,4,7,9-Tetramethyl-5- TRANG 95 decyne-4,7-diol 37 Hợp chất cộng của 4 52 7 ◯ oxit etylen đến ,4,7,9tetramethyl-5-decyne-4,7diol Ví dụ 38 đến 42 [0123] Trong công thức thành phần dung dịch đài phun nước sau đây, hợp chất được biểu thị bằng công thức (IV) hoặc (V) được thay đổi như thể hiện trong Bảng 6, sau đó các thành phần dung dịch đài phun nước khác nhau được chuẩn bị. [0124] Công thức của thành phần dung dịch đài phun nước (dung dịch làm việc) sử dụng Thành phần Lượng phụ gia Hợp chất có công thức (IV) hoặc (V) 0,06 g Polyvinylpyrrolidon K-15 0,01 g Carboxymethylcellulose 0,05 g Hợp chất diol (7) 0,40 g TRANG 96 D-sorbitol 0,40 g Amoni nitrat 0,02 g Axit gluconic 0,02 g 2,2-dibromo-2-nitroethanol 0,002 g 2-methyl-5-chloro-4-isothiazolin-3-one 0,002 g Nước lên đến 100 g tổng cộng [0125] Sử dụng các thành phần dung dịch đài phun nước này, thí nghiệm tương tự đã được tiến hành như mô tả trong Ví dụ 1. Kết quả được thể hiện trong Bảng 6. BẢNG 6 Hợp chất Sự giảm bớt Vết mực tỷ lệ của TRÊN của công thức Cái chăn giá trị chấm làm giảm độ ẩm Ví dụ (IV) hoặc (V) đóng cọc (%) con lăn 38 Hợp chất của công thức 55 7 ◯ (IV) (a = c = e = g = 1, TRANG 97 b = d = f = h = 3, khối lượng phân tử: 977) 39 Hợp chất của công thức 68 13 Δ 57 9 ◯ 70 15 Δ 57 10 ◯ (IV) (a = c = e = g = 1, b = d = f = h = 1, khối lượng phân tử: 513) 40 Hợp chất của công thức (IV) (a = c = e = g = 2, b = d = f = h = 4, khối lượng phân tử: 1386) 41 Hợp chất của công thức (IV) (a = c = e = g = 5, b = d = f = h = 15, khối lượng phân tử: 4470) 42 Hợp chất của công thức TRANG 98 (Tiếng Việt) (a = c = e = g = 1, b = d = f = h = 3, khối lượng phân tử: 1195) [0126] Ngoài ra, trong Ví dụ 38, khi ete mono-n-butyl propylene glycol và propylene glycol được thêm vào với lượng tương ứng là 0,3 g, hiệu quả tuyệt vời đã được xác định. Ví dụ 43 đến 47 [0127] Thí nghiệm tương tự được tiến hành như mô tả trong Ví dụ 38 đến 42 ngoại trừ hợp chất diol (7) được thay thế bằng hợp chất diol (10). Kết quả được thể hiện trong Bảng 7. BẢNG 7 Hợp chất Sự giảm bớt Vết mực tỷ lệ của TRÊN của công thức Cái chăn giá trị chấm làm giảm độ ẩm Ví dụ (IV) hoặc (V) đóng cọc (%) con lăn 43 Hợp chất của công thức 52 7 ◯ (IV) TRANG 99 (a = c = e = g = 1, b = d = f = h = 3, khối lượng phân tử: 977) 44 Hợp chất của công thức 60 10 Δ 50 6 ◯ 58 10 Δ (IV) (a = c = e = g = 1, b = d = f = h = 1, khối lượng phân tử: 513) 45 Hợp chất của công thức (IV) (a = c = e = g = 2, b = d = f = h = 4, khối lượng phân tử: 1386) 46 Hợp chất của công thức (IV) (a = c = e = g = 5, b = d = f = h = 15, khối lượng phân tử: 4470) TRANG 100 Hợp chất của công thức 47 50 7 ◯ (Tiếng Việt) (a = c = e = g = 1, b = d = f = h = 3, khối lượng phân tử: 1195) [0128] Như thấy từ các kết quả thể hiện trong Bảng 6 và 7, trong thành phần dung dịch đài phun không chứa thành phần dung môi dễ bay hơi, bao gồm hợp chất được biểu thị bằng công thức (IV) hoặc (V), việc bổ sung hợp chất diol theo sáng chế hiện tại cho phép in ổn định mà không làm hỏng lớp phủ chăn và vết mực (phản hồi mực) trên lô làm ẩm. Trong thành phần không chứa thành phần dung môi dễ bay hơi, hợp chất diol (10) có độ hòa tan tương đối cao, thể hiện hiệu ứng thuận lợi hơn. Thí nghiệm Ví dụ 4 [0129] Thí nghiệm in ấn giống như mô tả trong Ví dụ 6 đã được thực hiện, ngoại trừ việc mực được sử dụng cho thí nghiệm đã được thay đổi như sau để xác nhận hiệu quả của thành phần dung dịch phun của phát minh. CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT MỰC TOYO Super LeoEcoo ĐẬU NÀNH: xanh lơ, đỏ tía, vàng LeoEcoo ĐẬU NÀNH: đen, lục lam, đỏ tươi, vàng TRANG 101 LeoEcoo LTD chuyên nghiệp: đen, lục lam, đỏ tươi, vàng CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT MỰC IN TOKYO WEB ACTUS SOY Chuyên ngành: đen, lục lam, đỏ tươi, vàng Tập đoàn DIC ADVAN mới: đen, lục lam, đỏ tươi, vàng CÔNG TY INCTEC SOYBI VISTA: đen, lục lam, đỏ tươi, vàng [0130] Các hiệu ứng tương tự như mô tả trong Ví dụ 6 đã được quan sát thấy đối với tất cả các loại mực in offset quay của các loại nhiệt định hình được liệt kê ở trên. Các loại mực mà thành phần dung dịch phun của sáng chế có thể được sử dụng không giới hạn ở những loại này, và thành phần của sáng chế có thể được sử dụng hiệu quả cho mực huỳnh quang, mực mờ và nhiều loại mực màu trung tính. [0131] Thành phần dung dịch phun của phát minh này cũng hữu ích cho mực in offset quay loại không phải loại in nhiệt dùng để in báo và mực cho quy trình nạp tờ rời khác với mực in offset quay loại in nhiệt. Đặc biệt, mực in offset quay loại in nhiệt được ưa chuộng hơn vì hiệu ứng của thành phần dung dịch phun của phát minh này có thể được cắt bỏ rõ ràng trong các loại mực này. Ví dụ 48 đến 51 [0132] TRANG 102 Các xét nghiệm tương tự được tiến hành như mô tả trong Ví dụ 5 và 6 ngoại trừ mực được sử dụng để đánh giá in đã được thay đổi như thể hiện trong Bảng 8 bên dưới. Kết quả được thể hiện trong Bảng 8. Tập đoàn DIC [0133] Mực in offset quay loại nhiệt: Mới ADVAN PREMIER: đen [0134] Mực loại không nhiệt cho quy trình nạp tờ: Fusion G: đen BẢNG 8 Bán tại- Diol rộng rãi hợp chất 5 (7) Cái chăn Mực đóng cọc Siêu Sự giảm bớt Vết mực tỷ lệ của TRÊN giá trị chấm làm giảm độ ẩm (%) con lăn 52 7 ◯ 45 5 ◯ LeoEcoo ĐẬU NÀNH Đen L 48 (7) ADVAN mới THỦ TƯỚNG Đen N TRANG 103 49 (7) Hợp nhất G 57 8 ◯ 50 5 ◯ 55 5 ◯ 70 16 ◯ Đen N 6 (10) Siêu LeoEcoo ĐẬU NÀNH Đen L 50 (10) ADVAN mới THỦ TƯỚNG Đen N 51 (10) Hợp nhất G Đen N [0135] Như thấy từ các kết quả được thể hiện trong Bảng 8, các hiệu ứng của phát minh hiện tại được thể hiện rõ rệt trong mực in offset quay loại nhiệt định hình hơn là trong mực loại không nhiệt định hình cho quy trình nạp tờ rời. Trong các loại mực loại không nhiệt định hình cho quy trình nạp tờ rời, trong đó hiệu ứng tương đối nhỏ, hợp chất diol (7) thể hiện hiệu ứng rõ rệt hơn hợp chất diol (10), và do đó hợp chất diol (7) có lợi. [0136] Trong Ví dụ 51, lượng hợp chất diol (10) cần thêm vào đã giảm xuống còn 97%, 90% và 50% tương ứng, và mỗi mức giảm 3%, 10% và 50% biểu thị hợp chất diol (7), sau đó người ta thấy rằng sự giảm của lớp phủ chăn là mục tiêu của sáng chế hiện tại đã được quan sát thấy một cách đáng chú ý và các điều kiện này là thuận lợi. Thí nghiệm Ví dụ 5 TRANG 104 [0137] Thử nghiệm in ấn tương tự như mô tả trong Ví dụ 5 và 6 đã được tiến hành sau khi in 50000 bản, ngoại trừ việc máy in được thay thế bằng SYSTEM35S từ Tập đoàn KOMORI, sau đó thu được kết quả tương tự như Ví dụ 5 và 6. TRANG 105 TRANG 106
0
You can add this document to your study collection(s)
Sign in Available only to authorized usersYou can add this document to your saved list
Sign in Available only to authorized users(For complaints, use another form )