Họ và tên: Tạ Duy Đạt K63 – KTĐN – Anh 07 Mã Sinh Viên: 2411110073 Câu 1: Vì sao nói tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt? + Khái niệm tiền tệ: Tiền tệ là một hình thái giá trị của hàng hoá, là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất, trao đổi hàng hóa và của các hình thái giá trị. Tiền tệ là phương tiện trao đổi hàng hóa và dịch vụ được chấp nhận thanh toán trong một khu vực nhất định hoặc giữa một nhóm người cụ thể. Thông thường sẽ được phát hành bởi một cơ quan nhà nước như ngân hàng trung ương. Giá trị của tiền tệ không đến từ vật chất tạo ra nó mà theo giá trị mà nó đại diện tùy theo nền kinh tế và nhà phát hành. Hiểu một cách đơn giản, tiền tệ thực chất chính là tiền (bao gồm cả tiền xu và tiền giấy) được chấp nhận chung trong thanh toán để đổi lấy hàng hóa, dịch vụ và hoàn trả các khoản nợ. -Tiền tệ là hàng hóa Tiền tệ cũng có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của tiền tệ cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết sản xuất ra vàng (bạc) quyết định. Giá trị sử dụng của tiền tệ làm môi giới trong mua bán và làm chức năng tư bản. Điều này đã được kể đến trong hệ thống triết học của Mác Lênin. Là hàng hóa, tiền tệ cũng có người mua, người bán, cũng có giá cả (lợi tức). Giá cảcủa hàng hóa tiên tệ cũng lên xuống xoay quanh quan hệ cung cầu. Tiền tệ thỏa mãn hầu hết các nhu cầu của người sử dụng và sở hữu. -Tiền tệ là hàng hóa đặc biệt. Vì nó được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hóa, là sự thể hiện chung của giá trị. Đồng thời nó là kết quả cuối cùng của mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa. Những hàng hóa không phải là tiền thì nó cũng không thể đem trao đổi với nhữngloại hàng hóa khác, nhưng tiền thì rất có thể. Đồng thời trong việc sử dụng tiền thìít nhất cần phải liên quan đến những công sức lao động được kết tinh ở trong nó. Theo quan điểm của K.Marx, “tiền chính là loại hàng hóa đặc biệt vì: tiền có giá trịsử dụng đặc biệt (là giá trị công dụng có ích của hàng hóa). Tiền được dùng làm vật trung gian nhằm để mua bán các loại hàng hóa cụ thể khác. Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển, sản xuất hàng hóa và thị trường ngày càng mở rộng thì có nhiều hàng hóa làm vật ngang giá chung, làm cho trao đổi giữa các địa phương gặp khó khăn, đòi hỏi phải có vật ngang giá chung được cố định ở vàng và bạc thì hình thái tiền tệ của giá trị xuất hiện. Nhưng vàng có ưu thế hơn bạc nên cuối cùng hình thái tiền tệ được cố định ở vàng: Thứ nhất, vàng cũng là một hàng hóa, có giá trị sử dụng và giá trị, đóng vai trò là vật ngang giá chung. Gía trị của vàng cũng được đo bằng lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra nó (tìm kiếm, khai thác). Hơn nữa, vàng là thứ kim loại hiếm nên với một khối lượng nhỏ nhưng chứa đựng một lượng giá trị lớn. Thứ hai, vàng có thuộc tính tự nhiên đặc biệt thích hợp với vai trò làm tiền tệ như: thuần nhất, không hư hỏng, dễ chia nhỏ,... ⇒ Vàng trở thành vật ngang giá chung, nhưng nó cũng là hàng hóa để bán, và đồng thời là phương tiện lưu thông hàng hóa, nên nó đặc biệt. Câu 2: Ta ̣i sao nói sự hình thành lợi nhuận bình quân la ̣i thêm một lầ n nữa che đậy quan hệ bóc lột của tư bản ? ̣ 1 Họ và tên: Tạ Duy Đạt K63 – KTĐN – Anh 07 Mã Sinh Viên: 2411110073 Nguồn gốc lợi nhuận bình quân: Quá trình cạnh tranh tự do đã làm san bằng các mức m khác nhau giữa các ngành của nền kinh tế về mức p bình quân. Mà nguồn gốc lợi nhuận mà các nhà tư bản thu được trong nền kinh tế chính là GTTD. Nếu như chỉ nhìn dưới góc độ 1 ngành thì không thể nhìn thấy được mối liên hệ giữa m và p bình quân => khó nhìn thấy nguồn gốc lợi nhuận bình quân là từ GTTD, nhưng thực chất trong toàn bộ nền kinh tế lợi nhuận bình quân mà mỗi ngành thu được cũng vẫn có nguồn gốc từ GTTD do người lao động tạo ra. =>Trong điều kiện cạnh tranh tự do thì GTTD sẽ chuyển hóa thành lợi nhuận bình quân. Lợi nhuận là hình thức biểu hiện của GTTD, mặt khác cạnh tranh tự do làm lợi nhuận biểu hiện thành lợi nhuận bình quân. Khi nói đến phạm trù lợi nhuận thì khó có thể nhìn thấy nguồn gốc thực sự của lợi nhuận là từ lao động làm thuê tạo ra bởi vì thông thường quan niệm lợi nhuận là do tài kinh doanh của nhà tư bản, do vốn đầu tư (k) mà có; còn khi nói đến m thì chỉ nói đến nhân tố người lao động (v – vốn để mua sức lao động). => Thêm 1 lần nữa trong quá trình cạnh tranh tự do lợi nhuận của các nhà tư bản lại chịu ảnh hưởng của quá trình cạnh tranh tự do mà theo đó nó lại tính theo 1 mức lợi nhuận chung trong nền kinh tế, dù đầu tư vào ngành nào cũng thu được 1 mức lợi nhuận bình quân là tương đương nhau, vì vậy càng khó thấy được nguồn gốc thật sự của nó là từ GTTD, nhưng bản chất của nó chính là từ GTTD. Câu 3: Ta ̣i sao nguyên tắ c trao đổ i ngang giá la ̣i phổ biế n, chứng minh quy tắ c trao đổ i ngang giá ? C1: Trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở HPLĐXH trung bình, có nghĩa là trao đổi phải theo nguyên tắc ngang giá. (trao đổi hàng hóa ngang nhau về giá trị, hay có giá cả = giá trị). Phản chứng: Xét trường hợp diễn ra trao đổi không ngang giá (giá cả cao hơn giá trị hoặc giá cả < giá trị) - khi lợi thể thuộc về 1 phía (cung > cầu => lợi thế thuộc về người mua => giá cả < giá trị, ngược lại cung < cầu => lợi thế thuộc về người bán => giá cả > giá trị), mặt khác trong nền kinh tế hàng hóa, cung luôn có xu hướng cân bằng với cầu => giá cả có xu hướng ngang bằng với giá trị. => Nguyên tắc trao đổi phố biến trong nền kinh tế hàng hóa là trao đổi ngang giá. Vì trên thị trường cạnh tranh tự do có vô số người bán và vô số người mua. Ai cũng muốn có lợi cho bản thân. Bán giá cao hơn giá trị thì sẽ không có người mua, ngược lại muốn mua với giá thấp hơn giá trị thì sẽ không có người bán. Có trao đổi ngang giá mới đảm bảo nguyên tắc thuận mua vừa bán trong thị trường cạnh tranh tự do có vô số người bán, vô số người mua. C2: Trong quá trình trao đổi, người mua và người bán luôn muốn có lợi về phía mình, người bán thì muốn bán giá cao, còn người mua chỉ muốn mua giá thấp. Nếu người bán bán giá cao (giá cả > giá trị) thì lúc đó người mua sẽ cảm thấy mình đang chịu thiệt thòi và không có lí do gì để mua hàng hóa đó nữa (quá trình trao đổi có thể chấm dứt). Tương tự nếu người mua chỉ muốn mua hàng hóa với giá thấp (giá cả < giá trị), người bán sẽ thấy nếu cứ bán sẽ bị thiệt hại và thua lỗ 2 Họ và tên: Tạ Duy Đạt K63 – KTĐN – Anh 07 Mã Sinh Viên: 2411110073 nên sẽ không bán nữa (quá trình trao đổi có thể chấm dứt). Mà trong nền kinh tế hàng hóa, phải luôn diễn ra quá trình trao đổi hàng hóa. Vì vậy muốn quá trình trao đổi này diễn ra bình thường thì giá cả = giá trị, tức là luôn phải đảm bảo nguyên tắc ngang giá. Vì vậy, nguyên tắc ngang giá là nguyên tắc phổ biến trong nền kinh tế hàng hóa. Câu 4: Ý nghĩa của các giả định khi nghiên cứu quá trình sản xuấ t thặng dư ? Các giả định này có đúng trong thực tế không và việc này ảnh hưởng gì tới kế t quả nghiên cứu ? Khi nghiên cứu quá trình sản xuất GTTD, có 2 giả định được đặt ra: + Trao đổi mua bán được diễn ra theo nguyên tắc ngang giá. + Điều kiện sản xuất thuộc mức trung bình trong XH: (trình độ máy móc thiết bị, trình độ người lao động, điều kiện làm việc, cường độ lao động.) Việc đưa ra giả định để chúng ta khẳng định 1 điều là: Ngay cả khi mua đầu vào, bán sản phẩm đầu ra theo đúng giá trị thì nhà tư bản vẫn còn thu được GTTD. Như vậy, GTTD không phải được sinh ra từ việc mua rẻ hay bán sản phẩm đầu ra với giá cao. Phương pháp nghiên cứu trừu tượng hóa khoa học - gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên không cơ bản ra khỏi đối tượng nghiên cứu, mục đích làm đơn giản hóa đối tượng nghiên cứu. Một đối tượng nghiên cứu có thể ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, nhưng chúng ta sẽ sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng đến nó xem đâu là nhân tố cơ bản, điển hình, bền vững thì sẽ tập trung vào nó để nghiên cứu, nhằm rút ra bản chất của vấn đề, còn những nhân tố nào là ngẫu nhiên, không cơ bản thì gạt bỏ để đơn giản hóa đối tượng nghiên cứu. Ở đây, với mục đích là tìm ra xem cái gì tạo ra GTTD, chúng ta xếp nhân tố ngẫu nhiên đó là việc trao đổi không ngang giá sang 1 bên, chỉ xét trường hợp các nhà tư bản tuân theo nguyên tắc phổ biến của thị trường là trao đổi ngang giá. Và chúng ta sẽ chứng minh được rằng ngay cả trong điều kiện ngang giá thì vẫn thu được GTTD. Tương tự, chúng ta không lấy 1 điều kiện sản xuất tối ưu, vượt trội hơn cả trong xã hội mà chỉ lấy điều kiện sản xuất ở mức trung bình và chúng ta chỉ ra rằng ngay cả trong điều kiện sản xuất trung bình thì vẫn còn thu được GTTD. Câu 5: Nế u tư bản trả lương theo đúng giá trị lao động của công nhân thì tư bản có thu được giá trị thặng dư không ? Ta ̣i sao? C1: Giá trị thặng dư chính là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và số tiền nhà tư bản bỏ ra. Trong quá trình kinh doanh, nhà tư bản bỏ ra tư bản dưới hình thức tư liệu sản xuất gọi là tư bản bất biến và bỏ ra tư bản để thuê mướn lao động (hàng hoá SLĐ) gọi là tư bản khả biến. Hàng hoá sức lao động là 1 hàng hoá đặc biệt, tạo ra 1 lượng giá trị mới còn lớn hơn giá trị của bản thân nó. Vì vậy, người lao động đã đưa vào hàng hóa một lượng giá trị lớn hơn số tư bản khả biến mà nhà tư bản trả cho người lao động. Phần dư ra đó chính là GTTD. 3 Họ và tên: Tạ Duy Đạt K63 – KTĐN – Anh 07 Mã Sinh Viên: 2411110073 + Cái mà công nhân bán cho TB chính là SLĐ. Tiền công trong CNTB là giá cả SLĐ nhưng lại được biểu hiện bên ngoài thành giá cả của lao động. + Chủ TB đã tìm thấy HH này trên thị trường. Giá trị thực của SLĐ không được trả đúng theo số tiền lương mà nhà TB đã trả cho CN. + Về hình thức thì giá trị SLĐ được bán ngang giá, nhưng thực chất thì vẫn còn 1 bộ phận giá trị mới do CN tạo ra bị nhà TB chiếm giữ . Có thể nói là chủ TB trả tiền để mua “gốc” (giá trị SLĐ) nhưng lại hưởng “ngọn” (thành quả do SLĐ sáng tạo ra). Vì vậy, nếu tư bản trả lương theo đúng giá trị lao động của công nhân thì tư bản có thu được giá trị thặng dư. C2: Khi xét tới các tư liệu sản xuất cấu thành nên giá trị hàng hóa, tư bản bất biến sẽ chuyển hóa vào toàn bộ sản phẩm, còn tư bản khả biến qua quá trình sản xuất sẽ tạo ra 1 giá trị mới, giá trị mới này lớn hơn giá trị sức LĐ bởi vì hàng hóa sức LĐ là 1 loại hàng hóa đặc biệt, nó tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó, sự chênh lệch này là 1 phần GTTD mà nhà TB thu được. Vì vậy nếu TB trả lương theo đúng giá trị LĐ của công nhân thì TB vẫn thu được GTTD. Câu 6: Ta ̣i sao nói giá trị thặng dư siêu nga ̣ch có tính chấ t ta ̣m thời nhưng la ̣i là hiện tượng phổ biế n trong XH. Ta ̣i sao nói giá trị thặng dư siêu nga ̣ch là động lực thúc đẩy các nhà tư bản nâng cao năng suấ t lao động ? C1: Tính chất của giá trị thặng dư siêu ngạch là tính phổ biến và tạm thời. Ta có: MSN = MA – MTB. Khi xuất hiện hiện tượng tư bản A thu được giá trị thặng dư siêu ngạch thì cạnh tranh trong ngành này sẽ gay gắt hơn. Khi tư bản A thu được lợi nhuận kếch xù thì sẽ kích thích các tư bản khác tìm biện pháp tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất. Về nguyên tắc, tư bản A có thể giảm giá bán để cạnh tranh mà vẫn thu được lợi nhuận siêu ngạch. Như vậy, khi tư bản A giảm giá thì các tư bản khác cũng phải tìm cách giảm giá để cạnh tranh với tư bản A nên thứ nhất là động cơ lợi nhuận, thứ 2 là động cơ tồn tại trong quá trình cạnh tranh thôi thúc họ buộc phải tìm các biện pháp để tăng năng suất. Và khi năng suất lao động của các tư bản đều tăng lên thì NSLĐXH tăng lên dẫn đến giá trị của hàng hóa giảm xuống, cuối cùng là MSN A giảm xuống và có xu hướng tiến tới 0. (tiến tới 0 khi các nhà tư bản khác bắt kịp công nghệ của tư bản A). Vì vậy ta có thể kết luận bản chất của GTTDSN là tạm thời với từng nhà tư bản nhưng nó là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà TB tăng năng suất và là hiện tượng phổ biến, luôn xảy ra trong xã hội. C2: +Xét từng TH, GTTDSN là hiện tượng tạm thời vì khát vọng của nhà TB là luôn thu được GTTD càng nhiều càng tốt và vượt trội hơn các nhà TB khác đang cạnh tranh với họ. Khi đó nhà TB nào cải tiến kĩ thuật, nâng cao năng suất làm cho hàng hóa của nhà TB đó so với các hàng hóa của các nhà TB khác vượt trội hơn, bán chạy hơn, do đó sẽ thu được GTTDSN. Khi đó các 4 Họ và tên: Tạ Duy Đạt K63 – KTĐN – Anh 07 Mã Sinh Viên: 2411110073 nhà TB khác muốn tồn tại và phát triển thì bắt buộc họ sẽ phải cải tiến kĩ thuật, nâng cao năng suất để bắt kịp các nhà TB đã đi trước. Và lúc các nhà TB bắt kịp nhau cũng là lúc GTTDSN sẽ biến mất. Do đó GTTDSN có tính chất tạm thời. + Xét trong toàn bộ XH tư bản thì GTTDSN là hiện tượng tồn tại thường xuyên vì nhà TB này cải tiến sẽ cải tiến kĩ thuật tối ưu hơn, XD tổ chức hoàn thiện hơn,.. và tạo ra GTTDSN. Các nhà TB khác không thể bằng lòng, đứng yên khi thu được lợi nhuận thấp hơn, do đó không sớm thì muộn cũng sẽ có nhà TB khác tìm ra và áp dụng những kĩ thuật tốt hơn nữa và vượt lên tạo ra GTTDSN khác. Quá trình đó cứ liên tục diễn ra trong XH. Vì thế GTTDSN là biểu hiện phổ biến trong XH. Câu 7: Ta ̣i sao nói lợi nhuận biểu hiện ra bên ngoài dường như không phải là giá trị thặng dư ? C1: Chứng minh lợi nhuận chính là GTTD Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí sản xuất - Doanh thu = Tổng giá cả hàng hóa = Tổng giá trị hàng hóa = c (TLSX) + v (SLĐ) + m (GTTD) - Chi phí sản xuất: là chi phí về tiền mà nhà tư bản phải bỏ ra để tiến hành sản xuất hàng hóa (bao gồm chi phí để mua tư liệu sản xuất (c) và mua sức lao động (v)). Ký hiệu: k = c + v => Lợi nhuận p = m =>Thực chất lợi nhuận chính là GTTD. Lợi nhuận là hình thức biểu hiện, là tên gọi của GTTD trong đời sống thực tế => Bản chất của lợi nhuận là do GTTD mà lao động làm thuê tạo ra. Thông thường theo quan niệm thì lợi nhuận do tài kinh doanh của người đầu tư, của nhà tư bản, do vốn đầu tư mà có. Còn GTTD được tạo ra từ 1 nhân tố đầu tư của nhà tư bản đó là nhân tố vốn đầu tư vào lao động – tư bản khả biến (v). 2 quan niệm này hoàn toàn khác nhau. Hơn nữa, trong 1 số trường hợp, tại 1 thời điểm thì lượng lợi nhuận (p) khác lượng GTTD (p ≠ m – khi có hiện tượng trao đổi không ngang giá). Tuy nhiên, trao đổi không ngang giá là hiện tượng không phổ biến, và không kéo dài, xu hướng hoạt động của giá cả luôn cân bằng với giá trị. Thế nên, xét trên phạm vi toàn bộ xã hội, lợi nhuận có nguồn gốc từ GTTD. Chính điều này càng làm cho người ta nghĩ rằng lợi nhuận không liên quan đến GTTD =>lợi nhuận dường như không phải do GTTD sinh ra. C2: Đầu tiên, lợi nhuận và giá trị thặng dư đều có chung 1 nguồn gốc là kết quả sức LĐ không công của công nhân. Phạm trù lợi nhuận chẳng qua chỉ là 1 hình thái thần bí hóa của giá trị thặng dư. Nhưng lợi nhuận biểu hiện ra bên ngoài dường như không phải là giá trị thặng dư bởi vì: Lợi nhuận được biểu hiện trong lưu thông còn giá trị thặng dư chỉ được tạo ra trong quá trình sản xuất, nó phản ánh sai lệch bản chất bóc lột vì nhà tư bản chỉ cần bán hàng hóa cao hơn chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa và có thể thấp hơn giá trị hàng hóa là đã có lợi nhuận. Điều đó làm cho người ta hiểu lầm rằng lợi nhuận là do việc mua bán, do lưu thông tạo ra, do tài kinh doanh của nhà tư bản mà có được. Điều này thể hiện ở chỗ, nếu nhà tư bản bán hàng hóa với giá cả bằng 5 Họ và tên: Tạ Duy Đạt K63 – KTĐN – Anh 07 Mã Sinh Viên: 2411110073 giá trị của nó khi đó p=m, bán giá cả cao hơn giá trị thì p>m, bán giá cả nhỏ hơn giá trị p<m. Nhưng nếu xét trên phạm vi toàn xã hội, trong 1 thời gian dài thì tổng giá cả bằng tổng giá trị, nên tổng lợi nhuận cũng bằng tổng giá trị thặng dư. Chính sự không nhất trí về lượng giữa p và m lại càng che giấu thực chất bóc lột của CNTB. Do đó, xét cho cùng thì lợi nhuận bản chất là 1 hình thức biến tướng của giá trị thặng dư, nhưng lại làm người ta hiểu 1 cách sai lệch theo 1 hướng khác, nên ta có cảm giá “lợi nhuận biểu hiện ra bên ngoài dường như không phải là giá trị thặng dư”. Câu 8: So sánh lợi nhuận và giá trị thặng dư Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động do người công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.Lợi nhuận là giá trị thặng dư được quan niệm là con đẻ của tư bản ứng trước -Giống nhau: Giá trị thặng dư và lợi nhuận đều có nguồn gốc từ lao động không được trả công của người lao động. -Khác nhau: Giá trị thặng dư và lợi nhuận khác nhau về chất và lượng +Về lượng: Giá trị thặng dư và lợi nhuận thường không bằng nhau. Lợi nhuận có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thặng dư do tác động của quy luật cung cầu trên thị trường. Nhưng xét chung về tổng thể xã hội, tổng lợi nhuận luôn ngang bằng tổng giá trị thặng dư. +Về chất: Lợi nhuận chẳng qua là hình thái thần bí hóa của giá trị thặng dư. Giá trị phản ánh đúng bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Lợi nhuận phản ánh sai lệch bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản Lý do 1: Nhà tư bản chỉ cần bán hàng hóa với giá lớn hơn chi phí tư bản và nhỏ hơn giá trị của nó trên thị trường đã mang lại lợi nhuận khiến nhà tư bản hiểu nhầm nguồn gốc của lợi nhuận từ dài kinh doanh hàng hóa mang lại Lý do 2: Việc gộp tư bản bất biến và tư bản khả biến thành tư bản ứng trước khiến nhà tư bản hiểu nhầm, nguồn gốc của lợi nhuận kp chỉ từ bộ phận tư bản khả biến v mà còn từ tư bản bất biến Ông Mác nói rằng, lợi nhuận là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư Câu 9: Phân tích 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản. Tại sao nói phương pháp sản xuất tương đối là đặc trưng cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa?Tại sao nói GTTD siêu ngạch là hình thức biến tướng của GTTD tương đối? (Cách trả lời thứ 2 theo bảng) Khái niệm PP sx GTTD tuyệt đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư bằng cách kéo dài ngày làm việc của công nhân trong điều kiện thời gian 6 PP sx GTTD tương đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư bằng cách tăng năng suất lao động xã hội mà rút ngắn thời Họ và tên: Tạ Duy Đạt Thời gian K63 – KTĐN – Anh 07 lao động tất yếu không đổi hoặc bằng cách tăng cường độ lao động của người công nhân. Giai đoạn đầu Cách thức thể hiện Công thức Giới hạn của việc thực hiện Kéo dài tgian làm việc Tăng cường độ lao động T = const, (t + t’) tăng Gh trên(Giới hạn trần): Độ tài tự nhiên của một ngày, tâm sinh lý người lao động Gh dưới(Giới hạn sàn): tg lao động tất yếu Luôn vấp phải Luôn bị đấu tranh sự đấu tranh Mã Sinh Viên: 2411110073 gian lao động tất yếu trong điều kiện độ dài của ngày làm việc không đổi Giai đoạn sau, phổ biến đến ngày nay Tăng năng suất lao động xã hội T giảm, t + t’ = const Dường như không có giới hạn Hạn chế: Đòi hỏi KHKT, trình độ tay nghề Che đậy tốt hơn, tinh vi hơn bản chất bóc lột Ngày làm việc không bị kéo dài Tiền lương danh nghĩa giảm nhưng tiền lương thực tế không đổi Câu 10: Vì sao nói sức lao động là hàng hóa đặc biệt? Sức lao động được coi là một hàng hóa đặc biệt vì nó khác với các hàng hóa thông thường ở một số đặc điểm cơ bản sau đây: 1. Chủ thể sở hữu và bán hàng hóa sức lao động là con người Sức lao động không tồn tại độc lập mà gắn liền với con người. Người lao động vừa là người sở hữu, vừa là người bán sức lao động của mình. Khi bán sức lao động, người lao động không bán chính bản thân mình mà chỉ bán khả năng lao động trong một khoảng thời gian nhất định. 2. Nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư Sức lao động là hàng hóa duy nhất có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn giá trị của chính nó. Khi người lao động làm việc, họ không chỉ tạo ra đủ giá trị để bù đắp chi phí tái sản xuất sức lao động (tiền lương) mà còn tạo ra một phần giá trị dư thừa – chính là giá trị thặng dư – cho nhà tư bản. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa sức lao động và các hàng hóa khác. 3. Giá trị của sức lao động khác với giá trị sử dụng của nó Giá trị của sức lao động được xác định bởi chi phí cần thiết để duy trì, tái sản xuất sức lao động, bao gồm chi phí ăn uống, sinh hoạt, giáo dục, và đào tạo. 7 Họ và tên: Tạ Duy Đạt K63 – KTĐN – Anh 07 Mã Sinh Viên: 2411110073 Giá trị sử dụng của sức lao động thể hiện ở khả năng tạo ra sản phẩm và giá trị mới khi người lao động làm việc. Giá trị sử dụng này chỉ được thể hiện trong quá trình lao động thực tế. 4. Tính hai mặt của lao động trong quá trình sản xuất Sức lao động khi được sử dụng sẽ thực hiện đồng thời hai chức năng: Lao động cụ thể: Tạo ra các giá trị sử dụng cụ thể. Lao động trừu tượng: Tạo ra giá trị mới, trong đó có giá trị thặng dư cho xã hội hoặc cho chủ sở hữu tư liệu sản xuất. 5. Tính lịch sử của sức lao động Hàng hóa sức lao động chỉ tồn tại trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Trong các xã hội tiền tư bản, lao động thường bị bóc lột trực tiếp thông qua các hình thức như nô lệ hoặc phong kiến, chứ không phải thông qua mua bán sức lao động như trong chủ nghĩa tư bản. Kết luận: Sức lao động là hàng hóa đặc biệt vì nó vừa mang lại giá trị sử dụng (lao động) vừa tạo ra giá trị thặng dư – nguồn gốc của lợi nhuận trong nền kinh tế tư bản. Đây chính là yếu tố giúp tư bản phát triển và tái sản xuất mở rộng Câu 11: So sánh năng suất lao động và cường độ lao động? - Cường độ lao động phân ảnh sự căng thẳng, mệt nhọc của người lao động, được đo bằng lượng hao phí lao động trong một đơn vị thời gian. Ví dụ trong 1h lao động người lao động hao phí 200calo - Khi cường độ lao động tăng thì sản lượng/1dvtg tăng -> lượng hao phí lao động/1đvtg tăng -> Lượng hao phí lao động trên một sản phẩm không đổi. - Lượng giá trị hàng hóa cũng không đổi và ngược lại Ví dụ: trong điều kiện bình thường cứ th lao động thì người lao động hao phí 200 calo và sản xuất ra 2 đơn vị sản phẩm. Khi cường độ lao động tăng lên gấp đôi thì 1 giờ lao động hao phí 400 calo và sản xuất ra 4 đơn vị sản phẩm. CDLD k phải là nhân tố ảnh hưởng đên lượng giá trị hàng hóa Giống nhau: đều tỉ lệ thuận với sản lượng Khác nhau: NSLD tỉ lệ nghịch đến lượng giá tị hh, còn CDID không ảnh hưởng đến lượng giá trị hh NSLD không có giới hạn, còn CDLD bị giới hạn bởi thế lực, tâm sinh lý của N.D NSLD không ảnh hưởng đến tổng giá trị hàng hóa, còn CDLD tỉ lệ thuận với tổng giá trị hàng hóa 8 Họ và tên: Tạ Duy Đạt K63 – KTĐN – Anh 07 Mã Sinh Viên: 2411110073 Câu 12: Tại sao giá trị sử dụng làm hàng hóa khác nhau về chất và giá trị thì làm hàng hóa giống nhau? Trong kinh tế chính trị Mác-Lênin, khái niệm giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa có những đặc điểm khác nhau về chất, nhưng chúng cùng tồn tại trong mỗi hàng hóa, và đó là lý do hàng hóa vừa khác nhau lại vừa giống nhau. 1. Giá trị sử dụng – Khác nhau về chất Giá trị sử dụng là công dụng, khả năng thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người (vật chất hoặc tinh thần). Mỗi hàng hóa có một giá trị sử dụng khác nhau, vì chúng phục vụ cho những nhu cầu khác nhau: o Ví dụ: Gạo dùng để ăn, thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng. Quần áo dùng để mặc, thỏa mãn nhu cầu che thân. Điện thoại dùng để liên lạc, giải trí, làm việc. => Giá trị sử dụng mang tính chất cụ thể và phụ thuộc vào thuộc tính tự nhiên của hàng hóa. 2. Giá trị – Giống nhau về chất Giá trị là lao động xã hội kết tinh trong hàng hóa, tức là lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó. Mặc dù hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau, nhưng chúng đều có một điểm chung là đều chứa lao động trừu tượng – tức là hao phí sức lao động của con người trong quá trình sản xuất. o Ví dụ: Cả 1 kg gạo, 1 chiếc áo, và 1 cái điện thoại đều cần lao động để tạo ra. Do đó, chúng đều có giá trị, và giá trị này có thể được đo lường bằng thời gian lao động xã hội cần thiết. => Giá trị mang tính chất trừu tượng, là cơ sở để so sánh và trao đổi hàng hóa với nhau. 3. Tại sao giá trị sử dụng khác nhau về chất nhưng giá trị lại giống nhau? Giá trị sử dụng khác nhau vì mỗi hàng hóa thỏa mãn một nhu cầu riêng biệt, mang những đặc điểm và công dụng cụ thể khác nhau. Giá trị giống nhau vì mọi hàng hóa đều là sản phẩm của lao động, và giá trị của chúng phản ánh lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó. 9 Họ và tên: Tạ Duy Đạt K63 – KTĐN – Anh 07 Mã Sinh Viên: 2411110073 4. Tính thống nhất giữa giá trị và giá trị sử dụng Một hàng hóa phải có cả giá trị sử dụng (để thỏa mãn nhu cầu) và giá trị (để có thể trao đổi). Nếu một vật chỉ có giá trị sử dụng mà không có giá trị (ví dụ: không cần lao động để sản xuất như không khí tự nhiên), thì nó không phải là hàng hóa. Ngược lại, nếu một vật có giá trị nhưng không có giá trị sử dụng (ví dụ: một sản phẩm lỗi, không dùng được), thì nó cũng không thể trở thành hàng hóa. => Sự thống nhất giữa giá trị và giá trị sử dụng tạo nên bản chất của hàng hóa. Câu 13: Điều kiện để tiền trở thành tư bản? Để tiền trở thành tư bản, theo quan điểm của Karl Marx, cần phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định. Những điều kiện này không chỉ liên quan đến bản thân tiền tệ mà còn đến các mối quan hệ kinh tế – xã hội trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Cụ thể: 1. Phải có sự tích lũy ban đầu một lượng tiền đủ lớn Tiền phải đạt đến một quy mô nhất định để không chỉ dùng cho tiêu dùng cá nhân mà còn có thể đầu tư vào sản xuất và kinh doanh. Quy mô này phải đủ để mua các yếu tố sản xuất như: o Tư liệu sản xuất (máy móc, công cụ, nguyên vật liệu,...). o Sức lao động (thuê nhân công). Ví dụ: Một người có 100 USD có thể không đủ để khởi nghiệp kinh doanh, nhưng nếu có 1 triệu USD, họ có thể đầu tư vào sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ, từ đó bắt đầu quá trình sinh lợi nhuận. 2. Tiền phải được sử dụng để tạo ra giá trị thặng dư Tư bản không chỉ là tiền dùng để mua hàng hóa thông thường (Mua → Bán), mà là tiền được sử dụng để sinh lợi nhuận, tức là tạo ra giá trị thặng dư. Quá trình này diễn ra theo công thức: T – H – T' (Tiền – Hàng hóa – Tiền mới, trong đó T' > T). Nghĩa là, nhà tư bản sử dụng tiền để mua hàng hóa (tư liệu sản xuất và sức lao động), rồi thông qua sản xuất, tạo ra hàng hóa mới có giá trị cao hơn chi phí ban đầu, từ đó thu về số tiền lớn hơn. 10 Họ và tên: Tạ Duy Đạt K63 – KTĐN – Anh 07 Mã Sinh Viên: 2411110073 3. Phải có sự tách biệt giữa người sở hữu tư liệu sản xuất và người lao động Tiền chỉ trở thành tư bản khi có sự tách biệt về mặt xã hội: o Một bên là chủ sở hữu tư liệu sản xuất (nhà tư bản) – những người có tiền để mua tư liệu sản xuất và sức lao động. o Một bên là người lao động – những người không sở hữu tư liệu sản xuất và phải bán sức lao động của mình để kiếm sống. Điều kiện này làm phát sinh quan hệ tư bản – lao động thuê, trong đó người lao động bị bóc lột thông qua quá trình làm thuê. 4. Phải có thị trường tự do về hàng hóa và sức lao động Để tiền có thể chuyển hóa thành tư bản, cần có thị trường nơi: o Hàng hóa được trao đổi tự do. o Sức lao động trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, được mua bán trên thị trường. Người lao động phải được "tự do" về mặt pháp lý: o Tự do về mặt cá nhân: Không bị ràng buộc bởi chế độ nô lệ hoặc phong kiến. o Tự do về mặt kinh tế: Không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để kiếm sống. 5. Tư bản phải vận động theo mục đích sinh lợi nhuận Tiền chỉ trở thành tư bản khi nó được đầu tư vào sản xuất hoặc kinh doanh với mục đích cuối cùng là sinh lợi nhuận. Khác với tiền dùng để trao đổi đơn thuần hoặc tích trữ, tư bản phải được sử dụng để tái sản xuất mở rộng – tức là liên tục gia tăng giá trị. Tóm lại, để tiền trở thành tư bản, cần thỏa mãn các điều kiện sau: 1. Có một lượng tiền đủ lớn để đầu tư vào sản xuất. 2. Tiền phải được sử dụng để tạo ra giá trị thặng dư thông qua sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ. 3. Có sự tách biệt giữa chủ sở hữu tư liệu sản xuất và người lao động. 4. Tồn tại thị trường tự do, nơi hàng hóa và sức lao động được trao đổi. 5. Tiền phải vận động với mục đích cuối cùng là sinh lợi nhuận. => Chính quá trình vận động này làm cho tiền không còn là tiền đơn thuần mà trở thành tư bản – một giá trị tự lớn lên. 11
0
You can add this document to your study collection(s)
Sign in Available only to authorized usersYou can add this document to your saved list
Sign in Available only to authorized users(For complaints, use another form )