Câu 1: Đạo nhân của Khổng Tử và ý nghĩa của đạo nhân trong giáo dục học sinh hiện nay? Thời Xuân Thu Chiến quốc, chư hầu giết vua đoạt ngôi và chém giết lẫn nhau, gia đình lục đục, con cái bất hiếu với cha mẹ,… dẫn đến xã hội lầm than, loạn lạc. Mặc dù sống trong thời loạn lạc như vậy, Khổng Tử vẫn quan niệm bản thân con người mang tính thiện. Do đó, với mong muốn đưa tất cả mọi người về với một xã hội tốt đẹp vốn có, ông đã quyết định xây dựng nên Nho giáo lấy đạo đức làm cơ sở để giải quyết các vấn đề của xã hội đương thời. Từ đây Nho giáo – đạo Nhân của Khổng Tử được hình thành và phát triển. Lý dó nhắc đến Nho giáo và phải nói đến Đạo Nhân bởi tất cả các vấn đề chính trị, giáo dục hay đạo đức thì ông đều xuất phát từ vấn đề Nhân mà ra. Cái “nhân” trong Nho giáo của Khổng Tử chính là hết lòng tận tụy yêu thương đối với mọi người trong năm quan hệ. Nội dung hàng đầu của nhân là trung hiếu. Nghĩa là, khi thấy việc đáng làm thì phải làm, thấy điều đáng nói thì nói, không hề mưu tính lợi ích riêng của mình. Theo Khổng Tử, người có “nhân” là người không bao giờ rời xa cái “nhân”, bởi cái tính thiện là bản tính ăn sâu vào bản tính của họ nên dù có là việc nhỏ nhất, cái nhân vẫn được thể hiện. SỰ xa cách cái “nhân” chỉ là do những yếu tố mị hoặc của cuộc sống đem lại. Do đó, chỉ cần bản thân ta muốn tiếp cận và đạt được cái “nhân” thì điều nhân sẽ đến. Cụ thể, quan điểm về “nhân” của Khổng Tử có thể được khái quát lại theo các ý như sau: - Thứ 1: Nhân là “trung thứ, thương người, hết lòng với người khác. Bản tính này bộc lộ tiềm ẩn trong các mối quan hệ giữa con người với con người. Ở đây, “trung” nghĩa là “ái nhân” (yêu người), cũng mang ý nghĩa là giúp đỡ tạo lập cho người hành đạt; “thứ” là suy mình ra người, nghĩa là cái gì không có lợi cho mình, mình không muốn, mình ghét thì đừng có đem cái đó cho người khác. Tính Trung thứ đã thể hiện ra tính nhân văn sâu sặc, ẩn dụ cho một lẽ sống, dạy người ta sống sao cho ra người. - Thứ hai, “nhân” là tiêu trí đạo đức cao nhất trong bậc thang giá trị đạo đức. Nó là cái gốc để từ đó sinh ra các đức mục khác. Nhân chính là cái gốc của sự sinh hóa trong trời đất, lễ nghĩa nhờ đó mà phát hiện ra. Nó cũng là cơ sở kéo theo các phẩm chất khác như “dũng”, “thanh”, “đức”, “tài”,… Có nghĩa là người mang đức nhân cũng là người phải luôn giữ mình trung tín, cung kính, nói năng thận trọng, không lo buồn, an bần, lạc đạo. - Thứ ba, nhân bao gồm cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Trong thiên hạ, ai làm được năm điều này thì được xem là người có nhân. Cung trong cung kính, là không khinh nhờn; khoan trong khoan dung thì được lòng người, tín thì được người tin cậy, mẫn trong cần mẫn thường có công còn huệ trong ân huệ thường thì ban phát ân, dễ sử dụng được người - Thứ tư, nhân là “khắc kỷ phục lễ”. Có nghĩa là con người tự sửa minh theo điều lễ thì được tôn là người có nhân. “Lễ” lấy nghĩa làm thực chất còn “nghĩa” lại coi “nhân” làm cơ sở. Lễ và nghĩa kết hợp khăng khít với nhau, tạo nên mối quan hệ không thể tách rời. Trong “Luận ngữ”, KT có đề cập đến “nhân dục”_vốn là các dục vọng của con người hướng đến chỗ ham phú quý, giàu sang. Theo ông, nhân dục không phải điều xấu nhưng nó cần nằm trong phạm vi mà “lễ” cho phép. Mà muốn làm được điều đó thì bản thân mỗi người phải biết “khắc kỷ”. - Thứ năm, hiếu đễ là gốc của nhân. Thái độ của Khổng Tử về “hiếu” mang tính bảo thủ bởi ông đặt nặng vấn đề con cái phải vâng theo và phục tùng cha mẹ một cách tuyệt đối. Kể cả khi cha mẹ có sai, con cái cũng không được phép than phiền mà chỉ được khéo léo, kính cẩn can ngăn. Ông cho rằng “hiếu” là cái gốc của “nhân”. Dân hiểu hiếu sẽ không thác loạn. Ngoài ra, Nho giáo cũng gắn liền với các tiêu chuẩn khác như: trung, hiếu, cung, kính, khoan, hòa, cần, mẫn, chính đáng, thật thà, khiêm tốn, dũng cảm, học gắn với hành, tự trách mình hơn trách người, thận trọng, biết yêu ghét phân minh. Quan niệm về đạo nhân của Khổng Tử suy cho cùng mang nhiều ý nghĩa hợp lý. Bởi thời điểm lúc bấy giờ, trật tự, lễ nghĩa, cương thường bị đảo lộn; đạo đức suy đồi; quan niệm về nhân của Khổng Tử đã có một ý nghĩa trong việc giáo dục đạo đức để mọi người hiểu và làm theo đạo vua, tôi, đạo cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh em, bạn bè. Trên cơ sở tư tưởng “nhân trị” này của Khổng Tử, mấy nghìn năm lịch sử phong kiến của các quốc gia Đông Á mới được yên bình, ổn định; mối quan hệ giữa người với người với nhau mới giữ được hoà thuận, yêu thương, gắn bó đùm bọc lẫn nhau. Nói đến “nhân”, Khổng Tử cũng xây dựng các phương pháp rất riêng áp dụng trong việc dạy nhân. Cụ thể có thể kể đến như: - Ôn cố nhi tri tân: học đi học lại điều cũ để phát hiện ra cái mới, củng cố kiến thức cũ. Đây chính là sự bồi dưỡng kiến thức không ngừng nghỉ, có như vậy mới tích lũy được kiến thức, mới kiến giải được những vấn đề trọng tâm, cốt yếu, khám phá ra được tri thức mới - Kết hợp học với suy nghĩ: nhằm truy xét ra nguyên căn và hệ thống hóa lại tri thức. Theo KT, học mà không đào sâu suy nghĩa thì trri thức không thể mở mang, phát triển. Ông từng nói: “Không bực tức thì trí không mở, không hầm hực thì ý không bật ra”. Quan điểm của ông là phải đợi đến khi học trò ngẫm nghĩ kỹ rồi mà không tìm được lời giải thì mới giảng giải. Như vậy trò mới có thức học. - PP gợi mở ‘dụ đạo khải phát”. Ở đây “khải” nghĩa là gợi ra những ý mà trò muốn biết, “phát” là diễn đạt ý mà học trò muốn nói. Pp này chính là sd sự ví von, hỏi han, hướng dẫn nhằm gợi mởi để người học tự tìm ra chân lý. Đây cũng là pp giúp ng học phát huy tính độc lập, tích cực, chủ động, sáng tạo của mình (bằng cách khơi gợi vđ từ đơn giản cho đến phức tạp) - Pp áp dụng dạy cho từng đối tương: Theo KT, cần xem xét tư chất, cá tính, khả năng của từng trò mà chọn ra pp giáo dục khác nhau, cách thức truyền đạt phù hợp. mang lại hiệu quả học tập tốt hơn. Bằng cách này, ng dạy sẽ hiểu trò mik hơn và có thể đưa ra những cách giải thích khác nhau cho 1 vđ với những đối tượng khác nhau. Ý nghĩa: Đạo Nhân của Khổng Tử không chỉ mang nhiều ý nghĩa đối với thời bấy giờ mà cho đến nay, nhất là đối với hiện trạng tiêu cực trong các thế hệ học sinh của ngày nay mà biểu hiện ở các trạng thái suy đồi đạo đức như trò đánh thầy, con bất hiếu với cha mẹ, bạo lực học đường đối với bạn bè cùng trang lứa,… việc áp dụng đạo nhân của Khổng Tử có lẽ sẽ là phương pháp hữu hiệu giải quyết các vấn trên. Cụ thể, nếu như áp dụng được các tư tưởng trong đạo Nhân vào giáo dục thì sẽ giúp học sinh nhận thức được rất nhiều vấn đề: - Xây dựng nhận thức về trách nhiệm cá nhân: Triết lý đạo nhân có thể giúp học sinh xây dựng một tư cách cá nhân tích cực. Họ học cách trân trọng giáo viên, bạn bè, và gia đình, từ đó hình thành tư duy tích cực về thế giới xung quanh. Triết lý đạo nhân tập trung vào việc xây dựng tư duy nhân quả và nhận thức về trách nhiệm cá nhân. Học sinh cần hiểu rằng hành vi tiêu cực như trò cãi láo và đánh thầy không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân họ mà còn gây hậu quả tiêu cực cho cả cộng đồng. Bằng cách tập trung vào trách nhiệm của mình, họ có thể nhận ra tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát triển tính cách tích cực. - Phát Triển Năng Lực Quản Lý Cảm Xúc: Đạo nhân của Khổng Tử liên quan chặt chẽ đến việc quản lý cảm xúc và đồng cảm với người khác. Trong giáo dục hiện đại, việc phát triển năng lực quản lý cảm xúc là rất quan trọng, giúp học sinh tự chủ và xã hội hóa một cách tích cực. - Tạo Ra Cộng Đồng Học Tập Tích Cực: Triết lý đạo nhân không chỉ về tính cách cá nhân mà còn về tạo ra một cộng đồng học tập tích cực. Học sinh được khuyến khích tìm kiếm sự đồng lòng, lòng tin và sự hỗ trợ giữa các học sinh. Môi trường học tập sôi động và đầy ý nghĩa có thể được tạo ra thông qua việc khuyến khích sự tương tác và hợp tác. - Khuyến Khích Ý Thức Cộng Đồng và Trách Nhiệm Xã Hội: Đạo nhân của Khổng Tử khuyến khích ý thức cộng đồng và trách nhiệm xã hội. Giáo dục hiện nay cần tập trung vào việc giúp học sinh hiểu rõ về vai trò của họ trong xã hội và khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động cộng đồng. - Xây Dựng Đạo Đức Nghề Nghiệp: Đạo nhân có thể giúp hình thành đạo đức nghề nghiệp từ khi học sinh còn ở giai đoạn học tập. Việc học cách làm việc có trách nhiệm, tôn trọng đồng nghiệp và xây dựng một môi trường làm việc tích cực sẽ làm nền tảng cho sự phát triển sau này. Trong tình hình xã hội ngày nay, triết lý đạo nhân của Khổng Tử vẫn giữ giá trị lớn đối với giáo dục. Nó không chỉ hình thành tính cách cá nhân mà còn giúp xây dựng một xã hội tích cực, tôn trọng và đồng lòng. Giáo dục hiện đại có thể tận dụng những giá trị này để giúp học sinh phát triển toàn diện và hòa nhập tích cực vào xã hội. Ngoài ra, để việc giáo dục trở nên hiệu quả hơn, việc áp dụng các phương pháp giảng dạy riêng của Khổng Tử cũng là điều đáng lưu tâm. Mặc dù được xây dựng từ thời đại rất lâu về trước, cho đến nay, không chỉ các tư tưởng triết học ông để lại còn hữu dụng mà các phương pháp giáo dục cũng vẫn còn tân tiến. Một trong những phương pháp đó cần được kế thừa và phát huy như: Ôn cố nhi tri tân (học từ những điều cũ): Phương pháp này nhắc nhở ta rằng việc học đi học lại một vấn đề không phải là nhàm chán. Bởi một vấn đề chứa đựng nhiều yếu tố mà không phải với chỉ lần đầu học ta đã tiếp thu được hết. Nói tóm lại, việc ôn đi ôn lại các tri thức không những khiến học trò nhuần nhuyễn hơn với tri thức theo quan niệm “mưa dầm thấm lâu” mà còn giúp họ khai thác toàn bộ những khía cạnh của cùng một vấn đề mình đã từng được tiếp cận, bởi sau mỗi lần ôn luyện, chúng ta chắc hẳn sẽ nhìn nhận ra thêm một khía cạnh mới của vấn đề. Bên cạnh đó, khoa học của ngày nay cũng chứng minh rằng, con người chỉ có trí nhớ ngắn hạn. Có nghĩa là sau buổi học đầu tiên, nếu không ôn luyện sau đó thì tỷ lệ kiến thức đã đi vào bộ não sẽ phai dần đi. Nghiên cứu này đã một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của phương pháp “ôn cố nhi tri thân”. - Thứ hai là học kết hợp với suy nghĩ. Rõ ràng, với vai trò là một trong những người học, chúng ta đều đã từng trải qua quá trình học thụ động, chính là quá trình chỉ tiếp thu và học thuộc các kiến thức được truyền đạt trong lớp và trong sách vở. Học như vậy không khác gì học vẹt, không mang tính thực tiễn. Do đó, để việc học mang nhiều ý nghĩa và hữu dụng hơn thì bên cạnh việc tiếp thu các tri thức cơ bản, người học cần có những suy nghĩ của riêng mình nhằm hệ thống lại các kiến thức để hướng đến việc vận dụng nó vào với thực tiễn. - Tiếp đến là phương pháp gợi mở. Đây có lẽ là phương pháp được ưa chuộng nhất, đặc biệt là đối với các học viên cao học vì nó phát huy tinh thần tự học, tự nghiên cứu. Bằng phương pháp này, giáo viên sẽ đưa ra các mở đầu của vấn đề để người học tự có những nghiên cứu, tư duy và phát triển ý tưởng giải quyết vấn đề. Tại phương pháp này, vấn đề học độc lập, chủ động được coi trọng và đề cao. - Ngoài ra, phương pháp áp dụng dạy học cho từng đối tượng cũng được đề cao. Với phương pháp này, từng đối tượng sẽ được phân loại theo đúng khả năng và được tiếp cận với phương thức giảng dạy phù hợp. Từ đó, việc học của từng học viên sẽ được cải thiện hơn. Cụ thể, cho đến nay, ví dụ trong việc dạy tiếng anh. Để mang đến cho học viên những trải nghiệm phù hợp nhất, ban đầu người dạy sẽ cho học viên làm một bài kiểm tra để xác định trình độ hiện tại của học viên và xếp vào các lớp phù hợp. Từ đây, không những các học viên được tiếp cận các kiến thức phù hợp mà cũng tự tin hơn bởi không nhận thấy sự chênh lệch quá nhiều về học lực đối với các bạn bè cùng trang lứa. Câu 2: Tư tưởng chính trị xã hội trong triết học Khổng Tử và ý nghĩa hiện thời của nó đối với cán bộ quản lý giáo dục hiện nay KT là người sáng lập ra Nho giáo. Tư tưởng ctri của ông là vì sự bình ổn của xã hội – một xã hội bình thịnh trị. Theo Khổng Tử là chính đạo, đạo người làm chính trị là phải ngay thẳng, lấy chính trị để dẫn dắt dân. Để thiên hạ có đạo, quay về lễ, phải củng cố điều Nhân, coi trọng lễ nghĩa thì xã hội sẽ ổn định. Khổng Tử đề ra thuyết : “ Nhân – LễChính danh”. + Nhân là phạm trù trung tâm trong học thuyết chính trị của Khổng Tử. Nhân là thước đo quyết định thành bại, tốt xấu của chính trị. Nội dung của Nhân bao hàm các vấn đề đạo đức, luân lí của xã hội. Biểu hiện trong chính trị như sau: . Thương yêu con người . Tu dưỡng bản thân, sửa mình theo lễ là nhân . Tôn trọng và sử dụng người hiền Sống trong một xã hội nông nghiệp, sản xuất kém phát triển vào cuối đời Xuân Thu, đầy cảnh “đại loạn” và “vô đạo”, bản thân đã từng làm nhiều nghề “bỉ lậu” rồi làm quan cai trị, Khổng Tử nhận thức được nhu cầu về hoà bình, ổn định, trật tự và thịnh vượng của xã hội và mọi thành viên. Khác với Trang Tử coi đời như mộng, kiếp người phù du chỉ cốt “toàn sinh” cho bản thân, Khổng Tử là một người “nhập thể” và luôn trăn trở với chuyện quản lý của xã hội theo cách tốt nhất. Song, ông không phải là một nhà cách mạng từ dưới lên, ông chỉ muốn thực hiện những cải cách xã hội từ trên xuống, bằng con đường “Đức trị”. Xã hội lý tưởng mà Khổng Tử muốn xây dựng là một xã hội phong kiến có tôn ti, trật tự. Từ Thiên Tử tới các chư hầu lớn nhỏ, từ quý tộc tới bình dân, ai có phận nấy, đều có quyền lợi và nhiệm vụ sống hoà hảo với nhau, giúp đỡ nhau, nhất là hạng vua chúa, họ phải có bổn phận dưỡng dân- lo cho dân đủ ăn đủ mặc, và bổn phận giáo dân bằng cách nêu gương và dậy lễ, nhạc, văn, đức, bất đắc dĩ mới dùng hình pháp. Xã hội đó lấy gia đình làm cơ sở và hình mẫu, trọng hiếu đễ, yêu trẻ, kính giá. Mọi người đều trọng tình cảm và công bằng, không có người quá nghèo hoặc quá giàu; người giàu thì khiêm tốn, giữ lễ, người nghèo thì “lạc đạo”. Cái “cốt” lý luận để xây dựng xã hội trên, cái giúp cho các nhà cai trì lập lại trật tự từ xã hội vô đạo chính là đạo Nho – đạo Nhân của Khổng Tử. Cho nên, dù có nói về chính trị, giáo dục hay đạo đức thì Khổng Tử đều xuất phát từ vấn đề nhân sự và mục đích của ông chính là xaay dựng một xã hội nhân bản. Học thuyết Nhân trị của Khổng Tử cũng là một học thuyết quản lý xã hội nhằm phát triển những phẩm chất tốt đẹp của con người, lãnh đạo – cai trị họ theo nguyên tắc đức trị: người trên noi gương, kẻ dưới tự giác tuân theo. Về đạo Nhân: “Nhân là yêu người” (Nhân là ái nhân). Nhân là giúp đỡ người khác thành công “Người thân, mình muốn thành công thì cũng giúp người khác thành công, đó là phương pháp thực hành của người nhân”. Nhưng Khổng Tử không nói đến tính nhân chung chung ông coi nó như đức tính cơ bản của nhà quản lý. Nói cách khác, người có nhân luôn tìm mọi cách đủ thu lợi về mình, nhân là nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lý (trong quan hệ nhà quản lý với đối tượng bị quản lý) vưà là đạo đức và hành vi của các chủ thể quản lý. Khổng Tử nâng tư tưởng nhân lên thành đạo (nguyên tắc sống chung cho xã hội) vì là một nhà tư tưởng quản lý sâu sắc, ông thấy đó là nguyên tắc chung gắn kết giữa chủ thể và khách thể quản lý đạt hiệu quả xã hội cao: “người quân tử học đạo thì yêu người, kẻ tiểu nhân học đạo thì dễ sai khiến” (Dương hoá). – Nhân và lễ: Nhân có thể đạt được qua Lễ, Lễ là hình thức biểu hiện của Nhân, thiếu Nhân thì Lễ chỉ là hình thức giả dối: “Người không có đức Nhân thì Lễ mà làm chi”. – Nhân và Nghĩa: Đúng lễ cũng là làm đúng nghĩa rồi. Nhân gắn liền với Nghĩa vì theo Nghĩa là thấy việc gì đáng làm thì phải làm, không mưu tính lợi của cá nhân mình. “Cách xử sự của người quân tử, không nhất định phải như vậy mới được, không nhất định như kia là được, cứ hợp nghĩa thì làm”, làm hết mình không thành thì thôi. Tư tưởng nhân ái của Khổng Tử có thể so sánh với tình bác ái của chúa Giê su và Đức phật. Nhưng ông khác 2 vị kia ở chỗ, trong tình cảm, có sự phân biệt tuỳ theo các mối quan hệ: trước hết là ruột thịt, sau đến thân, quen và xa hơn là người ngoài. – Nhân và Trí: Trí trước hết là “biết người”. Có hiểu biết sáng suốt mới biết cách giúp người mà không làm hại cho người, cho mình: “Trí giả lợi Nhân”. Rõ ràng là người Nhân không phải là người ngu, không được để cho kẻ xấu lạm dụng lòng tốt của mình. Trí có lợi cho Nhân, cho nên khi Khổng Tử nói đến người Nhân – quân tử, bao giờ cũng chú trọng tới khả năng hiểu người, dùng người của họ. Phải sáng suốt mới biết yêu người đáng yêu, ghét người đáng ghét. – Nhân và Dũng: Dũng là tính kiên cường, quả cảm, dám hy sinh cả bản thân mình vì nghĩa lớn. Khổng Tử khen Bá Di, Thúc Tê, thà chết đói chứ không thèm cộng tác với kẻ bất nhân, là người Nhân. Khổng Tử rất ghét những kẻ hữu Dũng bất Nhân, vì họ là nguyên nhân của loạn. Đạo của Khổng Tử không quá xa cách với đời. Nhân – Trí – Dũng là những phẩm chất cơ bản của người quân tử, là tiêu chuẩn của các nhà quản lý- cai trị. Tư tưởng đó của Khổng Tử được Hồ Chsi Minh kế thừa có chọn lọc và nó vẫn còn ảnh hưởng đối với sụ phát triển của xã hội hiện nay. Khổng Tử cũng mong phú quý, nhưng ông chỉ thừa nhận nó trở thành ích lợi cho xã hội khi nó “không trái với đạo lý” và phải đạt được bằng những phương tiện thích đáng. Khổng Tử khuyên các nhà cai trị không nên chỉ dựa vào lợi để ra quyết định quản lý: “nương tựa vào điều lợi mà làm hay là sinh ra nhiều điều oán” (Lý nhân, IV). Ông biết họ có nhiều ưu thế để tranh lợi với cấp dưới và những người lao động luôn phải chịu mức sống thấp hơn, cho nên, điều quan trọng đối với nhà quản lý là phải nghiêm khắc với mình, rộng lượng với người và lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ. Chỉ như vậy xã hội mới có cái lợi dài lâu là môi trường chính trị – xã hội ổn định, các giai cấp hợp tác cùng làm ăn vì mục tiêu chung: kinh tế thịnh vượng, tinh thần tốt đẹp. Khổng Tử khuyên các nhà quản lý phải “khắc phục được tư dục”, không nên cầu lộc cho cá nhân mình, cứ chuyên tâm làm tốt công việc thì “bổng lộc tự khắc đến”. Làm cho dân giàu là mục tiêu đầu tiên, cơ bản của nhà quản lý”: đối với những người nông dân nghèo khổ đương thời, Khổng Tử biết lợi ích kinh tế là nhu cầu thiết yếu của họ, nên ông biết đạo Nhân sẽ khó thực hiện được khi quần chúng còn nghèo khổ: “Nghèo mà không oán là khó, giàu mà không kiêu là dễ” (Hiếu Vấn). Khổng Tử sang nước Vệ, Nhiễm Hữu đánh xe, Khổng Tử nói: “Dân đông thay”, Nhiễm Hữu hỏi: “Đã đông rồi làm gì hơn nữa?”, Khổng Tử nói: “ Làm cho dân giàu”, Nhiễm Hữu hỏi: “ Đã giàu rồi, lại làm gì hơn nữa?”, Khổng Tử nói: “Giáo dục họ”. Tư tưởng “làm cho dân giàu”, “tiên phú, hậu giáo” là tư tưởng duy vật của Khổng Tử, được các học giả của Nho gia và Mắc gia sau này phát triển thêm. Nhưng những giá trị tư tưởng của Khổng Tử để lại cho hậu thế đã không bị mai một theo thời gian. Ngày nay, hệ thống học thuyết của Khổng Tử đã trở nên lạc hậu, trước hết là phần nội dung liên quan tới vấn đề thế giới quan, song nhiều triết lý của ông về đạo đức – đạo lý, giáo dục, cai trị – quản lý con người và xã hội… vẫn là những nguyên tắc và triết học chỉ đạo một số hoạt động. Ví dụ như: Khổng Tử nhấn mạnh tới quá trình tự tu dưỡng trong hoạt động quản lý: “tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ” (Đại học). Người Nhân thì phải hết lòng vì người, biết từ bụng ta suy ra bụng người: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Luận ngữ). Trong hoạt động kinh tế, không chỉ căn cứ vào lợi nhuận đơn thuần “Giàu sang là điều ai cũng muốn, nhưng nếu được giàu sang mà trái với đạo lý thì người quân tử không thèm”. Cứ làm việc tốt, phục vụ người tốt thì “bổng lộc tự khắc đến”. Ở đây có một điểm cần nói rõ hơn: “Chính” mà Khổng Tử nói ở đây là chính trị, chính sự. Và chính trị là chỉ mọi biện pháp được thi hành để quản lý đất nước, làm cho chính sự được quản lý chặt chẽ; chính sự là chỉ việc làm hành chính. Khổng Tử chủ trương tham gia chính trị nuôi dưỡng nhân tài “Tòng chính” có nghĩa là chấp chính. Lúc bấy giờ, chưa thể có quản lý xí nghiệp cũng như khái niệm về quản lý xí nghiệp. Thời bấy giờ, việc quản lý quốc gia là việc mọi người quan tâm nhất, đó cũng là chính sự. Do đó, Khổng Tử quan tâm đến “Chính”. Quan tâm và nghiên cứu việc quản lý quốc gia là rất tự nhiên. Nhưng quản lý quốc gia là quản lý! Còn về điểm quản lý con người, nó cũng có nét chung như bất cứ việc quản lý nào. Do đấy, tư tưởng quản lý của Khổng Tử có ý nghĩa phổ biến. Quản lý học phương Tây truyền thống cho rằng quản lý là quản lý, luân lý đạo đức là luân lý đạo đức, hai phạm trù đó không có liên quan với nhau. Nhưng quản lý là cái gì? Suy cho cùng, quản lý là quản lý con người. Trong quản lý, đối với con người thì quản lý là cái gì? Quản lý mọi quan hệ giữa người với người. Còn luân lý đạo đức, là quy phạm chuẩn mực hành vi giữa con người với con người. Do đấy giữa luân lý đạo đức và quản lý là có quan hệ mật thiết. Quản lý có nghĩa là xử lý tốt mọi quan hệ giữa con người với nhau. Ví dụ trong quản lý xí nghiệp là cần xử lý tốt hai quan hệ lớn của con người với nội bộ xí nghiệp bên ngoài. Quan hệ giữa xí nghiệp với bên ngoài là: Quan hệ giữa xí nghiệp với khách hàng, giữa xí nghiệp với tiền tệ, tiêu thụ, cung ứng… Do đấy cũng tự nhiên rút ra kết luận là Khổng Tử không có tư tưởng quản lý. Nhưng qua phân tích ở trên, chúng ta có thể nhìn thấy rõ nhận thức ấy là phiến diện. So với cách quản lý truyền thống của phương Tây và pháp gia cổ đại của Trung Quốc, cách quản lý của Khổng Tử đi một con đường khác. Ông nhấn mạnh đức trị, nhấn mạnh lấy luân lý đạo đức để giáo hoá nhân dân. Đương nhiên ở thời Khổng Tử, nội dung của luân lý khác với ngày nay. Trong khi Khổng Tử nhấn mạnh nghiên cứu “vị chính” quản lý, thì nội dung luân lý và nội dung quản lý có sự khác biệt. Nhưng đó chỉ là sự cá biệt của vấn đề, không thể thay đổi được kết luận chung về mối quan hệ khăng khít giữa quản lý và luân lý đạo đức. Quản lý là thể thống nhất hữu cơ của tư tưởng quản lý và thuận quản lý. Tư tưởng quản lý là cái bản chất, thuật quản lý chỉ là cái phát sinh mà thôi. Nhân tố cơ bản quyết định tính chất quản lý và thành bại của nó là tư tưởng quản lý chứ không phải là thuật quản lý. Từ ý nghĩa ấy, lấy “thuật” để thay thế quản lý phiến diện. Cũng vì lý do ấy, quyết không nêu vì Khổng học không có “thuật” mà phủ định Khổng Tử từng bàn đến quản lý, phủ định tư tưởng quản lý của Khổng Tử. Vậy, tư tưởng học thuyết lễ trị (Vị Đức) của Khổng Tử là: Làm gì muốn thành công cũng phải có chính danh (lẽ phải), phải biết chọn người hiền tài giúp việc, phải thu phục lòng người, phải đúng đạo và phải tiết kiệm. Các ông cho rằng con người phải chia thành 2 loại: quân tử thì có nghĩa, còn tiểu nhân thì chỉ chăm lo điều lợi. Khổng Tử với tầng lớp quản lý chuyên nghiệp Đạo nhân của Khổng Tử là nền tảng của học thuyết quản lý đức trị, kỷ cương và phát triển thịnh vượng. Trong một xã hội sản xuất thô sơ, có sự đối chọi về lợi ích và tương phản rõ rệt giữa người giàu và kẻ nghèo thì rất khó thực hiện điều nhân cho toàn xã hội. Tư tưởng của Khổng Tử đã được các vua chúa sau này học tập, xây dựng một hệ thống tuyển lựa nhân tài cho quốc gia. Căn cứ vào kết quả các kỳ thi, những người đỗ đạt, dù xuất thân từ giai cấp nào, đều được đề bạt các chức vụ quản lý, từ thấp đến cao. Chế độ tuyển chọn nhân tài này đã tạo ra một đẳng cấp các nhà quản lý ở nhiều nước phương Đông kiểu Khổng giáo. Thuyết chính danh của Khổng Tử đòi hỏi đặt tên đúng sự vật và gọi sự vật bằng đúng tên của nó, khiến danh đúng với thực chất sự vật. Trong quản lý, chính danh là phải làm việc xứng đáng với danh hiệu chức vụ mà người đó được giao. Muốn chính danh thì thân phải chính (có nhân), không chấp nhận thói xảo trá, lừa lọc hoặc việc lạm dụng chức quyền. Đã mang cái danh là vua phải làm tròn trách nhiệm của một vị vua, không sẽ mất cả danh và ngôi. Khổng Tử có tư tưởng khi việc làm vượt quá trách nhiệm và danh vị, Khổng Tử gọi là “Việt vị”. Khổng Tử cho rằng mầm mống của loạn lạc, bất ổn của quốc gia là các hành vi “việt vị”, “tiếm lễ” của tầng lớp cai trị. Ngày nay, nhìn lại, chúng ta thấy tư tưởng quản lý của Khổng Tử có nhiều điểm bảo thủ, thiếu dân chủ và ảo tưởng. Nhưng ở thời ông, luật pháp còn rất sơ sài, quyền lực thực sự được quyết định bởi ý chí và hành vi của vua và tầng lớp cai trị, người dân còn đói nghèo, dốt nát, không có quyền tự bảo vệ mình. Trong bối cảnh như vậy, Khổng Tử muốn xây dựng xã hội lý tưởng bằng cách bắt đầu “từ trên xuống dưới”, ông phải kêu gọi lòng khoan dung, sự gương mẫu của các nhà quản lý. * Liên hệ Bố i cảnh sinh thành tư tưởng giáo du ̣c của Khổng Tử đã cách chúng ta khoảng 2.500 năm. Khoảng cách ấ y tấ t yế u đào thải nhiề u quan niệm mà ông đề xuấ t. Tuy nhiên, vẫn có một số lời bàn của Khổ ng Tử về việc ho ̣c, như: vì sao cần học, học để làm gì, và học thế nào là những bài ho ̣c có giá tri ̣tham khảo cho viê ̣c giáo du ̣c nhân văn hiện nay. Trong lịch sử giáo dục phương Đông, Khổng Tử là người đầu tiên xây dựng một nội dung dạy học và phương pháp dạy học tương đối hệ thống, nhiều điều tiến bộ, đến nay vẫn còn giá trị. Tư tưởng của Khổng Tử là nền tảng cho các thế hệ học trò của ông kế thừa, phát triển để tạo nên một Nho giáo đồ sộ chi phối gần như toàn bộ nền giáo dục phương Đông. Bên cạnh đó việc thành lập tư học cũng là một cuộc cách mạng lớn trong giáo dục, lần đầu tiên đưa giáo dục đến cho mọi tầng lớp nhân dân. Nhờ những đóng góp to lớn đó Khổng Tử được tôn vinh là ông tổ của nền giáo dục phương Đông. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của lịch sử, của tính giai cấp và còn có những điều chưa chặt chẽ trong lập luận nên các giai cấp thống trị đời sau thường lợi dụng quan điểm của ông, thêm thắt vào để lập luận, khai thác tính duy tâm, siêu hình, tính bắt buộc của lễ giáo... nhằm phục vụ cho quyền lợi của giai cấp thống trị. Vì thế nhiều người đời sau cho rằng tư tưởng của ông quá khắt khe và đối lập với quyền lợi của nhân dân lao động. Ngày nay, gạt bỏ những yếu tố duy tâm và tư tưởng phong kiến trong quan điểm của Khổng Tử, nhiều nhà giáo dục trên thế giới đã nghiên cứu và đánh giá cao những giá trị trường tồn trong quan điểm của ông. Những giá trị đó được vận dụng không chỉ trong lĩnh vực dạy học mà đặc biệt được đề cao trong giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ. Chúng ta có thể khẳng định rằng, không phải chỉ trong chế độ phong kiến mà cả trong hiện tại và tương lai, những quan điểm tiến bộ trong quan điểm của Khổng Tử vẫn cần được nghiên cứu, khẳng định và vận dụng cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo của nhân loại; đặc biệt là trong công tác giáo dục ở nước ta hiện nay. Thực tiễn giáo dục hiện nay cho thấy những áp lực về cạnh tranh, xếp hạng, thành tích khiến các trường nên thực dụng hơn khi tập trung đào tạo kỹ năng và hướng đến việc đáp ứng tối ưu yêu cầu của thị trường lao động mà xao lañ g những vấn đề liên quan đến giá trị đạo đức hay lợi ích cộng đồng. Vấn đề đặt ra là giáo dục không chỉ tạo ra con người biết làm việc, mà là đào tạo những con người cá nhân có mục tiêu sống, biết cách tạo ra giá trị cá nhân đồ ng thời có khả năng đóng góp cho cộng đồng như quan điểm của Khổng Tử đó là học để hiểu hơn về đạo. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã, đang có những chủ trương, chính sách nhằm phát triển con người, đổi mới giáo dục, đào tạo. Đảng ta khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện tư duy sáng tạo của người học, nâng cao năng lực tự học của học sinh”. Những chủ trương, chính sách đó xây dựng trên cơ sở không chỉ là sự tiếp thu có chọn lọc những cái mới mà còn kế thừa, phát huy các giá trị tinh hoa trong lịch sử văn minh nhân loại, trong đó có tư tưởng giáo dục của Khổng Tử.. Trong những năm qua nền giáo dục chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý dạy và học trực tuyến, qua Internet, truyền hình, các hoạt động xã hội, ngoại khoá, nghiên cứu khoa học, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. “Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế” Thực tiễn cho thấy, việc dạy, việc học ở nước ta hiện nay cũng cần phải có một cách nhìn, một hướng đi cho phù hợp với thực tế. Bên cạnh việc ta tiếp thu những thành tựu giáo dục tiên tiến, việc kế thừa những kinh nghiệm giáo dục truyền thống là hết sức bổ ích. Tuy tư tưởng giáo dục của Khổng Tử có những hạn chế nhất định trong điều kiện lịch sử, lập trường giai cấp, nhưng nếu gạt bỏ những hạn chế, kế thừa một cách chọn lọc thì tư tưởng đó vẫn có những giá trị tích cực đối với công cuộc đổi mới giáo dục ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Câu 3: Triết lý nhân sinh trong Phật Giáo và ý nghĩa của triết lý nhân sinh này trong giáo dục hiện nay Triết lý nhân sinh trong Phật giáo: 4. Nhân sinh quan theo quan điểm Phật giáo Nhân sinh quan Phật giáo được hiểu là hệ thống quan điểm của Phật giáo về con người, đời sống của con người. Hệ thống quan điểm về nhân sinh quan của Phật giáo chịu sự chi phối của thế giới quan và bởi các ý thức xã hội khác. Nhân sinh quan Phật giáo đề cập đến con người và cuộc sống của con người. Trong đó, nội dung chủ yếu là xuay quanh nỗi khổ của thế gian, vấn đề giải trừ cái khổ. - Đối với con người Phật giáo đưa ra những quan điểm về sự sống, ý nghĩa của sự sống và sinh mạng của con người. - Đối với "cái khổ" nhân sinh quan Phật giáo đề cập đến các vấn đề sau đây: + Nhận thức về "cái khổ" trong thế gian; + Nhận thức về việc giải trừ "cái khổ" của con người; + Nhận thức về vấn đề lìa xa, thoát khỏi "cái khổ" của con người; + Răn dạy, hướng con người tới thiện tâm "cứu khổ, cứu nạn" chúng sinh. 4.1. Nhân sinh quan phật giáo về sự sống của con người Phật giáo luôn cho rằng cuộc sống vô thường. Mọi sự vật luôn luôn biến đổi và phát triển. Nhưng mạng sống của con người có thể kết thúc bất cứ lúc nào mà ta không thể biết trước được. Mạng sống của con người theo thời gian sẽ tiến dần đến điểm kết của sự sống. Trên thế gian này không gì là bất biến, "thế gian vô thường", "nhân tâm vô thường". Thế gian này không có gì là vĩnh hằng, bất biến. Mạng sống con người chỉ là một phần nhỏ trong thế gian này. Phật giáo đã sớm biết rõ điều này, đã nhận chân được cuộc đời vốn vô vọng. Theo Phật giáo "tất cả cả các hành động, tạo tác, truy cầu ở thế gian đều là khổ". Sinh mạng là điều đáng quý, vạn vật sinh ra đều có sứ mạng. Con người sinh ra đều có thể xác và linh hồn. Theo quan niệm phật giáo, tuy rằng sinh mạng sẽ kết thúc nhưng con người sau khi chết đi sẽ không phải là sự kết thúc. Phật giải thích quy luật sau khi chết đi của con người theo thuyết Nhân quả, Nghiệp báo, Luân hồi. Vạn vậy được kết nối nhờ nhân duyên của nhau, cứ thể tự sinh rồi tự diệt là luân hồi. Trong đó, thân xác con người thuộc về thuyết Danh sắc, Lục đại, Ngủ uẩn trong Phật giáo. Khi con người tồn tại đều sẽ có ba hoạt động chính, trong đó: - Các hoat động thông qua hành vi. Những hành vi này sẽ tạo ra hậu quả, Phật giáo gọi đó là thân nghiệp; - Các hoạt động bằng lời nói, phát ngôn. Hậu quả của lời nói là khẩu nghiệp; - Các hoạt động tạo nên do suy nghĩa của con người. Hậu quả là ý nghiệp. Theo Luật Nhân quả tất cả các hoạt động trên xoay quanh hai phạm trù thiện và ác, điều này tạo ra nghiệp lực, báo ứng hay còn gọi là "gieo nhân nào, gặt quả nấy". Phật còn cho rằng, con người ở kiếp này phải chịu quả báo về những việc làm ở kiếp trước của họ. 4.2. Quan niệm về "khổ" trong nhân sinh quan Phật giáo xuyên suốt trong toàn bộ thuyết nhân sinh quan của Phật giáo đều hướng con người đến sự giải thoát khỏi nỗi khổ. Phật quan niệm "Đời là bể khổ". Để đat được sự giải thoát, Phật giáo đề ra bốn chân lý tuyệt diệu, thiêng liêng mà mọi người cần phải thực hiện, đó là tứ diệu đế: Khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế. Khổ đế là một triết lý nhân sinh tương ứng với quan điểm bản chất của con người là sự "khổ". Có thể nói, quan điểm này có phần tiêu cực. Trong đó, tất cả nỗi khổ trong cuộc đời con người được thể hiện thông qua "sinh-lão-bệnh-tử". Để thoát khỏi sự khổ, Phật giáo đề ra quan điểm từ bỏ "tham-sân-si" để từ bỏ điều ác, khi ấy con người sẽ thoát khỏi nghiệp quả, báo ứng từ đó giải thoát về mặt tâm hồn trước nỗi khổ của chúng sinh. Phật giáo lấy việc giải thoát đau khổ làm trọng tâm tư tưởng trong giáo lý của mình. Không chỉ từ bỏ điều ác, Phật giáo còn đòi hỏi trách nhiệm về đạo đức làm người, không được ngơ ngác trước nỗi khổ của người khác. Phật giáo không lấy giáo lý làm trọng mà chỉ cho rằng đó là các phương tiện để đạt đến chân lý cuối cùng. Điểm tương đồng trong quan niệm của Phật giáo với tư tưởng Mác - Lê nin là việc cũng lấy con người làm điểm xuất phát, đồng thời cũng sẽ hướng đến cuộc sống tốt đẹp cho con người. Ý nghĩa: Người Việt Nam có tình yêu quê hương, đất nước, yêu thương con người sâu sắc, rộng lớn cùng với thái độ tôn trọng, đề cao những giá trị tốt đẹp của con người rất phù hợp với các quan niệm của Phật giáo. Vì thế mà từ lâu Phật giáo đã chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần người dân Việt. Giáo dục của Phật giáo rất giàu nhân bản, bởi vì nó giúp cho mọi người có niềm tin chân chính, quyết tâm thực hành chánh pháp để trở thành những con người hoàn thiện, những con người có đời sống thanh cao, với hai phẩm chất nổi bật là từ bi và trí tuệ. Trải qua khoảng 20 thế kỷ tồn tại và phát triển cùng với dân tộc, Phật giáo đã để lại những ảnh hưởng sâu sắc trong lịch sử, văn hóa – xã hội. Với triết lý từ bi, hỷ xả, khuyến khích con người hướng thiện, Phật giáo đã dễ dàng đi vào lòng người, có tác dụng hoàn thiện nhân cách đạo đức, hướng con người đến lối sống vị tha, bình đẳng, bác ái. Thực tế đã chứng minh, Phật giáo phù hợp với đạo đức, lẽ sống của con người Việt Nam, và nó đã có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Ngày nay, trong bối cảnh văn hóa, kinh tế, chính trị phức tạp, chúng ta cần phát huy mạnh mẽ những giá trị tích cực của tôn giáo này để góp phần xây dựng nền tảng đạo đức của con người Việt Nam nói chung và thế hệ học sinh – sinh viên nói riêng. Trong giáo dục, vai trò người thầy thật sự quan trọng, nếu như ngày xưa cả làng trên xóm dưới, chỉ có một ông thầy đồ cho xin cái chữ, thì ngày nay cũng một ngôi làng nhưng đã có tới 5-7 người thầy. Người thầy nào cũng giỏi cũng hay, quả là khó cho đám học trò khi đưa ra quyết định nên theo học thầy nào. Và lúc này xã hội sẽ đóng vai trò là người nhận định, một người thầy không chỉ giỏi về kiến thức chuyên môn, mà họ phải c òn có đạo đức nghề nghiệp, thái độ ứng xử có văn hoá, lời ăn tiếng nói chuẩn mực… ấy là điều mà học trò ở thời đại mới cần ở người thầy. Nếu như chúng ta chú ý và quan tâm sẽ nhận thấy một điều rằng, khoảng 3 - 4 năm trở lại đây đã có sự ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo tới một phần của giáo dục Việt Nam. Nói cụ thể hơn đó chính là Phật giáo. Với một xã hội mà ở đó trình độ dân trí được nâng cao, nhưng lại tỷ lệ nghịch với văn hóa và đạo đức con người, thì Phật giáo là biện pháp và lựa chọn tối ưu cho chúng ta. Vì giáo lý nhà Phật không chỉ là những lý thuyết suông hay những lời sáo rỗng mà là nguyên lý trường tồn qua bao thế kỷ qua, đã được ông cha ta kiểm nghiệm ứng dụng hơn 2500 năm. Ở đó ta được trở về với chính mình, tâm linh của chính mình. Những đau đớn muộn phiền khổ ải ngoài kia được hóa giải khi ta có niềm tin. Hành động bên ngoài thể hiện cái nội tâm bên trong của ta, nếu tâm ta thảnh thơi, không oán hận thì hành động sẽ trở lên nhẹ nhàng, ngôn ngữ từ ái, yêu thương mọi người, cảm nhận nỗi khổ của người khác như của chính mình. Như vậy cũng đã góp phần làm đẹp cho đời cho xã hội và khi ấy ta trở thành tấm gương cho những bạn trẻ khác noi theo, người làm giáo dục chỉ với mong muốn tìm được những con người đủ chuẩn mực đạo đức, tri thức, đủ lòng bao dung rộng lượng, để hướng dẫn cho thế hệ trẻ, tránh lầm đường lạc lối vào những cạm bẫy tội lỗi. Thời gian gần đây có một dấu hiệu khả quan, vào những ngày lễ lớn của Phật giáo các bạn trẻ đều về chùa tham dự và tu tập tìm chốn bình yên nơi tâm hồn, đó được coi là một dấu hiệu đáng mừng cho giáo dục Việt Nam nói chung, và đạo đức của thế hệ trẻ nói riêng. Ở chốn thiền môn họ không còn ảnh hưởng bởi những thói hư tật xấu, những trò lố làm đạo đức con người suy đồi. Họ sẽ được dạy những điều cơ bản nhất để hoàn thiện một con người có ích cho xã hội, gạt bỏ đi những tham sân si đang ngự trị trong tâm trí họ. Vì đạo đức làm người, tri thức xã hội là điều kiện cần và đủ để hình thành một con người hoàn thiện trong thời đại mới. Nói - làm - đúc kết thành nguyên lý. Nghĩ kỹ, nói ít, tư duy nhiều, mất cả đời người để suy nghĩ nhưng lại chỉ để nói hoặc trình bày từ 3-5 phút đồng hồ. Như vậy có nghĩa là gì? Giáo dục phải đào tạo ra những con người có chiều sâu nhận thức và chiều rộng về lòng nhân ái. Có thể thấy rằng những tư tưởng Phật giáo cũng có ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống của thanh thiếu niên hiện nay. Như ở các trường phổ thông, các tổ chức đoàn, đội luôn phát động các phong trào nhân đạo như Lá lành đùm lá rách, quỹ Giúp bạn nghèo vượt khó, quỹ Viên gạch hồng,... Chính vì vậy ngay từ nhỏ các em học sinh đã được giáo dục tư tưởng nhân đạo, bác ái, giúp đỡ người khác mà cơ sở của nền tảng ấy là tư tưởng giáo lý nhà Phật đã hoà tan với giá trị truyền thống của con người Việt Nam. Sự đồng cảm với những con người gặp khó khăn, những số phận bất hạnh cô đơn, cộng với truyền thống từ bi, bác ái đã giúp chúng ta, những học sinh, sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường có đủ nghị lực và tâm huyết để lập ra những kế hoạch, tham gia vào những hoạt động thiết thực như hội chữ thập đỏ, hội tình thương, các chương trình phổ cập văn hoá cho trẻ em nghèo, chăm nom các cụ già neo đơn... Hình ảnh hàng đoàn thanh niên, sinh viên hàng ngày vẫn lăn lội trên mọi nẻo đường tổ quốc góp phần xây dựng đất nước, tổ quốc ngày càng giàu mạnh thật đáng xúc động và tự hào. Tất cả những điều đó chứng tỏ thanh niên, sinh viên ngày nay không chỉ năng động, sáng tạo đầy tham vọng trong cuộc sống mà còn thừa hưởng những giá trị đạo đức tốt đẹp của ông cha, đó là sự thương yêu, đùm bọc lẫn nhau giữa mọi người, lòng thương yêu giúp đỡ mọi người qua cơn hoạn nạn mà không chút nghĩ suy, tính toán. Và ta không thể phủ nhận Phật giáo đã góp phần tạo nên những giá trị tốt đẹp ấy. Văn kiện Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Tôn trọng và phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo”. Việc vận dụng tư tưởng vào việc giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh – sinh viên Việt Nam hiện nay là rất cần thiết, xuất phát từ cơ sở thực tiễn lẫn cơ sở khoa học. Câu 4: Phân tích những nội dung cơ bản của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam và liên hệ thực tế hiện nay – Tư tưởng yêu nước trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam: Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, tư tưởng yêu nước không chỉ là một tư tưởng chính trị mà còn là một tư tưởng đạo đức và nhân văn cao cả. Đồng thời, tư tưởng yêu nước của người Việt Nam còn thường được các nhà tư tưởng Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử suy tư ở chiều sâu của những triết lý và trở thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Vì vậy, đây cũng chính là một nội dung của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một hệ thống các quan niệm ở chiều sâu triết học về dân tộc và độc lập dân tộc; về một quốc gia độc lập ngang hàng với phương Bắc và những quan niệm về nguồn gốc, động lực của cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước. Những tư tưởng này trở thành những nội dung cốt lõi của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam. Ý thức về dân tộc và độc lập dân tộc đã từng nảy sinh rất sớm ở các cư dân người Việt thuộc giai đoạn trước khi giành được quyền độc lập dân tộc nhằm xây dựng một quốc gia có chủ quyền ngang hàng với các triều đại phong kiến phương Bắc (từ thế kỷ X). Ý thức về dân tộc và độc lập dân tộc đó dần dần được hình thành, phát triển ở tầm quan điểm và luận lý được nâng cao trong giai đoạn lịch sử mới khi dân tộc đã giành được quyền độc lập tự chủ. Kết hợp quan niệm thiên văn và địa lý, người Việt Nam đã từng bước khẳng định sự tồn tại độc lập của mình với tộc Hán, không phụ thuộc vào tộc Hán như quan niệm của người Hán từng đưa ra làm tư tưởng cho các cuộc xâm lược xuống phía nam. Tư tưởng độc lập đó, đến thời Lý đã được Lý Thường Kiệt kế thừa và khẳng định “Sông núi nước Nam thì vua nước Nam trị vì” (“Nam quốc sơn hà Nam đế cư”). Trên lĩnh vực nhận thức lý luận, sự bức bách của cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm buộc các nhà tư tưởng phải có sự đi sâu hơn, khái quát cao hơn, toàn diện hơn về khối cộng đồng tộc Việt. Nguyễn Trãi là người đã thực hiện được sứ mệnh này. Trong các bức thư gửi quân Minh và nhất là trong tác phẩm Đại cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi đã chứng minh rằng, cộng đồng tộc Việt có đủ các yếu tố địa lý, cương vực, phong tục, lịch sử, nhân tài nên nó đã là một cộng đồng người có bề dày lịch sử ngang hàng với cộng đồng người của phương Bắc, không phụ thuộc vào phương bắc. Nhận thức đó của Nguyễn Trãi đã nêu lên được các yếu tố cần thiết làm nên một dân tộc, đã đặt cơ sở lý luận cho sự độc lập dân tộc. Lý luận đó đã đạt tới đỉnh cao của quan niệm về dân tộc độc lập dưới thời kỳ phong kiến Việt Nam. Nó tạo nên sức mạnh cho cộng đồng người Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống quân Minh xâm lược ở đầu thế kỷ XV và cả giai đoạn lịch sử sau này. Nhưng khi thực dân Pháp xâm lược Việt nam, lý luận trên tỏ ra bất lực. Phải hơn nửa thế kỷ sau, vào những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh mới tìm ra được lý luận cứu nước mới và Người đã làm cho khái niệm dân tộc và dân tộc độc lập có nội dung và sắc thái ngang tầm thời đại mới trên một cơ sở thế giới quan mới. Những quan niệm về nhà nước của một quốc gia độc lập ngang hàng với phương Bắc cũng là một nội dung cơ bản của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Ở Việt Nam trước và sau khi giành được độc lập dân tộc từ sự thống trị của các tập đoàn phong kiến phương Bắc, phạm trù dân tộc nằm trong hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến, gắn với tính chất và địa vị cũng như với chế độ chính trị – xã hội của giai cấp phong kiến. Chế độ chính trị – xã hội đã trở thành hình thức đặc biệt quan trọng để cố kết các yếu tố cấu thành dân tộc và là điều kiện để thực hiện quyền dân tộc, Trước khi người Hán đến, tộc Việt đã có nhà nước Văn Lang và Âu Lạc của mình. Người Hán đến, nhà nước Âu Lạc bị tiêu diệt, lãnh thổ của tộc Việt bị biến thành một bộ phận của tộc Hán. Người Việt đấu tranh chống lại sự thống trị của người Hán cũng có nghĩa là đấu tranh giành quyền tổ chức ra nhà nước riêng của mình, chế độ riêng của mình. Quyền xây dựng nhà nước riêng, chế độ riêng là mục tiêu hàng đầu của các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Xây dựng nhà nước trong lúc bấy giờ không thể không tính tới các yếu tố quốc hiệu, quốc đô, đế hiệu, niên hiệu,… Cần phải làm sao để các quốc danh, quốc hiệu đó vừa thể hiện được sự độc lập dân tộc, vừa cho thấy sự bền vững, sự phát triển và sự ngang hàng với các triều đại phương Bắc. Để thực hiện điều này, Lý Bí đã từng từ bỏ luôn các tên gọi mà họ đã áp đặt cho nước ta, như “Giao Chỉ”, “Giao Châu”, “Nam Giao”, “Lĩnh Nam” vv.. Đó là những tên gọi gắn liền với sự phụ thuộc vào phong kiến phương Bắc. Lý Bí đã đặt tên nước ta là Vạn Xuân. Sau này nhà Đinh đặt tên nước là Đại Cồ Việt, còn nhà Lý lại đặt quốc hiệu là Đại Việt… “Hiệu” của người đứng đầu quốc gia cũng được chuyển từ Vương hiệu sang Đế hiệu để chứng tỏ sự độc lập ngang hàng với Hoàng Đế phương Bắc. Kinh đô cũng được chuyển từ Cổ Loa đến Hoa Lư, rồi từ Hoa Lư đến Thăng Long để có được nơi “Trung tâm của | bờ cõi đất nước… vị trí ở giữa bốn phương, muôn vật phong phú tốt tươi… chỗ tụ họp của bốn phương” (Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn), nơi xứng đáng là kinh đô của một nước độc lập và phát triển phồn thịnh. Lập luận về dân tộc độc lập và quốc gia có chủ quyền là một vũ khí quan trọng trong tay các lực lượng kháng chiến, song bản thân nó không đủ để làm nên chiến thắng. Muốn chiến thắng được kẻ thù đông đảo và hùng mạnh hơn mình gấp nhiều lần thì vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để động viên được sức mạnh của toàn dân, để chuyển sức mạnh của người Việt Nam từ yếu thành mạnh. Đây là những vấn đề thuộc khoa học quân sự và thuộc tầm chiến lược của cuộc kháng chiến chống giặc. Do vậy, những suy tư ở chiều sâu triết học về nguồn gốc và động lực của cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước cũng đã trở thành một nội dung quan trọng và cơ bản của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Trong lịch sử tư tưởng dân tộc phải tính tới các quan điểm tích cực đối với dân. Lý Công Uẩn từng nhấn mạnh “Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi”. Lý Phật Mã nói: “Nếu trăm họ mà no đủ thì ta lo gì thiếu thốn”. Trần Nhân Tông thì nói: “Ngày thường có thị vệ hai bên, đến khi nước nhà hoạn nạn thì chỉ có bọn gia nô đi theo thôi”. Nguyễn Trãi nói: “Chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân”. Lý Thường Kiệt nói “Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân” vv.. Đến thời đại Hồ Chí Minh, quan niệm về dân đã được phát triển đến một trình độ cao hơn và có cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Tư tưởng trọng dân đã là cơ sở cho đường lối đề cao Nhân, Nghĩa và cho đối sách nhân hậu, cho những biện pháp nhằm hạn chế mâu thuẫn giai cấp trong xã hội. – Quan niệm về đạo làm người trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam: Một trong những vấn đề được các nhà tư tưởng Việt Nam trong lịch sử đặc biệt quan tâm là vấn đề về đạo làm người, bởi lẽ đây là vấn đề có liên quan mật thiết với việc xác định cơ sở tư tưởng của hành động chính trị, đạo đức và nhân sinh. Quá trình suy tư về đạo làm người đã dẫn các nhà tư tưởng Việt Nam trong lịch sử tiếp thu tinh hoa của cả ba đạo Nho, Phật, Lão – Trang và kết hợp chúng trong một hệ tư tưởng thống nhất cho phù hợp với điều kiện lịch sử chính trị, đạo đức và cuộc sống của con người Việt Nam. Có thể nhận thấy hầu như trong các trước tác và trong lối sống của các nhà tư tưởng lớn Việt Nam thời phong kiến đều có sự thấm nhuần những tinh túy của cả ba đạo Nho, Phật và Lão – Trang. Tùy theo các điều kiện lịch sử cụ thể mà có thể nhận thấy vai trò trội hơn của mỗi đạo trong mỗi nhà tư tưởng cũng như trong mỗi tình huống cụ thể. Trong giai đoạn lịch sử Lý – Trần, đạo Phật và đạo Lão – Trang có xu hướng phát triển và ảnh hưởng trội hơn đạo Nho. Ngược lại, trong giai đoạn lịch sử thời Lê – Nguyễn, đạo Nho lại có xu hướng được tôn vinh. Mỗi nhà tư tưởng, khi nhập thế vào đời phò vua, giúp nước thường chịu nhiều ảnh hưởng của những tư tưởng đạo Nho. Ngược lại, khi lui về ở ẩn hoặc trong thời kỳ thanh bình của đất nước lại có xu hướng tôn vinh những tư tưởng của đạo Phật và đạo Lão – Trang. Liên hệ thực tế hiện nay: - Cho đến nay, xã hội phát triển đa dạng với chủ trương hòa nhập với nhiều hình thái kinh tế, hòa nhập và phát huy hệ tư tưởng đã được Hồ Chí Minh tiếp thu và xây dựng trước đó. Rõ ràng, với sự phát triển ngày càng rõ ràng đã chứng minh được sự đúng đắn trong việc kế thừa và tiếp thu các tư tưởng phù hợp của Bác nhằm áp dụng đối với Việt Nam. Tuy nhiên, bởi việc phát triển một xã hội hòa nhập, toàn cầu hóa, đề cao tính tự do của con người, cũng vì thế mà một bộ phận các bạn trẻ hiện nay đang dần có những tư tưởng quá đà, dẫn đến tình trạng suy đồi đạo đức (tiếp cận với mạng xã hội quá sớm, không có sự kiểm duyệt thông tin dẫn đến việc trẻ em tiếp xúc đến nhiều khía cạnh không hợp tuổi, thậm trí tệ hơn là hình thành nên những suy nghĩ, thế giới quan không đúng đắn khi nhận thức về thế giới, xã hội.). Các hiện tượng suy đồi đạo đức rất dễ dàng bắt gặp hiện nay như con cãi cha mẹ, trò đánh thầy, bạn bè gây gổ đánh nhau, các hình thức trộm cắp xảy ra liên miên. Các hiện tượng này gợi ta nhớ đến đạo Nhân của Khổng Tử. Và có lẽ hiện nay trong việc giáo dục trẻ em, chúng ta cũng cần phải áp dụng phần nào các phẩm giá tiêu chuẩn đạo đức cố hữu cần có trong giới trẻ và dần thúc đẩy việc cải thiện nhận thức và sống có ích hơn đối với đời. - Ngoài ra tinh thần yêu nước cũng được phát huy trong quá trình phòng chống dịch covid 19 những năm gần đây. Đó như một phẩm cách đã ăn sâu vào gen của người Việt Nam. Mặc dù không được thể hiện trong thời điểm hiện thời nhưng rõ ràng trong các trường hợp yêu cầu mối quan hệ cộng đồng, nhận thức và tinh thần yêu nước của Việt Nam được thúc đẩy và thể hiện rất rõ ràng. Bên cạnh đó việc áp dụng cơ chế 1 Đảng lãnh đạo cũng thể hiện sự sáng suốt của nhà nước, dẫn đến sự nhất quán của cả nước, đặc biệt trong trường hợp cần đến sự nêu cao tinh thần cộng đồng của nhân dân Câu 5: Phân tích vai trò của Hồ Chí Minh với việc phát triển tư tưởng triết học Việt Nam (câu này dễ ra) P’ xâm lược 2 vd lớn: giải quyết Phong kiến nhà Nguyễn và c’ giặc Tư tưởng HCM trong việc hình thành TH VN: Cô chữa: Thông thường, các nhà triết học thường ẩn sau một hệ tư tưởng chính trị nhất định (vd phương Tây có ông heghen,….. P đông vd như Ấn Độ là Phật Giáo, TQ cổ??? là Nho giáo, ở Việt Nam, Hồ Chí Minh sau quá trình tìm đường cứu nước nhằm tìm kiếm, học hỏi, vận dụng Cần có ND trong slide của cô (2.3. Vai trò của HCM với việc phát triển tư tưởng triết học VN_Slide 94_CHương 2:Trung Quốc_giáo trình trang 74-80) - HCM với vc vận dụng sáng tạo và ft triết học Mác Leenin trong điều kiện cách mạng Việt Nam: TH Mác leenin cung cấp đường lối cho giai cấp công nhân, tuy nhiên TH mác leenin này được Bác đem về và áp dụng cho toàn thể người dân nước Việt Nam (mặc dù ban đầu Bác chỉ tiếp cận chủ nghĩa Mác Leenin bởi trong đây có đề cập đến vđ thuộc địa, song mới phát hiện các hệ tư tưởng của C. Mác và Lenin có thể biến đổi sáng tạo nhằm áp dụng vào công cuộc giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Bác là ng đã truyền bá Tư tưởng trc HCM đều không đáp ứng được nhu cầu giải quyết các vđ của Việt Nam - Tư tưởng HCM là sự vận dụng và phát triển sáng tạo truyền thống tư tưởng yêu nước và nhân đạo dân tộc VN, tinh hoa văn hóa của nhân loại, các học thuyết Nho, Phật, đặc biệt là chủ nghĩa Mác – Lenin: (vào thời điểm này, việc đấu tranh chống giặc ngoại xâm không thể so sánh đối với các thời kỳ trước đó; với cơ sở vật chất hiện đại, không thể đánh giáp lá cà như trong thời cổ trung đại. Do đó, chúng ta cần đưa ra những phương pháp, chiến lược, tư tưởng cụ thể nhằm đưa ra những pp c’ giặc ngoại xâm (vận dụng tinh thần yêu nước, tinh hóa văn hóa nhân loại (vận dụng sáng tạo các tư tưởng VH khác: vd tư tưởng Trung – Hiếu trong Nho giáo sang VN thành trung vs nc, hiếu vs dân. Chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn về VN thành chủ nghĩa Tam dân . - Cần đưa ra được khái niệm về tư tưởng HCM: (theo văn kiện Đại hội đại biển toàn quốc lần thứ 9 của Đảng Cộng sản Việt Nam _Slide 96) Note: Trình bày theo các ý chính Làm: Từ khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị thực dân ở Việt Nam đã làm xuất hiện hai nhu cầu lớn của lịch sử là giải thích sự thất bại của triều đại phong kiến nhà Nguyễn và tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Để giải quyết hai nhu cầu đó của lịch sử, các nhà tư tưởng Việt Nam thời kỳ này đã trở về với các hệ tư tưởng đã có trong lịch sử. Họ dùng các lý luận của Nho giáo và Phật giáo để giải thích các sự kiện lịch sử và cố tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc theo thế giới quan và phương pháp luận của Nho giáo, Phật giáo. Tiêu biểu nhất là phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, mọi cố gắng của các nhà tư tưởng Việt Nam thời kỳ này đều thất bại. Bởi lẽ, về mặt thực tế, sự thất bại của triều đại phong kiến nhà Nguyễn là sự thất bại của một phương thức sản xuất ở trình độ thấp hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, Ở phương Tây, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã chứng minh sức mạnh của nó bằng việc tiêu diệt không thương tiếc phương thức sản xuất phong kiến và tiếp tục bành trường sức mạnh của nó trên phạm vi quốc tế, Về mặt ý thức hệ, tư tưởng tư sản ở trình độ phát triển cao hơn ý thức hệ phong kiến, bởi lẽ ý thức hệ chính trị tư sản dựa trên một thế giới quan duy vật thời cận đại, gắn liền với những tri thức khoa học tự nhiên ở thế kỷ XVII – XVIII. Trong khi đó, ý thức hệ phong kiến Việt Nam trong lịch sử gần một ngàn năm thời kỳ độc lập tự chủ (từ thế kỷ X) là ý thức hệ xác lập trên nền tảng căn bản là thế giới quan duy tâm, gắn với những quan niệm tôn giáo và tín ngưỡng – đó là thế giới quan và phương pháp luận của Nho giáo và Phật giáo. Thế giới quan Nho giáo, dù là Nho giáo ở Trung Quốc hay ở Việt Nam, về căn bản đều là thế giới quan và phương pháp luận duy tâm về lịch sử. Thế giới quan Phật giáo cổ đại có nhiều yếu tố duy vật với những tư tưởng biện chứng sâu sắc. Tuy nhiên, Phật giáo du nhập vào Việt Nam về cơ bản là những tư tưởng Phật giáo đã ít nhiều Trung Hoa hóa. Xét về tổng thể và cơ bản, đó vẫn là thế giới quan duy tâm. Vì vậy, sự nỗ lực của các nhà tư tưởng Việt Nam thời cận đại tìm kiếm lời giải đáp những nguyên nhân thất bại của triều đại nhà Nguyễn cũng như con đường giải phóng dân tộc đều thất bại. Để tạo ra tầng lớp trí thức phục vụ cho mục tiêu khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã tiến hành tạo dựng một hệ thống giáo dục – đào tạo Tây học với nội dung cơ bản là các kiến thức khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên quá trình đó đã tạo cơ hội cho sự du nhập những tư tưởng triết học phương Tây vào Việt Nam. Những tư tưởng triết học phương Tây được du nhập vào Việt Nam qua tầng lớp trí thức Tây học căn bản là những tư tưởng triết học các nước Tây Âu thời cận đại. Đó là thế giới quan duy vật siêu hình và không triệt để. Các nhà triết học Tây Âu thời cận đại chỉ duy vật trong quan niệm về thế giới tự nhiên, còn trong lĩnh vực các quan điểm xã hội, họ vẫn đứng trên lập trường duy tâm. Với thế giới quan đó nó không thể giải thích các nguyên nhân thực sự của các sự kiện lịch sử từ cơ sở kinh tế của xã hội. Nó cũng không thể giải thích quá trình lịch sử – tự nhiên của xã hội loài người. Bởi vậy, dù một số nhà tư tưởng Tây học có lòng yêu nước nhiệt thành nhưng với thế giới quan triết học duy vật siêu hình và duy tâm về xã hội đã không thể giải đáp được những nhu cầu lớn lao của lịch sử Việt Nam. Trước sự thất bại của tất cả các thế giới quan và phương pháp luận truyền thống Nho học, Phật học cũng như Tây học, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Điểm xuất phát để Hồ Chí Minh đi ra nước ngoài tìm con đường cứu nước không phải trực tiếp là nhu cầu đi tìm một thế giới quan và một phương pháp luận triết học mới, không phải là một lý luận triết học trừu tượng, mà là những lý luận, những biện pháp có khả năng thực tế nhất để dẫn dắt, lãnh đạo phong trào yêu nước đi đến thành công trong thực tiễn chính trị là giải phóng dân tộc • cứu dân, cứu nước; là làm sao để dân tộc Việt Nam được độc lập, đồng bào Việt Nam ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Cũng tức là độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho mỗi người dân lao động. Suốt ba mươi năm tìm đường cứu nước, như một tất yếu lịch sử Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Học thuyết Mác – Lênin là hệ tư tưởng cách mạng và khoa học nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Học thuyết đó là khối thống nhất vững chắc của cả ba bộ phận lý luận cấu thành là Triết học, Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hội khoa học, trong đó Tiết học đóng vai trò là thế giới quan và phương pháp luận chung. Triết học Mác – Lênin chính là thế giới quan và phương pháp luận khoa học và cách mạng nhất, là thành quả vĩ đại của lịch sử triết học thế giới. Linh hồn của nó, sức sống mãnh liệt nhất của nó là phép biện chứng duy vật ở trình độ lý luận cao nhất, khoa học nhất, vượt qua không những phép siêu hình của triết học duy vật cận đại Tây Âu mà còn vượt qua phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức, Thế giới quan duy vật của triết học Mác – Lênin đã khắc phục được hạn chế của thế giới quan duy vật cận đại Tây Âu chính ở chỗ nó đã đem lại một quan niệm duy vật và biện chứng về quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, lịch sử phát triển của nhân loại. Trung tâm của những quan điểm duy vật về lịch sử chính là học thuyết về hình thái kinh tế – xã hội. Chỉ có thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật của triết học Mác – Lênin mới có khả năng lý giải được một cách đúng đắn khoa học đối với các sự kiện lịch sử, dù là các sự kiện lịch sử ở phương Tây hay phương Đông châu Á. Không phải ngẫu nhiên mà khi nhận xét về giá trị của các học thuyết đã có trong lịch sử, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng cái hay của chủ nghĩa Mác là phương pháp làm việc biện chứng. Ở đây, Hồ Chí Minh đã khẳng định không phải chỉ là cái hay của phương pháp tư duy biện chứng mà quan trọng hơn là phương pháp biện chứng duy vật trong tổ chức hoạt động thực tiễn. Hồ Chí Minh đã vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật để lý giải một cách đúng đắn khoa học những câu hỏi đặt ra của lịch sử Việt Nam thời cận đại mà không một nhà tư tưởng tiến bộ nào có thể làm được và đỉnh cao của sự vận dụng đó là tìm ra lý luận và phương pháp giải quyết đúng đắn khoa học con đường giải phóng dân tộc đồng thời xác định hướng phát triển của xã hội Việt Nam lên hình thái kinh tế – xã hội mới sau khi giành được độc lập • đó là con đường định hướng phát triển xã hội – xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội…”. Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đóng vai trò là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của những tư tưởng về độc lập dân tộc, về chủ nghĩa xã hội, về văn hóa, về đạo đức, nhân văn… Thế giới quan và phương pháp luận Hồ Chí Minh là một hệ thống toàn vẹn, thống nhất của những quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Hạt nhân của thế giới quan đó là triết học Mác – Lênin; sự phong phú của thế giới quan đó là những tổng kết kinh nghiệm cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, vẻ đẹp của thế giới quan đó được tạo ra bởi sự kết hợp lôgíc giữa tính khoa học của thế giới quan Mác – Lênin với các giá trị triết học truyền thống Việt Nam, cũng như các giá trị của lịch sử triết học phương Đông và phương Tây. Chính vì vậy, có thể tìm thấy trong mỗi lời nói, việc làm, bài viết của Hồ Chí Minh sự vững chắc của các nguyên lý triết học Mác – Lênin, sự tinh tế của các triết lý trong nền triết học phương Đông, phương Tây và một chiều sâu thẳm của các giá trị tư tưởng triết học Việt Nam về độc lập dân tộc, về nhân dân, về đạo sống, đạo làm người của dân tộc Việt Nam. Với Hồ Chí Minh, lịch sử triết học Việt Nam đã chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, hiện đại. Thời kỳ hiện đại của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam là thời kỳ phát triển tư tưởng triết học với nội dung cơ bản của nó là nghiên cứu, vận dụng và phát triển các nguyên lý của triết học Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đó cũng là quá trình vượt qua những hạn chế và kế thừa có chọn lọc các giá trị trong lịch sử triết học Việt Nam cũng như lịch sử triết học phương Đông và phương Tây theo mục tiêu giải quyết các nhiệm vụ của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Câu 7: Phân tích mối quan hệ Triết học với các khoa học (bỏ???) trang 232 Mối quan hệ giữa Triết học và Khoa học tự nhiên: Trên cơ sở những điều kiện kinh tế – xã hội và chịu sự chi phối của những quy luật nhất định thì đã xuất hiện tồn tại, vận động và phát triển của triết học và khoa học xã hội. Không những vậy mà giữa triết học và khoa học xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Triết học và khoa học được biết là mối quan hệ cũng nhau phát triển và tác động qua lại lẫn nhau. Triết học và khoa học trải qua quá trình hình thành và phát triển hơn hai nghìn năm lịch sử đã cho thấy hai lĩnh vực tri thức này luôn luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau.. Bởi vì có nhận định như vậy là do khoa học xã hội có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển của triết học và ngược lại. Với mỗi gian đoạn phát triển của triết học thì khoa học tự nhiên cũng có một bước phát triển. Ở mỗi thời kỳ từ thời cổ đại, trung cổ, phục hưng-cận đại, thời hiện đại thì mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên lại có có sự biến đổi và khác biệt để phù hợp với thời đại. Ở thời kỳ cổ đại trong triết học, triết học tự nhiên đã bắt đầu hình thành khoa học tự nhiên những còn rất ơ khai và khoa học tự nhiên được xác định là nằm trong triết học tự nhiên. Từ đó có thể nhận thấy rằng kho học tự niên còn phụ thuộc vào tiết học ở giai đoạn này. Mặt khác thì khoa học tự nhiên tác động đến sự phát triển của các quan niệm triết học khi mà những kiến thức của khoa học tự nhiên còn rời rạc, ít ỏi. Khoa học tự nhiên lúc bấy giờ đã hình thành một quan niệm thô sơ về thế giới – quan niệm duy vật tự phát, về sau đã bị quan niệm siêu hình thế chỗ. Sự phát triển của triết học kinh viện vào thời trung đại đã nâng cao sức mạnh của niềm tin tôn giáo, đánh gục lý trí – vốn được đề cao vào thời cổ đại trước đó. Điều này đã làm thủ tiêu khoa học, trước hết là khoa học tự nhiên, mở đường cho thần học phát triển. Qua đó, ta thấy rõ ảnh hưởng của quan niệm triết học lên sự phát triển của khoa học. Quan niệm coi triết học là “người mẹ” của các khoa học đã có từ thời cổ đại và rất thịnh vượng ở thời này thì đến thời phục hưng quan niệm này đã được khôi phục lại qua một thời kỳ trung cổ bị lãng quên. Tiếp đến thời cận đại, thì “khoa học của các khoa học” là sự phát triển của quan niệm triết học trước đó. Đến hiện nay thì dưới sự phát triển nhanh của triết học, đã tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên. Khoa học tự nhiên đầu thế kỷ XIX trong thời kỳ hiện đại ngày nay đã có bước phát triển mới. Mới ở đấy của khoa học tự nhiên được thể hiện thông qua sự chuyển mình từ giai đoạn thực nghiệm sang giai đoạn khái quát lý luận. Cần phải khái quát những thành tựu mới của khoa học tự nhiên, phải thay đổi quan niệm về thế giới về khoa học tự nhiên để khoa học tự nhiên thoát khỏi phương pháp tư duy siêu hình, để xây dựng quan điểm biện chứng duy vật trong nhận thức về tự nhiên. Việc này được hiểu là khoa học xã hội sẽ chuyển từ quan niệm siêu hình sang quan niệm biện chứng. Từ đó, có thể thấy rằng những quan niệm triết học đã bị thay đổi bởi sự ảnh hưởng của khoa học tự nhiên. Triết học và Khoa học tự nhiên có mỗi quan hệ tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau: Triết học và khoa học tự nhiên là hai lĩnh vực khá khác nhau trong nghiên cứu và phương pháp tiếp cận, nhưng chúng có mối quan hệ tương tác và ảnh hưởng đối với nhau. Dưới đây là một số điểm quan trọng về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên: Khái niệm và mục tiêu: – Triết học là một lĩnh vực nghiên cứu về bản chất của thế giới, con người và kiến thức. Nó tập trung vào việc đặt câu hỏi về ý nghĩa, giá trị, và nguyên tắc căn bản của thực tế và tồn tại. – Khoa học tự nhiên là một lĩnh vực nghiên cứu tập trung vào việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề liên quan đến tự nhiên và thế giới vật lý. Nó chú trọng vào việc thu thập, kiểm chứng và sắp xếp thông tin về thế giới vật lý bằng cách sử dụng phương pháp khoa học. Tương tác: – Triết học có thể cung cấp nền tảng ý nghĩa và lý thuyết cho khoa học tự nhiên. Nó có thể đặt ra các câu hỏi cơ bản về tại sao và vì sao ta nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên, và nó có thể định hình các nguyên tắc đạo đức và triết lý đằng sau nghiên cứu khoa học. – Khoa học tự nhiên có thể cung cấp các dữ liệu và thông tin cụ thể mà triết học có thể sử dụng để xây dựng và kiểm chứng các lý thuyết triết học. Quan điểm về thế giới: – Triết học thường dựa vào lý thuyết và lập luận, trong khi khoa học tự nhiên dựa vào sự quan sát, thực nghiệm và phân tích dữ liệu thực tế. – Triết học thường tập trung vào những vấn đề trừu tượng và trancendental, trong khi khoa học tự nhiên tập trung vào việc xác định và giải quyết vấn đề cụ thể trong thế giới hiện thực. Ví dụ về tương tác: – Triết học của khoa học: Triết học khoa học nghiên cứu về bản chất của khoa học, về cách chúng ta biết và làm thế nào chúng ta nên tiếp cận thế giới. Nó giúp xác định nguyên tắc phương pháp luận trong khoa học. – Etica học: Triết học đạo đức có thể hướng dẫn việc áp dụng nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu khoa học và quyết định liên quan đến công bằng, minh bạch và trách nhiệm xã hội trong khoa học. Tóm lại, triết học và khoa học tự nhiên là hai lĩnh vực quan trọng và có mối quan hệ tương tác. Triết học cung cấp nền tảng lý thuyết và đạo đức cho khoa học tự nhiên, trong khi khoa học tự nhiên cung cấp dữ liệu và thông tin cụ thể cho triết học. Câu 8: Phân tích mối quan hệ biện chứng lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Liên hệ mối quan hệ này trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay (Slide, _note) LLSX và QHSX: là hai phần của Phương thức sản xuất và nó có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó: - Lực lượng sản xuất: (khái niệm) người lao động + tư liệu sản xuất + Tư liệu sản xuất: Tư liệu lao động + đối tượng lao động + Tư liệu lao động: công cụ lđ + phương tiện lao động - Quan hệ sản xuất: (khái niệm): qh sở hữu, qh pp quản lý, qh … - Mối quan hệ giữa 2 yếu tố này: (thường yếu tố dễ biến đổi là yếu tố quyết định) + LLSX qđ QHSX: qđ ở chỗ nào? Vd: chỉ có cày cuốc chỉ là qhsx Tư nhân, không thể thực hiện cho cả tổng cả xã + tác động trở lại QHSX đến LLSX: Nếu QHSX phù hợp với llsx thì llsx mới được thúc đẩy đi lên, dẫn đến hình thái XH thay đổi (mỗi 1 ptsx sẽ ứng với một hình thái XH_kinh tế qđ hình thái XH) Trong XD KT VN hiện nay thì bao gồm các ptsx nào, ncl mổ xẻ ra mà phân tích (cclđ: đã được cơ giới hóa, hiện đại hóa Vd: ft KT nhiều TP, gồm: …, … , sở hữu tư nhân, sở hữu Cơ chế quản lý trc năm 1986: bao cấp còn hiện nay thì là: Nhưng nếu như hai yếu tố này bị lệch thì “PHương thức sx” bị mất cân bằng, bị kìm hãm??? Bị ảnh hưởng, không stable Làm Các khái niệm: Phương thức sản xuất: + Là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người + Sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. + Sự phát triển của lịch sử xã hội là sự thay thế các phương thức sản xuất từ thấp đến cao. PTSX bao gồm LLSX và QHSX. Hai yếu tố này có mối quan hệ biến chứng không thể tách rời nhau. Trong đó, LLSX bao gồm các yếu tố: người lđ và tư liệu sx (tư liệu lđ và đối tượng lđ). Còn QHSX bao gồm các mối quan hệ: QH sở hưu trong tổ chức về tư liệu sx, QH trong tổ chức quản lý, QH trong phân phối sản phẩm. Ba yếu tố này cũng tác động không tách rời nhau. Trong ba QHSX này thì quan hệ sở hữu về tư liệu sx là quan trọng nhất vì nếu ko có ông chủ sở hữu thì cùng không cần đến các quan hệ kia được hình thành Lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất thể hiện mặt tự nhiên của phương thức sản xuất, biểu hiện mối quan hệ của con người với tự nhiên nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình sảnxuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội bảo đảm nhu cầu của con người bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất. Về cấu trúc, lực lượng sản xuất được xem xét trên cả hai mặt, đó là mặt kinh tế - kỹ thuật (tư liệu sản xuất) và mặt kinh tế - xã hội (người lao động). Lực lượng sản xuất chính là sự kết hợp giữa “lao động sống” và “lao động vật hóa” tạo ra sức sản xuất, là toàn bộ những năng lực thực tiễn dùng trong sản xuất của xã hội ở các thời kỳ nhất định. Như vậy, lực lượng sản xuất là một hệ thống gồm các yếu tố (người lao động và tư liệu sản xuất) cùng mối quan hệ (phương thức kết hợp), tạo ra thuộc tính đặc biệt (sức sản xuất) để cải biến giới tự nhiên, sáng tạo ra của cải vật chất theo mục đích của con người. Đây là sự thể hiện năng lực thực tiễn cơ bản nhất – năng lực hoạt động sản xuất vật chất của con người. - Người lao động: Là yếu tố quan trọng nhất, là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội. Người lao động là chủ thể sáng tạo, đồng thời là chủ thể tiêu dùng của mọi của cải vật chất xã hội. Đây là nguồn lực cơ bản, vô tận và đặc biệt của sản xuất. Ngày nay, trong nền sản xuất xã hội, tỷ trọng lao động cơ bắp đang có xu thế giảm, trong đó lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ ngày càng tăng lên. Nlđ bao gồm yếu tố: Thể lực, trí lực. - Tư liệu sản xuất: Là phần giới thiệu tự nhiên tham gia vào quá trình sản xuất vật chất, là điều kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động. + Đối tượng lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà lao động con người dùng tư liệu lao động tác động lên, nhằm biến đổi chúng cho phù hợp với mục đích sử dụng của con người. +Tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào đó để tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng yêu cầu sản xuất của con người. Tư liệu lao động gồm công cụ lao động và phương tiện lao động. Phương tiện lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất, cùng với công cụ lao động mà con người sử dụng để tác động lên đối tượng lao động trong quá trình sản xuất vật chất. Công cụ lao động là những phương tiện vật chất mà con người trực tiếp sử dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằm biến đổi chúng nhằm tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu con người và xã hội. Công cụ lao động là yếu tố vật chất “trung gian”, “truyền dẫn” giữa người lao động và đối tượng lao động trong tiến hành sản xuất. Đây chính là ‘khí quan” của bộ óc, là tri thức được vật thể hóa do con người sáng tạo ra và được con người sử dụng làm phương tiện vật chất của quá trình sản xuất. Công cụ lao động giữ vai trò quyết định đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Ngày nay, trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang phát triển, công cụ lao động được tin học hóa, tự động hóa và trí tuệ hóa càng có vai trò đặc biệt quan trọng. Công cụ lao động là yếu tố đồng nhất, cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất, là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi kinh tế xã hội trong lịch sử; là thước đo trình độ tác động, cải biến tự nhiên của con người và tiêu chuẩn để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau. Chính vì vậy, C.Mác khẳng định: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào’. Đặc trưng chủ yếu của lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa người lao động và công cụ lao động. Trong lực lượng sản xuất, người lao động là nhân tố hàng đầu giữ vai trò quyết định. Sở dĩ như vậy là vì người lao động là chủ thể sáng tạo và sử dụng công cụ lao động. Suy đến cùng, các tư liệu sản xuất chỉ là sản phẩm lao động của con người, đồng thời giá trị và hiệu quả thực tế của các tư liệu sản xuất phụ thuộc vào trình độ sử dụng của người lao động. Hơn nữa, trong quá trình sản xuất, nếu như công cụ lao động bị hao phí và di chuyển dần giá trị vào sản phẩm..., thì người lao động do bản chất sáng tạo của mình, trong quá trình lao động họ không chỉ sáng tạo ra giá trị đủ bù đắp hao phí động động, mà còn sáng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bỏ ra ban đầu. Người lao động là nguồn gốc của mọi sáng tạo trong sản xuất vật chất, nguồn gốc của sự phát triển sản xuất. Cùng với người lao động, công cụ lao động là yếu tố cơ bản, quan trọng không thể thiếu được, đặc biệt, trình độ phát triển của công cụ lao động là một nhân tố quyết định năng suất lao động xã hội. Lực lượng sản xuất là kết quả năng lực thực tiễn của con người, nhưng bản thân năng lực thực tiễn này bị quy định bởi những điều kiện khách quan mà trong đó con người sống và hoạt động. Vì vậy, lực lượng sản xuất luôn có tính khách quan. Tuy nhiên, quá trình phát triển lực lượng sản xuất là kết quả của sự thống nhất biện chứng giữa khách quan và chủ quan. Quan hệ sản xuất: Quan hệ sản xuất thể hiện mặt xã hội của phương thức sản xuất, là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất. Đây chính là một quan hệ vật chất quan trọng nhất – quan hệ kinh tế, trong các mối quan hệ vật chất giữa người với người. Quá trình sản xuất vật chất chính là tổng thể các yếu tố trong một quá trình thống nhất, gồm sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất. Quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý và trao đổi hoạt động với nhau, quan hệ về phân phối sản phẩm lao động. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc chiếm hữu, sử dụng các tư liệu sản xuất xã hội. Đây là quan hệ quy định địa vị kinh tế - xã hội của các tập đoàn người trong sản xuất, từ đó quy định quan hệ quản lý và phân phối. Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, cơ bản, trung tâm của quan hệ sản xuất, luôn có vai trò quyết định các quan hệ khác. Bởi vì, lực lượng xã hội nào nắm phương tiện vật chất chủ yếu của quá trình sản xuất thì sẽ quyết định việc quản lý quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm. Quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc tổ chức sản xuất và phân công lao động. Quan hệ này có vai trò quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền sản xuất; có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Ngày nay, khoa học tổ chức quản lý sản xuất hiện đại có tầm quan trọng đặc biệt trong nâng cao hiệu quả quá trình sản xuất. Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động là quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc phân phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng. Quan hệ này có vai trò đặc biệt quan trọng, kích thích trực tiếp lợi ích con người; là “chất xúc tác” kinh tế thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu sản xuất, làm năng động hóa toàn bộ đời sống kinh tế xã hội. Hoặc ngược lại, nó có thể làm trì trệ, kìm hãm quá trình sản xuất. Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX: Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là hai mặt của một phươngthức sản xuất có sự tác động biện chứng, trong đó Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, còn quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất. Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, ngược lại nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. *Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất: Lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất có tính năng động, cách mạng, thường xuyên vận động và phát triển; còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản xuất có tính ổn định tương đối. Lực lượng sản xuất vận động, phát triển không ngừng sẽ mâu thuẫn với tính “đứng im” tương đối của quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất từ chỗ là “hình thức phù hợp”, “tạo địa bàn” phát triển của lực lượng sản xuất thì lại trở thành “xiềng xích” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất => Vì trình độ của lực lượng sản xuất đã phát triển nên đòi hỏi xã hội phải xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đã phát triển. => Nội dung của sự quyết định: Lực lượng sản xuất quyết định sự ra đời của một quan hệ sản xuất mới, quyết định nội dung và tính chất của quan hệ sản xuất. *Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất Quan hệ xã hội là hình thức xã hội của quá trình sản xuất, có tính độc lập tương đối và ổn định về bản chất. Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất là yêu cầu khách quan của nền sản xuất. Sự phù hợp quy định mục đích, xu hướng phát triển, hình thành hệ thống động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo hai chiều hướng, đó là thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất thì nền sản xuất phát triển đúng hướng, quy mô sản xuất được mở rộng; những thành tựu khoa học công nghệ được áp dụng nhanh chóng; người lao động nhiệt tình hăng hái sản xuất, lợi ích của người lao động được đảm bảo và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. => Thúc đẩy Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp thì sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ diễn ra trong giới hạn, với những điều kiện nhất định. * Sự chuyển hoá thành mâu thuẫn của LLSX & QHSX • Mối quan hệ lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là quan hệ mâu thuẫn biện chứng, tức là mối quan hệ thống nhất giữa hai mặt đối lập.=> Sự vận động của mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX là đi từ sự thống nhất đến mâu thuẫn và được giải quyết bằng sự thống nhất mới, quá trình này lặp đi lặp lại, tạo ra quá trình vận động và phát triển của PTSX Trạng thái vận động của mẫu thuẫn biện chứng: Phù hợp -> Không phù hợp -> Phù hợp cao hơn… Con người giữ vai trò chủ thể nhận thức giải quyết mâu thuận, thiết lập sự phù hợp. Trong xã hội có đối kháng giai cấp: Mâu thuẫn lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giai cấp, được gaiir quyết thông qua đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là cách mạng xã hội. Đây là quy luật phổ biến của sự vận động, phát triển xã hội. Câu 9: So sánh giữa triết học Phương Đông và Phương Tây Phương ĐỐng liền với nền TH Ấn Độ và Trung QUốc Phương Tây gắn liền với TH Hy Lạp cổ đại, Tây Âu thời trung cổ, triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng, TH Tây Âu thời kỳ cận đại, TH cổ điển Đức So sánh đặc điểm của Th P.Đông và TH P. Tây: - Sự giống nhau: C.Mac đã viết: Để hiểu rõ tư tưởng của một thời đại nào đó thì chúng ta phải hiểu được điều kiện sinh hoặt vật chất của thời đại đó. Bởi vì, theo ông, tồn tại xã hội luôn quyết định ý thức xạ hội, do đó, nó phản ánh tồn tại xá hội – những điều kiện sinh hoạt vật chất của xá hội. chính vì thế, các trài lưu TH p ĐÔng và p Tây đều được nảy sinh trên những đk kinh tế - xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định. Xét trong mqh giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng đẳng, do đó các học thuyết TH ĐÔng – tây đều chịu sự qđ của cơ sở hạ tầng và đến lượt nó cũng có vai trò hết sức to lớn đối với cơ sở hạ tầng. Câu 10: Phân tích mối quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội liên hệ tới quá trình phòng chống covid 19 ở Việt Nam - Ý thức xã hội? : - Tồn tại xã hội? : Mối quan hệ giữa ý thức XH và tồn tại XH (tương tự như mqh giữa vật và ý thức) - Tồn tại XH quyết định ý thức xã hội Tồn tại XH nào sinh ra ý thức XH ấy: - Ý thức XH có sự phản ánh lại tồn tại XH: + ý thức có thể vượt trước XH: tư tưởng KH con người có thể vượt trc sự ft của KHXH cùng thời kỳ của con người + Ý thức có tính kế thừa các giai đoạn ft trc đó + Liên hệ với quá trình phòng chống covid 19: - Tồn tại xã hội ở đây chính là dịch covid 19: diễn ra vào thời điểm nào, đặc tính của con virut này (lây lan qua đường hô hấp, tiếp xúc) vì nó chính là yếu tố vật chất Ý thức được hình thành: cùng nhau hỗ trợ nhau vượt qua khó khăn, cùng thực hiện các quy chuẩn 5K,… (Ý thức vào thời điểm này: dựa vào dân – tinh thân tương thân thương ái,… ) Từ ý thức các chiến lược khác Yếu tố Đảng được đề cập: nêu cao tinh thần, chủ trương đúng đắn của Đảng. Duy trì và điều động hoàn toàn lực lượng vũ trang vào công cuộc chống dịch, diệt dịch. Vd: như điều đồng ll vào miền nam chống dịch. VN chỉ có một Đảng duy nhất và đây cũng là cái lợi của chúng ta trong quá trình chống covid 19 vì từ đây sự đoàn kết của VN được đồng điệu. Khác với sự khác biết trong nhiều đảng lãnh đạo của nước khác dẫn đến sự tách biệt mỗi người một ý, làm hạn chế khả năng chống dịch - Tồn tại xã hội là dịch covid 19 dẫn đến nâng cao ý thức xã hội Note: cần trình bày các ND - Nêu cao tinh thần của Đảng trong việc chủ trương điều động LLVT trong việc chống dịch - Nêu cao tinh thần, ý thức đại đoàn kết dân tộc của người dân Việt Nam (chống dịch dựa vào dân). https://btgtu.thanhhoa.dcs.vn/portal/pages/2021-10-25/Phat-huy-vai-tro-cua-y-thuc-xa-hoi-trong-phongchouv8tcq6dybbk.aspx Tồn tại xã hội là gì? Ý thức xã hội là gì? * Tồn tại xã hội là toàn bộ đời sống vật chất của XH và những điều kiện sinh hoạt vật chất của nó. Đây là hình thức biểu hiện của vật chất trong lĩnh vực XH, bao gồm 3 yếu tố cơ bản: + Phương thức SX: đầu tiên nhất, quyết định nhất. + Môi trường tự nhiên + Điều kiện dân số * Ý thức xã hội là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng, những tâm tư, tình cảm, những tập tục truyền thống, những thiên hướng, hứng thú… của XH phản ánh lại tồn tại XH ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. – Nếu phân chia theo chiều ngang (tạo các cấp độ cao thấp) thì ý thức xã hội XH bao gồm 2 cấp độ cơ bản: + Ý thức xã hội thông thường: là những tri thức, những quan niệm của con người hình thành một cách trực tiếp trong hoạt động thực tiễn hàng ngày, chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa. Nhưng ý thức đời thường gần với hiện thực trực tiếp. Những kinh nghiệm của ý thức đời thường đôi khi là vô giá, cung cấp nhiều thông tin cho các khoa học cụ thể, triết học và nghệ thuật + Ý thức lý luận (ý thức xã hội khái quát từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn) Trong hai cấp độ trên, thì vai trò quan trọng nhất thuộc về hai yếu tố là tâm lý XH và hệ tư tưởng. (là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm của xã hội được hệ thống hóa hợp lý, thành chỉnh thể các mối liên hệ bản chất tất yếu, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật) + Tâm lý XH là bộ phận của ý thức xã hội thông thường, nó bao gồm những tâm tư tình cảm, những tập tục truyền thống, những thói quen, tập quán… của XH phản ánh trực tiếp những điều kiện sinh hoạt vật chất hàng ngày của XH, đây là bộ phận có tính bền vững và bảo thủ cao. + Hệ tư tưởng là bộ phận của ý thức lý luận, nó bao gồm những quan điểm tư tưởng đã được hệ thống hóa thành chỉnh thể học thuyết để phản ánh những lợi ích cơ bản và địa vị của một giai cấp nhất định. – Nếu phân chia ý thức xã hội theo chiều dọc thì ý thức xã hội bao gồm các hình thái ý thức xã hội khác nhau: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo, ý thức thẩm mỹ, triết học, khoa học… Về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội: * Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội: Theo quan điểm thế giới quan duy vật thì vật chất có trước, nó sinh ra và quyết định ý thức. Trong lĩnh vực XH thì quan hệ này được biểu hiện là: tồn tại xã hội có trước, nó sinh ra và quyết định ý thức xã hội, điều đó được thể hiện cụ thể là: – Tồn tại xã hội nào thì sinh ra ý thức xã hội ấy. Tức là người ta không thể tìm nguồn gốc tư tưởng trong đầu óc con người, mà phải tìm nó trong chính tồn tại xã hội. Do đó phải tồn tại xã hội để lý giải cho ý thức xã hội. – Khi tồn tại xã hội thay đổi một cách căn bản, nhất là khi phương thức SX đã thay đổi thì sớm hay muộn thì ý thức xã hội cũng phải thay đổi theo. * Tính độc lập tương đối và sự tác động trở lại của ý thức xã hội lên tồn tại xã hội: Sự lệ thuộc của ý thức xã hội vào tồn tại xã hội không phải lúc nào cũng diễn ra trực tiếp mà cần phải xét đến cùng qua nhiều khâu trung gian mới thấy được, bởi vì ý thức xã hội có tính độc lập của mình. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội được thể hiện dưới các hình thức sau: – Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội. Sở dĩ như vậy bởi vì: + Do nó chỉ là phản ánh của tồn tại xã hội nên thường biến đổi sau; + Do nó có những bộ phận có tính bền vững, tính bảo thủ cao (tâm lý XH, tôn giáo…); + Do có những lực lượng XH luôn tìm cách duy trì tính lạc hậu trên (nhằm cai trị ND, nô dịch ND…). – Vai trò tiên phong vượt trước của tri thức khoa học, bộ phận này trong ý thức xã hội có khả năng nắm bắt các quy luật vận động khách quan, từ đó đưa ra được những dự báo, tiên đoán về sự phát triển của XH, nên có thể đi tồn tại xã hội nên có thể đi trước một bước so với tồn tại xã hội (VD dự báo của Mác về sự sụp đổ của CNTB…). – Tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội có thể làm cho nó có một trình độ phát triển cao hơn so với tồn tại xã hội. Nên có những dân tộc với trình độ kinh tế, chính trị kém phát triển nhưng đời sống tinh thần lại rất phát triển, chẳng hạn dân tộc Đức ở thể kỷ XIX: kinh tế lạc hậu so với Châu Âu, nhưng văn hóa tinh thần cực kỳ phát triển (âm nhạc, hội họa….). – Sự tương tác giữa các hình thái ý thức xã hội có thể tạo ra những quy luật đặc thù, chi phối sự phát triển của ý thức xã hội, làm cho nó không hoàn toàn lệ thuộc vào tồn tại xã hội. Cụ thể là ở những giai đoạn nhất định thường nổi lên một hình thái ý thức xã hội chủ đạo, chi phối các hình thái ý thức còn lại (làm cho toàn bộ XH phụ thuộc hoàn toàn vào ý thức chủ đạo: thời trung cổ thì tôn giáo chi phối xã hội, ngày nay khoa học chi phối xã hội). – Do có tính độc lập tương đối nên ý thức xã hội có thể tác động trở lại lên tồn tại xã hội theo 2 xu hướng: + Nếu ý thức xã hội phản ánh đúng đắn các quy luật khách quan của tồn tại xã hội thì nó có thể thúc đẩy sự phát triển của tồn tại xã hội. Vai trò này thuộc về ý thức của những giai cấp tiến bộ và cách mạng. + Nếu ý thức xã hội phản ánh sai lệch, xuyên tác các quy luật khách quan của tồn tại xã hội thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội. Tác động này thuộc về ý thức của những giai cấp cũ, lạc hậu, phản động. Sự tác động của ý thức xã hội lên tồn tại xã hội phụ thuộc vào mức độ thâm nhập của nó vào trong phong trào của quần chúng nhân dân. Cho nên phải thường xuyên đấu tranh để phổ biến tri thức khoa học và lý luận cách mạng cho quần chúng nhân dân, đồng thời để đấu tranh để loại bỏ những tàn dư của văn hóa, tư tưởng cũ, phản động ra khỏi quần chúng (không ảnh hưởng đến quần chúng nhân dân)
0
You can add this document to your study collection(s)
Sign in Available only to authorized usersYou can add this document to your saved list
Sign in Available only to authorized users(For complaints, use another form )