Uploaded by Trang Nguyễn Thu

Riešenie obchodných sporov: Právo a prax v Hanoji

advertisement
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LUẬT
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành
Sinh viên thực hiện
Mã sinh viên
Lớp
:
:
:
:
Luật Kinh tế
Nguyễn Thu Trang
11208115
Kế toán 62A
Giảng viên hướng dẫn
: TS. GVC. Lâm Thị Thu Huyền
Hà Nội, 2024
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan: Chuyên đề thực tập về đề tài “Pháp luật về giải quyết
tranh chấp thương mại và thực tiễn tại Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội” là
sản phẩm báo cáo của cá nhân em qua quá trình trải nghiệm thực tế của bản thân,
không sao chép của bất cứ ai khác. Các bình luận, đánh giá, đề xuất nêu trong
chuyên đề chưa được công bố trong bất kỳ sản phẩm nào khác.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2024
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thu Trang
11208115 - Nguyễn Thu Trang
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên em xin được gửi lời cảm ơn chân thành và niềm tri ân sâu sắc
nhất đến giảng viên hướng dẫn TS.GVC.Lâm Thị Thu Huyền cùng tất cả các
thầy, cô Khoa Luật Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Qua quá trình học tập và
rèn luyện tại Khoa Luật Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, thầy cô đã luôn sẵn
sàng chỉ bảo, dẫn dắt tận tâm cho sinh viên từ những điều nhỏ nhất, dạy chúng
em nắm vững những kiến thức pháp lý, những kỹ năng mềm cần có, trang bị cho
sinh viên hành trang để tìm kiếm công việc phù hợp và nhiều triển vọng.
Khoảng thời gian làm thực tập sinh tại Tòa án nhân dân Thành phố Hà
Nội đã cho em cơ hội trải nghiệm thực tế để vận dụng những kiến thức học được
từ thầy cô và bạn bè. Vì vậy, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Tòa án
nhân dân Thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành
tốt nhất nghĩa vụ học tập của mình. Thực tập tại đây đã giúp em mở rộng tầm
hiểu biết cũng như tiếp cận, nắm cho mình những kiến thức phục vụ trực tiếp cho
chuyên ngành Luật mà em theo đuổi.
Qua quá trình thực tập, em đã có nhiều kỷ niệm khó quên, kèm theo đó là
cả chút bở ngỡ vì lần đầu được va chạm với môi trường làm việc chuyên nghiệp.
Có rất nhiều khó khăn, trở ngại đã tìm đến với em trong suốt những ngày tháng
thực tập, nhưng với sự chỉ bảo tận tỉnh của TS.GVC.Lâm Thị Thu Huyền và sự
giúp đỡ nhiệt tình đến từ các cô chú, anh chị đồng nghiệp tại Tòa án nhân dân
Thành phố Hà Nội đã tiếp thêm động lực cho em hoàn thành tốt đẹp kì thực tập
này.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
LỜI MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ........................................................... 1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài ........................................................ 2
2.1. Mục đích nghiên cứu ................................................................................ 2
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................... 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 2
3.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................. 3
4. Kết cấu của chuyên đề .................................................................................. 3
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN ................................................. 4
1.1. Khái niệm về giải quyết tranh chấp thương mại .................................... 4
1.1.1. Khái niệm về tranh chấp thương mại .................................................... 4
1.1.2. Khái niệm về giải quyết tranh chấp thương mại ................................... 6
1.1.3. Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại ............................. 8
1.2. Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án ................. 11
1.2.1. Các nguyên tắc cơ bản khi giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án ... 11
1.2.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án .................. 15
1.2.3. Trình tự giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án ......................... 19
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
HÀ NỘI ............................................................................................................... 28
2.1. Tổng quan về Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội ............................. 28
2.1.1. Tư cách pháp lý của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội .................. 28
2.1.2. Cơ cấu của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội ................................ 28
2.1.3. Tình hình hoạt động của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội ........... 32
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại tại
TAND Thành phố Hà Nội .............................................................................. 35
11208115 - Nguyễn Thu Trang
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
2.2.1. Thực tiễn thực hiện về nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại tại
TAND Thành phố Hà Nội ............................................................................. 35
2.2.2. Thực tiễn thực hiện về thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại
tại TAND Thành phố Hà Nội ........................................................................ 37
2.2.3. Thực tiễn thực hiện về thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại tại
TAND Thành phố Hà Nội ............................................................................. 43
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN ............................................... 50
3.1. Đánh giá tình hình giải quyết tranh chấp thương mại tại TAND Thành
phố Hà Nội ....................................................................................................... 50
3.1.1. Ưu điểm ............................................................................................... 50
3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân ..................................................................... 51
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp
thương mại tại Tòa án .................................................................................... 64
3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giải
quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án ...................................................... 67
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 71
11208115 - Nguyễn Thu Trang
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Nghĩa của từ viết tắt
1
BLTTDS
Bộ luật Tố tụng dân sự
2
BLDS
Bộ luật Dân sự
3
TCTM
Tranh chấp thương mại
4
TAND
Toà án nhân dân
5
TAND TP
Tòa án nhân dân thành phố
6
TTST
Thủ tục sơ thẩm
7
TP
Thành phố
8
VKS
Viện kiểm sát
11208115 - Nguyễn Thu Trang
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Hình 2.1. Bộ máy tổ chức quản lý Tòa án nhân dân TP Hà Nội .......................... 29
Bảng 3.1. Số vụ án KDTM được thụ lý tại TAND TP Hà Nội trong giai đoạn
2020-2024 ........................................................................................... 50
11208115 - Nguyễn Thu Trang
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp và là cơ quan xét xử
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhiệm vụ của Tòa án là bảo vệ
công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân. Công tác xét xử diễn ra nghiêm minh, đúng đắn góp phần tạo dựng niềm
tin cho quần chúng nhân dân về một hệ thống Tòa án kì cương, chuyên nghiệp.
Trong các quan hệ dân sự nói chung, Tòa án là thiết chế hữu hiệu bảo vệ và đảm
bảo thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi phát sinh tranh chấp.
Để giải quyết vụ án dân sự Tòa án phải xác định được đúng và chính xác tranh
chấp đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không, dựa trên các quy
định của pháp luật.
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một
trong những vấn đề luôn được Nhà nước quan tâm đó là việc nâng cao hiệu quả
xét xử của Tòa án. Nhà nước quản lý trật tự xã hội trong tất cả mọi lĩnh vực,
trong đó có trật tự về kinh tế, có thể nói Tòa án chính là công cụ để Nhà nước ổn
định trật tự xã hội một cách dễ dàng hơn. Trong các biện pháp giải quyết tranh
chấp thì Tòa án có nhiều lợi thế hơn khi giải quyết các tranh chấp về kinh doanh
thương mại. Để hỗ trợ công tác xét xử và đặc biệt là giải quyết hiệu quả các tranh
chấp thương mại nói riêng và các tran h chấp dân sự nói chung tại Tòa án, Đảng
và Nhà nước ta đã xây dựng một hành lang pháp lý khá chặt chẽ với BLTTDS
2015. Một trong những điểm mới của BLTTDS 2015 được Tòa án cũng như các
chủ thể hoạt động kinh doanh quan tâm đến đó là các quy định về thẩm quyền
giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án và làm thế nào để hoạt
động xét xử của Tòa án đối với việc giải quyết tranh chấp được nâng cao hiệu
quả hơn nữa vì đó được coi là một trong số những nội dung quan trọng góp phần
đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, giữ vững an ninh trật tự và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cũng bộc lộ
một số những hạn chế như. Thủ tục phức tạp, thời hạn giải quyết kéo dài, pháp
luật chưa phù hợp dẫn đến việc áp dụng không đạt được tỉnh thuyết phục.... Để
hỗ trợ công tác xét xử và đặc biệt là giải quyết hiệu quả các tranh chấp thương
mại nói riêng và các tranh chấp dân sự nói chung tại Tòa án, Đảng và Nhà nước
ta đã xây dựng một hành lang pháp lý khá chặt chẽ với BLTTDS 2015. Tuy
11208115 - Nguyễn Thu Trang
1
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
nhiên, một số quy định về thẩm quyền của Tòa án còn thiếu tính cụ thể, rõ ràng
dẫn đến nhiều vướng mắc trên thực tế áp dụng. Bên cạnh đó, việc hướng dẫn áp
dụng pháp luật chưa thực sự chính xác, đồng bộ, chưa thống nhất quan điểm giữa
các cấp Tòa án khiến cho việc áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết
các TCTM còn gặp nhiều khó khăn.
Từ những phân tích trên, em đã lựa chọn đề tài:“Pháp luật về giải quyết
tranh chấp thương mại và thực tiễn tại Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội” để
nghiên cứu và làm chuyên đề tốt nghiệp.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở làm rõ các nguyên tắc, thẩm
quyền và thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án theo pháp luật
Việt Nam và thực tiễn giải quyết của TAND TP Hà Nội để tìm ra các giải pháp
góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp
thương mại bằng Tòa án ở nước ta hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu, các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra là:
-
Khái quát các vấn đề lý luận của pháp luật về giải quyết TCTM ở Việt
Nam.
-
Đánh giá thực trạng giải quyết TCTM qua thực tiễn xét xử tại TAND TP
Hà Nội, đi sâu phân tích những kết quả đạt được, những hạn chế tồn tại và
làm rõ nguyên nhân của thực trạng đó.
-
Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
giải quyết TCTM qua thực tiễn xét xử tại TAND TP Hà Nội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Chuyên đề chủ yếu tập trung nghiên cứu những quy định của BLTTDS
2015 giải quyết TCTM tại Tòa án, thực trạng áp dụng và đưa ra một số kiến nghị
nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của thực hiện pháp luật về giải quyết TCTM
tại Tòa án.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
2
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
3.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Thứ nhất về lý luận: Chuyên đề tập trung nghiên cứu các vấn đề chung
về nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục giải quyết TCTM của Tòa án theo thủ tục sơ
thẩm và phúc thẩm.
+ Thứ hai về thực trạng pháp luật: Chuyên đề tập trung nghiên cứu các
quy định của pháp luật về nguyên tắc, thẩm quyền, thủ tục của Tòa án trong việc
giải quyết TCTM theo BLTTDS 2015 trong quan hệ so sánh với BLTTDS 2004
được sửa đổi bổ sung 2011.
Ngoài ra, TAND TP Hà Nội đã nhiều năm xét xử TCTM. Trong khuôn
khổ chuyên đề thực tập này, em chỉ giới hạn nghiên cứu những năm trở lại đây,
với số liệu, thông tin thực tế giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2024. Qua đó, đóng
góp ý kiến hoàn thiện các quy định pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong
việc giải quyết TCTM đồng thời đánh giá những quy định của pháp luật hình
thành trong thực tiễn áp dụng và đưa ra những đề xuất sớm thực thi, triển khai
những quy định này trong thời gian tới.
4. Kết cấu của chuyên đề
Chuyên đề thực tập gồm 03 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về giải quyết tranh chấp thương
mại tại Tòa án.
Chương 2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương
mại tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
Chương 3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
3
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
1.1. Khái niệm về giải quyết tranh chấp thương mại
1.1.1. Khái niệm về tranh chấp thương mại
1.1.1.1. Khái niệm về tranh chấp thương mại
Theo Từ điển Tiếng Việt, tranh chấp có nghĩa là “đấu tranh giằng co khi
có bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa các bên”. TCTM được hiểu là
những bất đồng trong lĩnh vực thương mại, là các mâu thuẫn phát sinh khi các
bên tham gia có sự không đồng nhất về lợi ích trong hoạt động kinh doanh. Cụ
thể, TCTM là những bất đồng phát sinh trong quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ
sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ trên thị trường với mục đích sinh lợi. Mặc dù
định nghĩa này còn một số hạn chế, tuy nhiên nó đã nêu rõ rằng bản chất của
TCTM là sự mâu thuẫn và xung đột lợi ích khi tham gia vào các hoạt động kinh
doanh. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa mâu thuẫn, xung đột và tranh chấp: chỉ khi
mâu thuẫn và xung đột trở nên nghiêm trọng và không thể hòa giải, thì tranh
chấp mới thực sự xuất hiện.Vậy có thể định nghĩa một cách ngắn gọn đối với
TCTM như sau: “Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng hay
xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện các
hoạt động thương mại".
1.1.1.2. Đặc điểm về tranh chấp thương mại
TCTM thực chất là một loại tranh chấp dân sự, do vậy bên cạnh việc
mang những nét đặc trưng của tranh chấp dân sự thì TCTM còn có những đặc
điểm riêng biệt như sau:
Một là, TCTM là những mâu thuẫn (bất đồng) về quyền và nghĩa vụ giữa
các bên trong mối quan hệ cụ thể phát sinh trong hoạt động thương mại. Đặc
điểm này nhằm giúp phân biệt với tranh chấp dân sự thông thường bởi lẽ hoạt
động thương mại gắn liền với mục đích lợi nhuận. Thông thường các chủ thể
tham gia quan hệ thương mại đều nhằm mục đích cuối cùng là lợi nhuận nên khi
hợp tác với nhau, các bên đều muốn giành được nhiều lợi ích về phía mình, do đó
mâu thuẫn phát sinh là điều không tránh khỏi.
Hai là, mâu thuẫn trong lĩnh vực thương mại thường xuất hiện giữa các
chủ thể kinh doanh với nhau, bao gồm các cá nhân và tổ chức hoạt động kinh
11208115 - Nguyễn Thu Trang
4
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
doanh. Ngoài ra, trong một số trường hợp nhất định, các cá nhân và tổ chức khác
không mang tư cách thương nhân cũng có thể trở thành bên tham gia vào các
mâu thuẫn thương mại. Ví dụ, có thể phát sinh tranh chấp giữa doanh nghiệp với
thành viên của mình, hoặc giữa các thành viên nội bộ về các vấn đề liên quan đến
việc thành lập, vận hành, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia tách hoặc chuyển đổi
mô hình tổ chức của doanh nghiệp. Đồng thời, mâu thuẫn cũng có thể nảy sinh từ
các giao dịch giữa một bên không vì mục đích lợi nhuận và một bên là thương
nhân, trong trường hợp bên không vì lợi nhuận quyết định áp dụng Luật thương
mại 2005 khi giao dịch tại Việt Nam. Trong khi đó, chủ thể của tranh chấp dân sự
hiện nay chủ yếu bao gồm cá nhân và các pháp nhân.
Ba là, các quan hệ kinh doanh, thương mại có bản chất là các quan hệ tài
sản nên nội dung tranh chấp thường phản ánh những xung đột chủ yếu liên quan
đến tài sản, liên quan tới lợi ích kinh tế các bên.
Bốn là, do hoạt động thương mại là một quá trình liên tiếp với nhiều giai
đoạn có sự liên kết chặt chẽ với nhau, các xung đột trong lĩnh vực này thường có
tính chất phức tạp và thường ảnh hưởng đến nhiều ngành nghề, nhiều bên liên
quan, thậm chí có thể tác động đến cả thị trường hoặc quốc gia, chứ không chỉ
dừng lại ở những bất đồng giữa các cá nhân hoặc tổ chức đơn lẻ như trong tranh
chấp dân sự. Nếu các xung đột thương mại không được giải quyết triệt để và kịp
thời, chúng có thể gây ra các hậu quả dây chuyền, làm đình trệ hoạt động kinh
doanh, gây thiệt hại cho các bên liên quan và ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi
của những chủ thể tham gia vào thị trường kinh tế.
1.1.1.3. Phân loại tranh chấp thương mại
TCTM là hoạt động phát sinh từ hoạt động thương mại do đó về tính chất
và hình thức tranh chấp phụ thuộc vào sự đa dạng của chính hoạt động thương
mại. Việc phân loại TCTM được dựa trên các tiêu chí như sau:
-
Theo nội dung và lĩnh vực phát sinh tranh chấp. Căn cứ tại Điều 29
BLTTDS 2015, TCTM bao gồm:
a) “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, thương mại giữa cá
nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi
nhuận bao gồm: Mua bán hàng hóa; cung cấp dịch vụ; phân phối; đại
diện, đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng; tư vấn, kĩ thuật;
vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy
nổi địa; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không,
11208115 - Nguyễn Thu Trang
5
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
đường biển; mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; đầu
tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác.
b) Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,
tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
c) Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành
viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể,
sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.”
Theo tính chất quốc tế. TCTM bao gồm:
-
Tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài, là tranh chấp có một trong
các dấu hiệu pháp lý sau: Một trong các bên tranh chấp có quốc tịch khác
nhau, hoặc có nơi cư trú, hoặc có trụ sở đặt ở các nước khác nhau; Tài sản
là đối tượng của quan hệ tranh chấp tồn tại ở nước ngoài; Sự kiện pháp lý
phát sinh quan hệ tranh chấp xảy ra ở nước ngoài.
-
Tranh chấp thương mại không có yếu tố nước ngoài là loại tranh chấp
không có dấu hiệu pháp lý kể trên.
Theo giá trị tranh chấp. Theo giá trị tranh chấp, TCTM bao gồm 2 loại:
TCTM giá trị lớn, TCTM giá trị nhỏ. Tuy nhiên, việc phân loại TCTM theo tiêu
chí giá trị tranh chấp chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi hiện nay chưa có điều luật cụ
thể quy định giá trị tranh chấp bao nhiêu được coi là tranh chấp có giá trị lớn, bao
nhiêu là giá trị nhỏ.
Việc phân loại TCTM nhằm giúp cho việc lựa chọn hình thức giải quyết
tranh chấp cũng như luật áp dụng để giải quyết một cách chính xác, nhanh chóng
và ít tốn kém nhất.
1.1.2. Khái niệm về giải quyết tranh chấp thương mại
1.1.2.1. Khái niệm về giải quyết tranh chấp thương mại
Theo như phân tích, TCTM là các xung đột nảy sinh từ các hoạt động
thương mại bao gồm cung ứng dịch vụ, xây dựng, bảo hiểm,…Đây là loại tranh
chấp thuộc lĩnh vực tư, nên các bên liên quan có quyền tự thỏa thuận phương
thức giải quyết tranh chấp trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh (quyền tự định
đoạt). Khi lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp, các bên thường ưu tiên các
phương án hiệu quả về thời gian, chi phí, đồng thời bảo vệ quyền tự do hoạt động
thương mại của các bên, tránh gây trở ngại đối với quá trình kinh doanh và duy
trì cơ hội kinh doanh của họ.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
6
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Việc giải quyết mâu thuẫn thương mại là quá trình mà các bên áp dụng các
phương thức và thủ tục thích hợp để chấm dứt xung đột và bảo vệ quyền lợi
chính đáng của mình. Pháp luật về giải quyết mâu thuẫn thương mại là tổng hợp
các quy định điều chỉnh trình tự từ thời điểm phát sinh tranh chấp cho đến khi
hoàn tất việc xử lý. Dựa trên các phân tích trên, có thể hiểu giải quyết tranh chấp
thương mại là:
“Giải quyết tranh chấp thương mại được hiểu là quá trình phân xử để làm
rõ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các bên, buộc bên vi phạm nghĩa vụ phải
thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên bị vi phạm. Việc giải quyết tranh
chấp thương mại được tiến hành khi có ít nhất một bên cho rằng mình có quyền
lợi hợp pháp bị bên kia xâm phạm và có yêu cầu được giải quyết. Kết quả là các
quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định lại hoặc mâu thuẫn hay xung đột
giữa các bên được dung hòa thông qua các phản quyết của người đứng ra giải
quyết tranh chấp."
1.1.2.2. Đặc điểm về giải quyết tranh chấp thương mại
Khi có tranh chấp xảy ra, các bên được quyền lựa chọn phương thức giải
quyết phù hợp theo nhiều cách khác nhau. Thực tế cho thấy, tranh chấp thương
mại có thể được giải quyết thông qua Tòa án hoặc bằng các phương thức khác
ngoài Tòa án. Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại đã quy định cụ thể
về quy trình, thủ tục và các nội dung liên quan, nhằm đảm bảo việc giải quyết
tranh chấp diễn ra đúng trình tự và hợp pháp.
Đối với các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại như hòa giải,
thương lượng chỉ cần các bên có thiện chí giải quyết, pháp luật chưa có quy định
về thủ tục giải quyết TCTM bằng phương thức này nhưng trong các phương thức
giải quyết bằng Tòa án hoặc trọng tài, pháp luật đều khuyến khích các bên tiến
hành hòa giải hoặc thương lượng trước khi buộc phải tiến hành các thủ tục giải
quyết mà pháp luật quy định.
Trong trường hợp lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng Tòa án thì các bên
phải tuân thủ triệt để nghiêm ngặt, chặt chẽ các quy định của pháp luật về trình
tự, thủ tục giải quyết tranh chấp được quy định tại BLTTDS 2015 và các văn bản
về hướng dẫn thi hành.
Mặc dù tranh chấp thương mại có thể được giải quyết bằng nhiều phương
thức khác nhau như thương lượng, hòa giải hoặc bằng con đường Tòa án hoặc
trọng tài thương mại nhưng để tìm hiểu phương thức giải quyết TCTM bằng Tòa
11208115 - Nguyễn Thu Trang
7
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
án được đầy đủ và toàn diện, thì vẫn cần tìm hiểu về các phương thức giải quyết
khác, so sánh với phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án để rút ra những
ưu, nhược điểm của phương thức này, để có phương hướng hoàn thiện cả lý
thuyết và thực tiễn áp dụng.
1.1.3. Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại
1.1.3.1. Thương lượng
Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp không cần đến vai trò
của người thứ ba ngoài các bên tranh chấp. Đây là phương thức giải quyết tranh
chấp mà các bên cùng trao đổi quan điểm, đề xuất các biện pháp phù hợp và đi
đến sự đồng thuận nhằm tháo gỡ bất đồng. Thương lượng là một cách thức khá
phổ biến và hiệu quả trong xử lý tranh chấp, mang những ưu điểm như: thủ tục
đơn giản, chi phí thấp, không gây ảnh hưởng đến quan hệ hợp tác sẵn có giữa các
bên, bảo đảm bí mật kinh doanh và không bị ràng buộc bởi các quy định pháp lý
nghiêm ngặt.
Phương pháp này đòi hỏi các bên phải có thiện chí, trung thực và hợp tác;
phải có những kiến thức cần thiết về pháp luật. Đối với các vụ việc phức tạp, các
bên cần yêu cầu các chuyên gia có trình độ và kinh nghiệp lâu năm để thay mặt
giải quyết và thương lượng. Thương lượng thường dẫn đến các cam kết và thỏa
thuận cụ thể nhằm giải quyết những bất đồng đã nảy sinh trước đó.
Tuy nhiên, hình thức thương lượng cũng mang một số nhược điểm như:
Khó thực hiện nếu các bên đã mâu thuẫn căng thẳng trong các vấn đề tranh chấp
và không có thiện chí với nhau. Giá trị pháp lý của biên bản thương lượng chưa
được quy định cụ thể và không có giá trị cưỡng chế thi hành.
1.1.3.2. Hòa giải
Hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại có sự góp mặt
của bên thứ ba độc lập do được chỉ định hay có sự chấp nhận của các bên, có vai
trò trung gian để tìm kiếm các phương án giải quyết thích hợp cho các bên. Kết
quả của hòa giải thành công là các bên tự thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh
chấp. So với hình thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hoà giải có sự
tham gia của các bên thứ 3, là trung gian giúp đỡ các bên tìm ra giải pháp. Giống
như thương lượng, hoà giải là một biện pháp mang tính truyền thống không phải
chỉ mới xuất hiện trong giai đoạn hiện nay mà được hình thành từ rất lâu. Mặc dù
hoà giải cũng là biện pháp mang tính hiệu quả và được nhà kinh doanh ưa
11208115 - Nguyễn Thu Trang
8
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
chuộng để giải quyết tranh chấp nhưng hạn chế là quá trình hoà giải các bên
tranh chấp cũng không chịu sự chi phối bởi các quy định có tính khuôn mẫu, bắt
buộc của pháp luật về thủ tục hoà giải. Kết quả hoà giải thành được thực thi cũng
hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên tranh chấp mà không có bất
kỳ cơ chế pháp lý nào bảo đảm thi hành những cam kết của các bên trong quá
trình hoà giải.
Cùng với những lợi ích mà hòa giải thương mại đem lại, ngày 24/2/2017,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại, lần
đầu tiên quy định cụ thể, hướng dẫn về hòa giải viên, tổ chức hòa giải chuyên
nghiệp, trình tự, thủ tục hòa giải. Theo Nghị định, dựa vào quy tắc hòa giải, các
bên có quyền tuân thủ hoặc dựa theo các thỏa thuận khác theo trình tự, thủ tục
hòa giải.
Các bên nếu không có thỏa thuận trước về trình tự, thủ tục hòa giải thì hòa
giải viên có quyền dựa vào các tình tiết của vụ việc, nguyên vọng và được sự
chấp nhận của các bên để thực hiện hòa giải. Một hay nhiều hòa giải viên tham
gia hòa giải và địa điểm, thời gian hòa giải có thể do thỏa thuận của hai bên và
hòa giải viên có quyền đưa ra các đề xuất nhằm giải quyết tranh chấp. Cũng
chính vì vậy, từ khi có hiệu lực thi hành các hoạt động hòa giải ngoài tố tụng
được quy định trong Nghị định 22/2017/NĐ-CP được đánh giá là linh hoạt hơn
và ngắn gọn hơn so với các thủ tục trước đây.
1.1.3.3. Trọng tài thương mại
Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp có mang tính tài phán phi
chính phủ do các bên tự thỏa thuận lựa chọn để giải quyết các TCTM. Trọng tài
chính là bên trung gian thứ ba được các bên tranh chấp chọn ra để giúp các bên
giải quyết những xung đột, bất đồng giữa họ trên cơ sở đảm bảo quyền tự định
đoạt của các bên. Phương thức trọng tài bắt nguồn từ sự thỏa thuận của các bên
trên cơ sở tự nguyện. Để đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết, các bên phải có
thỏa thuận trọng tài. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khá giống với phương
pháp giải quyết tranh chấp bằng hòa giải. Cả hai phương thức này đều có sự xuất
hiện của người thứ ba. Tuy nhiên, trong hình thức hòa giải, vai trò của người thứ
ba chỉ mang tính hỗ trợ, giúp đỡ các bên thỏa thuận với nhau.
Còn trong phương thức Trọng tài, sau khi xem xét sự việc, trọng tài có
thể đưa ra phán quyết có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên. Giải quyết
các TCTM bằng con đường Trọng tài có nhiều ưu điểm: Thủ tục trọng tài đơn
11208115 - Nguyễn Thu Trang
9
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
giản, nhanh chóng; các bên tranh chấp có khả năng tác động đến quá trình trọng
tài; khả năng chỉ định trọng tài viên giúp các bên lựa chọn được trọng tài viên
giỏi, nhiều kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc vấn đề đang tranh chấp, qua đó có
điều kiện giải quyết tranh chấp hợp đồng nhanh chóng, chính xác; nguyên tắc
trọng tài không công khai giúp các bên hạn chế sự tiết lộ các bí mật kinh doanh,
giữ được uy tín của các bên trên thương trường; trọng tài không đại diện cho
quyền lực tư pháp của Nhà nước nên rất phù hợp để giải quyết các tranh chấp
có yếu tố nước ngoài.
Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng có thể có một số
hạn chế nhất định: Trọng tài không đại diện cho quyền lực tư pháp của Nhà nước
nên có thể gặp khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp như xác minh, thu
thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
1.1.3.4. Tòa án
Giải quyết TCTM tại Toà án là phương thức giải quyết dựa vào quyền lực
của cơ quan tài phán Nhà Nước, để đưa ra phán quyết cuối cùng buộc đương sự
phải chấp hành bằng cưỡng chế Nhà nước. Thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM
bằng Tòa án được bắt đầu khi một trong các bên tranh chấp khởi kiện ra Tòa án
yêu cầu giải quyết các nội dung tranh chấp của họ khi các lợi ích bị xâm phạm.
Về ưu điểm:
-
Giải quyết tranh chấp bằng cách dựa vào cơ quan tài phán như Toà án có
những ưu điểm nhất định. Trước hết, Toà án là cơ quan thay mặt nhà nước
giải quyết tranh chấp, vì vậy các phán quyết của Toà án được bảo đảm thi
hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Cơ quan thi hành án, với
chức năng chuyên trách và đầy đủ phương tiện, có nhiệm vụ thực thi các
bản án đã có hiệu lực pháp luật. Đây là đặc điểm để phương thức giải
quyết tranh chấp tại Tòa án trở nên phổ biến.
-
Qua nhiều cấp xét xử, Tòa án đảm bảo cho quyết định của mình được
công bằng, chính xác, khách quan và phù hợp với quy định của pháp luật.
-
Hiện nay tại Việt Nam, để giải quyết tranh chấp tại Tòa án với chi phí thấp
hơn nhiều so với tổ chức trọng tài thương mại hay quốc tế.
Về nhược điểm:
11208115 - Nguyễn Thu Trang
10
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
-
Tòa án yêu cầu các bên phải tuân thủ các quy định của mang tính hình
thức theo BLTTDS nên các bên phải nắm rõ được các quy định này để
tránh vi phạm và tốn thời gian của các bên.
-
Việc xét xử công khai đối với một số vụ án nghiêm trọng mang tính chất
răn đe là tuân thủ theo nguyên tắc xét xử công khai. Một số trường hợp để
tránh lộ bí mật về sở hữu trí tuệ hoặc liên quan đến vấn đề chính trị theo
yêu cầu của các đương sự, thì Tòa án có thể xử kín nhưng công khai phàn
tuyên án vè các doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng xấu đến danh tiếng.
1.2. Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án
1.2.1. Các nguyên tắc cơ bản khi giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án
1.2.1.1. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự
Điều 5 BLTTDS 2015 quy định: “1. Đương sự có quyền quyết định việc
khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ
thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự
và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó; 2. Trong quá trình
giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền thay đổi, chấm dứt, thay đổi yêu
cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi pham điều
cấm của luật và trái đạo đức xã hội.”
Dựa trên các quy định trong BLTTDS 2015, quyền tự quyết và tự định
đoạt của đương sự được thể hiện ở các nội dung cơ bản sau đây:
Một là, quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong việc khởi
kiện vụ án dân sự, yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự.
Hai là, quyền tự định đoạt trong việc đưa ra yêu cầu phản tổ của bị đơn.
Nếu như nguyên đơn có quyền quyết định khởi kiện và lựa chọn nội dung khởi
kiện đối với bị đơn tại Tòa án thì ngược lại bị đơn cũng có quyền đưa ra các phản
tố đối với nguyên đơn tại Tòa án.
Ba là, quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong việc chấm
dứt, thay đổi yêu cầu của mình một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của
luật và không trái đạo đức xã hội. Tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng mà việc
thay đổi, chấm dứt yêu cầu của đương sự có thể được Tòa án chấp nhận hay
không chấp nhận.
Bốn là, quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong việc lựa
chọn người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong
11208115 - Nguyễn Thu Trang
11
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
quá trình Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự, các đương sự có quyền tự mình
hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
Trong nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, quyền khởi
kiện là quan trọng nhất. Bởi lẽ, theo quy định thì Tòa án chỉ thụ lý, giải quyết các
tranh chấp này nếu có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của các đương sự. Khi đã yêu
cầu Toà án giải quyết tranh chấp, các bên vẫn có quyền hoà giải với nhau, thay
đổi nội dung đơn kiện hoặc rút đơn kiện. Điều này được quy định tại Điều 5,
BLTTDS (2015).
1.2.1.2. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự
là những tư tưởng pháp lí chủ đạo, có tính bắt buộc chung, thể hiện quan điểm có
tính định hướng của Nhà nước trong việc xét xử các vụ việc dân sự, được quy
định trong pháp luật tố tụng dân sự, trong đó trước Toà án, mọi công dân, cơ
quan, tổ chức đều có địa vị pháp lí ngang nhau, không bị phân biệt đối xử trong
việc hưởng quyền, thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý, các đương sự
đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự. Toà án giải quyết vụ việc dân
sự độc lập, khách quan, đúng pháp luật và có trách nhiệm tạo điều kiện để đương
sự được bình đẳng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự.
Do đó, khi tham gia vào hoạt động tố tụng dân sự, các đương sự đều bình
đẳng về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự. Đó là, (i) các đương sự có vị trí tố
tụng như nhau thì có quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự như nhau; (ii) trong
trường hợp các đương sự có vị trí tố tụng khác nhau thì các đương sự vẫn có
quyền bình đẳng như nhau trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng
dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án như quyền
đưa ra yêu cầu, phản đối yêu cầu, quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và
chứng minh, quyền kháng cáo, quyền tham gia phiên tòa, quyền tranh luận,
quyền khiếu nại, tố cáo...; (iii) các đương sự có vị trí tố tụng như nhau nhưng
trong một số trường hợp pháp luật quy định cho họ có những đặc quyền riêng
như quy định về miễn giảm án phí, quyền từ chối khai báo. Đây không phải là sự
bất bình đẳng mà việc đối xử khác nhau với cùng một đương sự dựa trên các điều
kiện hợp lí, khách quan để nhằm đạt được sự bình đẳng giữa các đương sự.
1.2.1.3. Nguyên tắc Toà án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu nhập
chứng cứ
11208115 - Nguyễn Thu Trang
12
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Trong TTDS, đương sự có trách nhiệm chính trong việc thu thập chứng cứ
và cung cấp nó cho Tòa án, trong trường hợp không thể tự thu thập được hoặc
Tòa án thấy cần thiết cho việc xét xử vụ án thì Tòa án sẽ hỗ trợ trong việc thu
thập chứng cứ.
Theo nguyên tắc được quy định tại khoản 2 Điều 6 BLTTDS 2015 thì
"Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do
Bộ luật này quy định” và khoản 2 Điều 97 BLDS 2015 quy đinh xác minh, thu
thập chứng cứ như sau: “ 2. Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Tòa
án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu,
chứng cứ: a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; b) Đối chất giữa các
đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng; c) Trưng cầu giám
định; d) Định giá tài sản; đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ; e) Ủy thác thu thập, xác
minh tài liệu, chứng cứ; g) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu
đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết
vụ việc dân sự; h) Xác minh sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi cư
trú; i) Các biện pháp khác theo quy định của Bộ luật này.”
Việc áp dụng nguyên tắc này trong thực tế gặp không ít khó khăn.
BLTTDS 2015 chỉ quy định một cách chung rằng nếu đương sự không cung cấp
chứng cứ, họ sẽ phải chịu bất lợi, nhưng lại không xác định thời hạn cụ thể mà
đương sự phải cung cấp chứng cứ. Có những trường hợp, mặc dù đương sự có
khả năng thu thập hoặc đang giữ chứng cứ, nhưng họ lại không cung cấp ngay
mà chỉ đưa ra khi thấy có lợi cho mình. Thậm chí, có khi các bên tranh chấp chỉ
xuất trình chứng cứ sau khi vụ án đã đến giai đoạn xét xử phúc thẩm hoặc sau khi
bản án đã có hiệu lực pháp luật, kèm theo đơn khiếu nại theo thủ tục giám đốc
thẩm, tái thẩm. Từ tình trạng này, Tòa án rất khó để bảo đảm tính khách quan,
công bằng và chính xác trong xét xử.
1.2.1.4. Nguyên tắc hoà giải
Hòa giải là hình thức thức giải quyết tranh chấp phi tài phán với sự góp
mặt của bên trung gian thứ ba – với tư cách là người tổ chức phiên hòa giải để
giúp các bên có thể thỏa thuận về giải quyết tranh chấp hợp đồng.
Tại khoản 1 Điều 205 BLTTDS 2015 quy định trách nhiệm hòa giải của
Tòa án: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành hoà giải
để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án
không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được quy định tại Điều 206
11208115 - Nguyễn Thu Trang
13
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn”.
Do vậy, hòa giải tiến hành với việc giải quyết hầu hết VADS, trừ những trường
hợp không hòa giải được hoặc pháp luật quy định không được hòa giải. Theo
Điều 206 BLTTDS, Tòa án không hòa giải đối với những yêu cầu đòi bồi thường
gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước; những VADS phát sinh từ giao dịch trái
pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.
Phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua hoà giải có những
đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, các bên tranh chấp trong hợp đồng có quyền lựa chọn trung gian
hoà giải, thời gian, địa điểm, cách thức hòa giải
Thứ hai, hoà giải tranh chấp hợp đồng hỗ trợ các bên tiếp tục giữ gìn và
phát triển các quan hệ đối tác trong thời gian dài vì lợi ích chung.
Thứ ba, việc hoà giải tranh chấp hợp đồng có sự kết hợp hài hòa giữa pháp
luật với các yếu tố như tập quán, văn hóa, mối quan hệ giữa các bên. Do vậy, thủ
tục hoà giải được tiến hành một cách linh hoạt, không bị ràng buộc bởi quy chế,
thủ tục cứng nhắc nào (trừ những trường hợp pháp luật có quy định).
Thứ tư, hòa giải tranh chấp hợp đồng tiết kiệm thời gian và bảo đảm “kín
đáo” cho các bên tranh chấp.
Từ năm 2019 đến nay do tác động của đại dịch covid-19 tình trạng TCTM
xảy ra khá phổ biến và dưới nhiều hình thức vi phạm khác nhau. Để hợp tác và
phát triển các chủ thể tranh chấp, nhất là các chủ thể kinh doanh không chỉ lựa
chọn phương thức khởi kiện ra Tòa án mà cần thực hiện phương thức thương
lượng, hòa giải có tính chất tương trợ lẫn nhau trong sản xuất và kinh doanh.
1.2.1.5. Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời
Việc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời là một yêu cầu quan trọng
trong tố tụng dân sự, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên tranh chấp
được bảo vệ và thực thi trong thời gian hợp lý. Theo nguyên tắc này, các cơ quan
tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án, phải thực hiện việc xét xử và giải quyết vụ
án một cách nhanh chóng, không để tình trạng kéo dài hoặc trì hoãn không cần
thiết. Điều này giúp đảm bảo tính hiệu quả của hệ thống tư pháp, tránh gây ảnh
hưởng tiêu cực đến các đương sự và bảo vệ sự công bằng trong quá trình xét xử.
Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng phải được thực hiện một cách cẩn trọng,
bảo đảm việc giải quyết vụ án không chỉ nhanh chóng mà còn phải chính xác và
11208115 - Nguyễn Thu Trang
14
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
công bằng. Việc xét xử cần phải được thực hiện dựa trên đầy đủ chứng cứ và các
yếu tố pháp lý liên quan, để tránh các quyết định sai sót hoặc thiếu khách quan.
Do đó, Tòa án cần cân nhắc kỹ lưỡng giữa việc đảm bảo tiến độ và bảo vệ quyền
lợi hợp pháp của các bên tranh chấp.
Một trong những vấn đề lớn nhất trong quá trình giải quyết vụ án là tình
trạng trì hoãn, kéo dài không cần thiết. Nhiều vụ án dân sự kéo dài từ năm này
qua năm khác, gây khó khăn cho các bên tranh chấp và làm giảm niềm tin vào hệ
thống tư pháp. Nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu hụt nguồn lực, quá tải công
việc tại các Tòa án, đặc biệt là các Tòa án cấp huyện. Trong một số vụ án, đặc
biệt là những vụ án có yếu tố nước ngoài hoặc các vấn đề phức tạp về pháp lý, sự
phối hợp giữa các cơ quan tố tụng, cơ quan thi hành án, hay các cơ quan chuyên
môn khác vẫn chưa chặt chẽ. Điều này có thể làm chậm trễ quá trình giải quyết
và ảnh hưởng đến tính kịp thời của bản án.
1.2.1.6. Nguyên tắc xét xử công khai
Xét xử công khai là một nguyên tắc dân chủ quan trọng trong quá trình xét
xử. Theo khoản 2 Điều 31 của Hiến pháp 2013, quy định: "Người bị buộc tội
phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định công bằng, công khai.
Trường hợp xét xử kín theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công
khai”. Trong quá trình vận hành và tổ chức bộ máy nhà nước, yêu cầu phải công
khai là một yêu cầu quan trọng mang tính minh bạch và trong sáng. Bên cạnh
những ưu điểm, việc công khai xét xử cũng gặp phải một số tiêu cực, điển hình
như việc lộ các bí mật liên quan đến kinh doanh, sở hữu trí tuệ,..dẫn đến ảnh
hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp. Theo Điều 15 BLTTDS 2015 quy
định rằng “Tòa án xét xử công khai. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà
nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên
hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bị mật cá nhân, bị mật gia đình
của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án có thể xét xử kín".
Bí mật kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, như các phát minh, sáng
chế và thông tin quan trọng khác trong kinh doanh, có thể có tác động lớn đến
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Việc tiết lộ hoặc chia sẻ những bí mật này
có thể gây thiệt hại nghiêm trọng, thậm chí đe dọa đến sự tồn vong của doanh
nghiệp. Vì lý do đó, các cá nhân và tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án xử lý vụ án
trong bí mật nhằm bảo vệ các bí mật kinh doanh của mình.
1.2.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án
11208115 - Nguyễn Thu Trang
15
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
1.2.2.1. Thẩm quyền theo vụ việc
Thẩm quyền theo vụ việc là vấn đề xác định trách nhiệm và thẩm quyền
giải quyết TCTM của Tòa án hay các cơ quan có thẩm quyền khác.
Về quy định các thẩm quyền của Tòa án, Điều 30 BLTTDS 2015 đã nêu rõ
như sau:
“1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá
nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
3. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao
dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
4. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp
giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành
viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các
thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải
thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình
thức tổ chức của công ty.
5. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc
thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.”
1.2.2.2. Thẩm quyền theo cấp xét xử
Theo BLTTDS 2015, Tòa án cấp huyện và cấp tỉnh có thẩm quyền giải
quyết TCTM.
Quy định cụ thể về thẩm quyền của TAND cấp huyện tại khoản 1 Điều
35 BLTTDS 2015 như sau:
“1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
những tranh chấp sau đây:
a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28
của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;
b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ
luật này;
c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này”
11208115 - Nguyễn Thu Trang
16
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Quy định cụ thể về thẩm quyền của TAND tỉnh tại điểm a khoản 1,
khoản 2 Điều 37 và Điều 38 BLTTDS 2015:
Theo đó tại Điều 37 BLTTDS 2015 quy định:
"a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao
động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những tranh
chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại
khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này;
2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm
những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp
huyện quy định tại Điều 35 của Bộ luật này mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh tự
mình lấy lên để giải quyết khi xét thấy cần thiết hoặc theo đề nghị của Tòa án
nhân dân cấp huyện"
Bên cạnh đó tại Điều 38 BLTTDS 2015 quy định cụ thể thẩm quyền
của Tòa kinh tế TAND tỉnh đó là “Tòa kinh tế có thẩm quyền giải quyết theo
TTST các vụ án KDTM thuộc thẩm quyền của TAND tỉnh và giải quyết theo thủ
tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án, quyết định của Tòa án cấp huyện chưa
có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị”. Bên cạnh đó tại Điều 38
BLTTDS 2015 quy định cụ thể thẩm quyền của Tòa kinh tế TAND tỉnh đó là
“Tòa kinh tế có thẩm quyền giải quyết theo TTST các vụ án KDTM thuộc thẩm
quyền của TAND tỉnh và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản
án, quyết định của Tòa án cấp huyện chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo,
kháng nghị.”
1.2.2.3. Thẩm quyền theo lãnh thổ
Theo quy định tại Điều 35 thì Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ được
xác định như sau:
“1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được
xác định như sau:
a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị
đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ
tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;
b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu
Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi
11208115 - Nguyễn Thu Trang
17
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những
tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;
c) Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp
về bất động sản”
BLTTDS 2015 đã khắc phục được khó khăn, vướng mắc xuất phát từ tình
trạng vi phạm nghĩa vụ báo địa chỉ của cá nhân, tổ chức thay đổi nơi cư trú, nơi
đăng ký kinh doanh, gây khó khăn cho Tòa án trong việc tống đạt các văn bản giấy
tờ nhằm trốn tránh nghĩa vụ, tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 quy định:
"Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ
nơi cư trú của người bị kiện, người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ
không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không
thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp
luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấy
địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì thẩm phán không trả lại
đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố
tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung".
Một điểm mới tại BLTTDS 2015 là khi không xác định được nơi cư trú
hiện tại của bị đơn và nguyền có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án sẽ
không được hoãn giải quyết vụ án và trả lại đơn kiện cho nguyên đơn mà phải
tiếp tục giải quyết thủ tục như đã quy định.
Các tranh chấp liên quan đến bất động sản chỉ thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nơi có bất động sản. Quy định này xuất phát từ yêu cầu việc
giải quyết tranh chấp thường gắn liền với quá trình điều tra, thu thập chứng cứ để
đưa ra kết luận chính xác và phù hợp nhất. Đối với bất động sản, Tòa án cần phối
hợp với các cơ quan quản lý bất động sản là đối tượng tranh chấp trong quá trình
thu thập chứng cứ.
Vì vậy, quy định chỉ có Tòa án tại nơi có bất động sản mới có quyền giải
quyết là phù hợp với thực tiễn và đảm bảo hiệu quả, hiệu lực xét xử.
1.2.2.4. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Theo điều 40 BLTTDS 2015, quy định cụ thể về thẩm quyền giải quyết
TCTM theo lựa chọn của nguyên đơn. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật tố
tụng, quyền lựa chọn của nguyên đơn trong điều khoản này không có nghĩa là
11208115 - Nguyễn Thu Trang
18
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
nguyên đơn có thể tự do chọn bất kỳ Tòa án nào để giải quyết tranh chấp. Việc
lựa chọn này phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về cơ cấu tổ chức,
phương thức hoạt động và phân quyền của hệ thống TAND. Do đó, pháp luật cho
phép nguyên đơn lựa chọn, nhưng chỉ trong phạm vi các phương án mà pháp luật
đã quy định, cụ thể:
-
Khi nguyên đơn không biết nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở của bị đơn,
nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp tại địa phương nơi
bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng, hoặc nơi có tài sản của bị đơn.
-
Trường hợp tài sản của bị đơn ở nhiều nơi khác nhau, nguyên đơn có
quyền lựa chọn một Tòa án trong những Tòa án có thẩm quyền để giải
quyết tranh chấp của mình. Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ
sở ở Việt Nam thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú,
làm việc, có trụ sở để giải quyết.
-
Khi có nhiều bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở ở các địa phương khác
nhau, nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án tại nơi một trong
các bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở.
-
Đối với tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức: Để tạo
điều kiện cho nguyên đơn, bị đơn thuận lợi trong việc giải quyết tranh chấp
về kinh doanh, thương mại cũng như tạo điều kiện trong công tác thu thập
chứng cứ chứng minh của Tòa án, nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ
chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức đặt chi nhánh để giải quyết tranh chấp.
-
Đối với tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu
Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết.
-
Đối với tranh chấp mà có đối tượng là bất động sản ở nhiều địa phương
khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi có một trong các bất
động sản để giải quyết tranh chấp.
1.2.3. Trình tự giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án
-
Khởi kiện và thụ lý vụ án
Để thực hiện quyền khởi kiện của mình, bên khởi kiện (nguyên đơn) phải
chuẩn bị hồ sơ khởi kiện và nộp tại Tòa án có thẩm quyền. Trong trường hợp
nguyên đơn mời Luật sư thì công việc sẽ trở nên dễ dàng hơn bởi Luật sư là
người có kiến thức pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn, trường hợp ngược lại đòi
11208115 - Nguyễn Thu Trang
19
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
hỏi nguyên đơn phải nắm vững thủ tục tố tụng và có kinh nghiệm soạn thảo văn
bản.
Hồ sơ khởi kiện bao gồm đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ gửi kèm
theo đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện là chứng thư pháp lý quan trọng để Tòa án
xem xét và giải quyết các yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, nó phải được chuẩn bị
thật kỹ lưỡng và phải đáp ứng hai yêu cầu sau:
Thứ nhất, về hình thức thì đơn khởi kiện phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm
viết đơn, tên Tòa án yêu cầu giải quyết và người ký trong đơn khởi kiện phải
đúng thẩm quyền;
Thứ hai, về nội dung thì đơn khởi kiện phải có đầy đủ các nội dung theo
hướng dẫn tại Nghị quyết 05/2012 của Hội đồng thẩm phán TANDTC như:
Thông tin về nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tóm tắt
nội dung vụ kiện, yêu cầu cụ thể của nguyên đơn... Nội dung của đơn kiện phải
trình bày đầy đủ, ngắn gọn, rõ ràng, lập luận chặt chẽ và thật logic. Theo quy
định của BLTTDS năm 2015 thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự. Chính
vì vậy, ngay từ khi nộp đơn kiện, nguyên đơn cần phải xuất trình đầy đủ các giấy
tờ, chứng cứ liên quan để chứng minh cho yêu cầu của mình. Toà án chỉ tự mình
thu thập chứng cứ trong một số trường hợp nhất định.
Khi nộp đơn kiện, thông thường nguyên đơn nộp các giấy tờ sau: hợp
đồng; các phụ lục hợp đồng (nếu có); biên bản thanh lý hợp đồng; biên bản cuộc
họp của các bên để tiến hành thương lượng, hòa giải; hóa đơn, chứng từ, giấy
biên nhận liên quan đến hành hóa, dịch vụ hoặc thanh toán; những giấy tờ, tài
liệu nhằm xác định địa vị pháp lý của nguyên đơn như quyết định (hoặc giấy
phép) thành lập pháp nhân, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, điều lệ hoạt
động của pháp nhân; các giấy tờ nhằm xác định tư cách pháp lý của người đại
diện cho nguyên đơn như quyết định bổ nhiệm (hoặc biên bản bầu) người đại
diện theo pháp luật, giấy ủy quyền, biên bản phân công công tác giữa các chức
danh quản lý pháp nhân... Các giấy tờ nêu trên để có giá trị là chứng cứ thì phải
là bản gốc hoặc nếu là bản sao thì phải được công chứng, chứng thực theo đúng
quy định.
-
Hòa giải và chuẩn bị xét xử
Hồ sơ khởi kiện được nộp lại Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án. Sau
khi xem xét thấy có đủ các điều kiện thụ lý vụ án thì Tòa án sẽ thông báo cho
người nộp đơn kiện biết mức tạm ứng án phí phải nộp. Sau khi nộp tạm ứng án
11208115 - Nguyễn Thu Trang
20
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
phí, người nộp đơn xuất trình cho Tòa án biên lai nộp tạm ứng án phí, Tòa án sẽ
thụ lý vụ án và ghi vào sổ thụ lý và như vậy vụ án đã được đưa vào quy trình giải
quyết của Tòa án.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, hồ sơ sẽ được phân cho thẩm phán thụ lý
nghiên cứu để tiến hành xét xử vụ án và Thẩm phán thụ lý có thể yêu cầu các bên
thực hiện các công việc sau: yêu cầu các bên xuất trình thêm các giấy tờ, tài liệu cần
thiết liên quan đến vụ việc; triệu tập lên Tòa án để lấy lời khai hoặc để đối chất;
triệu tập đến để hòa giải. Nếu các bên tranh chấp hòa giải được với nhau
thì Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của
các bên. Trường hợp hòa giải không thành thì Tòa án lập biên bản hòa giải không
thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
-
Thủ tục xét xử sơ thẩm
Phiên tòa sơ thẩm được thực hiện theo trình tự và thủ tục như sau: thủ tục
bắt đầu phiên tòa, thủ tục hỏi tại phiên tòa; thủ tục tranh luận (theo BLTTDS năm
2015) thì hai thủ tục hỏi và tranh luận kết hợp với nhau thành tranh tụng tại phiên
tòa sơ thẩm; thủ tục nghị án; thủ tục tuyên án.
Khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực của pháp luật, các bên
phải tự nguyện thi hành. Nếu một bên không tự nguyện thi hành, bên được thi
hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành. Bên
được thi hành là đơn gửi tới Cục thi hành án dân sự cấp tỉnh đối với bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật do Tòa án cấp tỉnh xử sơ thẩm. Trong trường
hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật do Tòa án cấp huyện xử sơ thẩm thì
bên được thi hành án làm đơn đề nghị thi hành án gửi tới chi cục hành án dân sự
cấp huyện. Bên được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự
nơi người phải thi hành án cư trú (nếu người thi hành án là cá nhân) hoặc yêu cầu
cơ quan thi hành án dân sự nơi bên phải thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản
(nếu bên phải thi hành án là pháp nhân).
Ngoài ra, vụ án còn có thể được Tòa án giải quyết ở cấp phúc thẩm nếu có
kháng cáo, kháng nghị, quyết định về KDTM còn có thể bị xét lại theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm trong một số trường hợp.
-
Thủ tục xét xử phúc thẩm
Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản
án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo
11208115 - Nguyễn Thu Trang
21
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
hoặc kháng nghị1. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thủ tục phúc thẩm
gồm 03 bước: Kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm; chuẩn bị xét
xử phúc thẩm; phiên tòa phúc thẩm.
-
Kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm: Các đương sự có
quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày
được tống đạt bản án nếu vắng mặt tại phiên tòa2. VKS cùng cấp có quyền
kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án; VKS cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định
trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bên đương sự và VKS có
quyền điều chỉnh, bổ sung hoặc rút lại kháng cáo, kháng nghị, nhưng
không được vượt quá giới hạn của kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu
thời gian kháng cáo, kháng nghị đã kết thúc.
-
Chuẩn bị xét xử phúc thẩm: “Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án
thương mại là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án phức tạp
hoặc trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn
chuẩn bị xét xử, nhưng không quá một tháng3.”
-
Phiên tòa phúc thẩm: Các bước trong phiên tòa phúc thẩm theo quy định
của BLTTDS 2015 tương tự như phiên tòa sơ thẩm, bao gồm: chuẩn bị
khai mạc phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục hỏi tại tòa, thủ tục
tranh luận, nghị án và tuyên án. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm thường
chỉ xem xét lại phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng
nghị hoặc có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị, thay vì giải
quyết toàn bộ vụ án.
Những quy định chung về pháp luật dân sự và tố tụng dân sự là cơ sở pháp
lý cho việc thực hiện hoạt động xét xử. Việc thực hiện và tuân thủ các thủ tục
TTDS đóng vai trò nòng cốt trong việc làm rõ sự thật của vụ án. Nếu trong quá
trình xem xét và giải quyết các tranh chấp, Thẩm phán vi phạm bất kỳ thủ tục nào
quy định trong BLTTDS, dù là vi phạm nhỏ, cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến chất
lượng xét xử.
-
Thủ tục rút gọn
Khoản 1 Điều 330 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
3
Điều 286 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
1
2
11208115 - Nguyễn Thu Trang
22
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Đối những vụ án dân sự khi có đầy đủ các điều kiện theo khoản 1 Điều 137
BLTTDS 2015 thì Tòa án có quyền giải quyết với trình tự đơn giản hơn so với
các vụ án dân sự thông thường để đảm bảo nguyên tắc giải quyết nhanh
chóng, kịp thời và phù hợp với quy định pháp luật
“a) Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa
nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ
án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;
b) Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng;
c) Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài,
trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận
đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất
trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận
thống nhất về việc xử lý tài sản.”
Trong trường hợp nếu Tòa án xử lý vụ án theo thủ tục rút gọn mà xuất hiện
các tình tiết mới hoặc một số yếu tố khác quy định tại Khoản 3 Điều 317 và
khoản 4 điều 320 BLTTDS 2015 thì Tòa án phải chuyển vụ án sang thủ tục
thông thường.
“- Phát sinh tình tiết mới mà các đương sự không thống nhất do đó cần phải
xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc cần phải tiến hành giám
định;
- Cần phải định giá, thẩm định giá tài sản tranh chấp mà các đương sự không
thống nhất về giá;
- Cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
- Phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Phát sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập;
- Phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài,
yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài mà cần phải thực hiện ủy
thác tư pháp, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 317 Bộ luật Tố
tụng dân sự 2015.”
Hiện nay pháp luật chỉ quy định điều kiện để áp dụng thủ tục rút gọn
nhưng không giới hạn phạm vi áp dụng. Do đó đối với tranh chấp kinh doanh
thương mại nếu đáp ứng đủ các điều kiện trên đều có thể áp dụng thủ tục rút gọn.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
23
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Thủ tục xét lại bản án đã có hiệu lực
Thủ tục xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của BLTTDS
2015, bao gồm thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm. Giám đốc thẩm, tái thẩm dân
sự không phải là một cấp xét xử thứ ba mà là những thủ tục tố tụng đặc biệt. Tuy
nhiên, pháp luật tố tụng dân sự vẫn bảo đảm quyền tố tụng của đương sự bằng
việc ghi nhận đương sự có quyền phát hiện vi phạm pháp luật, tình tiết mới và có
quyền đề nghị, thông báo bằng văn bản với những người có thẩm quyền kháng
nghị giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự biết để những chủ thể này xem xét và quyết
định việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về
việc giải quyết TCTM được quy định tại chương XXV Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Căn cứ, điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
“+ Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết
khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;
+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực
hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp
của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;
+ Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết
định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm
phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
người thứ ba4”
- Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giảm đốc thẩm
“+ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định
có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám
đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.5
+ Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp
huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ”.
4
5
Khoản 1 Điều 326 BLTTDS 2015
Điều 331 BLTTDS 2015
11208115 - Nguyễn Thu Trang
24
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
- Về thẩm quyền giám đốc thẩm
“+ Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân
dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị.
+ Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị.
Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem
xét, quyết định việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm theo thẩm quyền mà pháp luật
đã quy định. Trường hợp những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về
cùng một vụ việc, cùng thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân
cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao, thì Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền
giám đốc thẩm toàn bộ vụ án6”.
Đối với thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về
việc giải quyết TCTM:
- Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
“+ Phát hiện được tình tiết mới quan trọng của vụ án mà đương sự đã
không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án;
+ Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người
phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ,
+ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ
vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật;
+ Bản án, quyết định về tranh chấp thương mại của Tòa án hoặc quyết
định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị
hủy bỏ 7.”
- Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
“+ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có
hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám
đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
6
7
Điều 337 BLTTDS 2015
Điều 352 BLTTDS 2015
11208115 - Nguyễn Thu Trang
25
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
+ Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp
huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
+ Người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có
quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có
quyết định tái thẩm 8”
- Thẩm quyền của Hội đồng xét xử tải thẩm
“+ Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật.
+ Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại
theo thủ tục do Bộ luật này quy định.
+ Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết
vụ án .”
9
-
Giai đoạn 6: Thi hành bản án
Thi hành án hình sự là bước cuối cùng trong chuỗi hoạt động tố tụng của
cơ quan thực thi pháp luật, với mục tiêu bắt buộc người bị kết án phải thực hiện
hình phạt đã được Tòa án tuyên. Tính nghiêm chỉnh chấp hành trong việc thi
hành các bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật phụ thuộc chủ yếu vào giai
đoạn này. Quá trình thi hành án dân sự đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ trong việc
thực hiện các hình phạt. Điều này thể hiện việc đưa các quyết định pháp lý của
Tòa án vào thực tiễn thông qua sự tham gia của các cơ quan chức năng, tổ chức
và cá nhân liên quan.
Khi bản án hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực, người được thi hành án
cần gửi đơn yêu cầu thi hành án kèm theo các tài liệu như bản án, quyết định đã
có hiệu lực, thông tin về tài sản cần thi hành hoặc các giấy tờ liên quan. Đơn yêu
cầu có thể nộp trực tiếp tại cơ quan Thi hành án dân sự hoặc gửi qua đường bưu
điện. Người được thi hành án có thể tự mình thực hiện hoặc ủy quyền cho người
khác thực hiện quá trình này.
Trong quá trình thụ lý, các bên đương sự có thể thỏa thuận với nhau về
việc thi hành án và được sự đồng ý bởi co quan Thi hành án dân sự. Khoản 1
8
9
Điều 354 BLTTDS 2015
Điều 356 BLTTDS 2015
11208115 - Nguyễn Thu Trang
26
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Điều 6 Luật Thi hành án dân sự 2014 quy định: “Đương sự có quyền thoả thuận
về việc thi hành án, nếu thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và
không trái đạo đức xã hội. Kết quả thi hành án theo thoả thuận được công nhận.
Theo yêu cầu của đương sự, chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thoả
thuận về thi hành án”.
Khi hết thời gian tự nguyện thi hành án theo pháp luật mà người thi hành
án không chấp hành thì cơ quan Thi hành án tiến hàng xử lý bằng các xem xét
các tài sản của người bị thi hành án.
Việc kê biên vẫn sẽ tiến hành nhưng phải có người làm chứng và ghi rõ
nội dung trong biên bản trong trường hợp có thông báo hợp lệ nhưng đương sự
hoặc người được đương sự ủy quyền không có mặt.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
27
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TOÀ ÁN NHÂN
DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Tổng quan về Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
2.1.1. Tư cách pháp lý của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Tên đơn vị: Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.
Thành lập: ngày 01 tháng 08 năm 2008
Quyết định thành lập: Quyết định số 888/QĐ-TCCB ngày 01/8/2008 của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Chức năng: thực hiện xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của toà án Thành
phố Hà Nội; giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật.
Chánh án: Ông Nguyễn Hữu Chính
Trụ sở chính hiện nay: Ô đất 1-VP, Khu chức năng đô thị Nam đường
vành đai 3, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, Hà Nội
Điện thoại: 088 850 2988
Hòm thư điện tử: toaan.hanoi.gov
2.1.2. Cơ cấu của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Tòa án hiện có 192 người, trong đó có 64 Thẩm phán, 124 Thư ký và chức
danh khác; về trình độ chuyên môn nghiệp vụ có 35 Thạc sỹ Luật, 143 cử nhân;
về trình độ lý luận chính trị có 51 người có trình độ cử nhân và cao cấp lý luận
chính trị. Hằng năm, TAND TP Hà Nội thụ lý, giải quyết 3.000 vụ án các loại10.
Cơ cấu tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo
điều 38 Luật tổ chức tòa án nhân dân 2014 bao gồm:
“a) Uỷ ban Thẩm phán.
b) Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa hành chính, Tòa kinh tế, Tòa lao động,
Tòa gia đình và người chưa thành niên.
10
Truy cập trang web https://toaan.hanoi.gov.vn/gioi-thieu
11208115 - Nguyễn Thu Trang
28
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Trường hợp cần thiết, ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập
Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao.
Căn cứ quy định tại điểm này và yêu cầu thực tế xét xử ở mỗi Tòa án nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chánh án Tòa án nhân dân tôi cao
quyết định việc tổ chức các Tòa chuyên trách.
c) Bộ máy giúp việc.”
Tương tự với cơ cấu tổ chức quản lý quy định trên, cơ cấu tổ chức của
TAND TP Hà Nội hiện nay gồm Ủy ban Thẩm phán, Tòa Hình sự, Tòa Dân sự,
Tòa Kinh tế, Tòa Lao động, Tòa Hành chính, Tòa gia đình và người chưa thành
niên, Văn phòng, Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án, Phòng Tổ chức cán
bộ, thanh tra và Thi đua khen thưởng.
Hình 2.1. Bộ máy tổ chức quản lý Tòa án nhân dân TP Hà Nội
2.1.2.1. Uỷ ban thẩm phán
Ủy ban Thẩm phán là một phần trong cơ cấu tổ chức của TAND cấp tỉnh
với các thành viên cấu thành như sau:
“Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương gồm Chánh án, Phó Chánh án và một số Thẩm phán. Số lượng thành viên
của Ủy ban Thẩm phán do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề
11208115 - Nguyễn Thu Trang
29
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương11”
Chức năng và quyền hạn của Uỷ bản thẩm phán:
Theo khoản 2 Điều 39 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 quy định về
Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh như sau:
“Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương có nhiệm vụ, quyền hạn:
- Thảo luận về việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Tòa án
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Thảo luận báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương với Tòa án nhân dân tối cao và Hội đồng nhân dân
cùng cấp;
- Tổng kết kinh nghiệm xét xử;
- Thảo luận về kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo yêu cầu của Chánh án.”
2.1.2.2. Các Tòa chuyên trách
- Chức năng, quyền hạn của các Tòa chuyên trách:
“1. Tòa hình sự xét xử các vụ án hình sự, trừ các vụ án hình sự thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên; xem xét,
quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân trong
trường hợp tại Tòa án đó không tổ chức Tòa xử lý hành chính, trừ trường hợp
việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên.
2. Tòa dân sự giải quyết các vụ việc dân sự; giải quyết các vụ việc kinh
doanh thương mại, phá sản, lao động, hành chính trong trường hợp tại Tòa án
đó không tổ chức Tòa kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính.
3. Tòa kinh tế giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại, phá sản.
4. Tòa hành chính giải quyết các vụ án hành chính.
5. Tòa lao động giải quyết các vụ việc lao động.
11
Khoản 1 Điều 39 Luật tổ chức tòa án nhân dân 2014
11208115 - Nguyễn Thu Trang
30
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
6. Tòa gia đình và người chưa thành niên giải quyết các vụ việc như sau:
a) Các vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi hoặc các vụ án hình
sự mà bị cáo là người đã đủ 18 tuổi trở lên nhưng người bị hại là người dưới 18
tuổi bị tổn thương nghiêm trọng về tâm lý hoặc cần sự hỗ trợ về điều kiện sống,
học tập do không có môi trường gia đình lành mạnh như những người dưới 18
tuổi khác;
b) Xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án
nhân dân đối với người chưa thành niên;
c) Các vụ việc hôn nhân gia đình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
7. Tòa xử lý hành chính xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý
hành chính tại Tòa án nhân dân, trừ những việc thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa gia đình và người chưa thành niên 12”
2.1.2.3. Bộ máy giúp việc
Căn cứ vào Điều 1 Quyết định 345/2016/QĐ-CA do Chánh án TAND tối
cao ban hành như sau:
Bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân cấp tỉnh)
1. Thành lập bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân cấp tỉnh gồm:
a) Văn phòng;
b) Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án;
c) Phòng Tổ chức cán bộ, thanh tra và Thi đua khen thưởng.”
Căn cứ vào quy định đó, TAND TP Hà Nội cũng có bộ máy giúp việc bao
gồm văn phòng, phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án và phòng Tổ chức cán
bộ, thanh tra và Thi đua khen thưởng.
Trong đó:
Văn phòng TAND cấp tỉnh thực hiện việc “tiếp nhận, thụ lý các đơn khởi
kiện, thụ lý hồ sơ vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp tỉnh; phối
hợp với các đơn vị chức năng khác của TAND cấp tỉnh thực hiện công tác tiếp
công dân theo quy định của pháp luật 13”.
12
13
Điều 3 Thông tư 01/2016/TT-CA
Điều 2 Quyết định 345/2016/QĐ-CA
11208115 - Nguyễn Thu Trang
31
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án TAND cấp tỉnh có nhiệm vụ bao gồm:
+ Kiểm tra các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các TAND
cấp huyện thuộc thẩm quyền quản lý để phát hiện, đề xuất Chánh án TAND cấp
tỉnh kiến nghị Chánh án TAND cấp cao xem xét, kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm, tái thẩm khi có căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc tổ chức rút
kinh nghiệm; tham mưu cho Ủy ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh tổng kết kinh
nghiệm xét xử.
+ Giúp Chánh án TAND cấp tỉnh thực hiện công tác thi hành án hình sự,
theo dõi công tác thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.
+ Là đầu mối trong việc phối hợp với cơ quan thi hành án, VKS và các cơ
quan liên quan rà soát, đối chiếu, tổng hợp và đề xuất hướng giải quyết đối với các
bản án, quyết định tuyên không rõ ràng, gây khó khăn cho công tác thi hành án.
+ Thực hiện các công việc khác theo sự phân công của Chánh án TAND
cấp tỉnh.
Phòng Tổ chức - Cán bộ, thanh tra và Thi đua khen thưởng TAND cấp
tỉnh Giúp Chánh án TAND cấp tỉnh trong việc quản lý tổ chức bộ máy, biên chế
cán bộ; thực hiện chính sách đối với công chức và người lao động của TAND cấp
tỉnh và các TAND cấp huyện thuộc quyền quản lý theo quy định của Luật tổ chức
TAND và quyết định phân cấp của Chánh án TAND tối cao.
2.1.3. Tình hình hoạt động của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Trong 6 tháng đầu năm 2024, TAND TP Hà Nội thụ lý 3.949 vụ việc, giải
quyết 1.678 vụ việc, đạt 42,49%.
2.1.3.1. Công tác giải quyết, xét xử các vụ án
Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đặt
niềm tin và giao cho TAND TP. Hà Nội nhiệm vụ xử lý 12 vụ án lớn về kinh tế
và tham nhũng thuộc diện theo dõi đặc biệt. Với tinh thần trách nhiệm cao và nỗ
lực không ngừng, Tòa án đã phối hợp chặt chẽ cùng các cơ quan tố tụng ở cấp
Trung ương và thành phố, khẩn trương nghiên cứu hồ sơ và xét xử nghiêm túc 11
vụ án, trong khi 1 vụ án mới được tiếp nhận từ đầu tháng 10/2023. Đáng chú ý,
nhiều vụ án được đưa ra xét xử chỉ sau hơn một tháng thụ lý, đảm bảo tuân thủ
đúng quy định pháp luật.
Các vụ án hình sự được phân công đều là những vụ án có tính chất phức
tạp, số lượng bị cáo lớn, vi phạm nhiều tội danh, đồng thời liên quan đến việc
11208115 - Nguyễn Thu Trang
32
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
giải quyết các trách nhiệm dân sự và thu hồi các khoản lợi bất chính khổng lồ
liên quan đến nhiều cá nhân và tổ chức. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra là phải giải
quyết nhanh chóng, đúng pháp luật, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo.
Một vụ án đã được đưa ra xét xử chỉ sau 26 ngày kể từ khi thụ lý, với 8
trong số 36 bị cáo vắng mặt kể từ khi vụ án được khởi tố. Đây là một điển hình
về tốc độ xử lý nhanh nhất từ trước đến nay và cũng là lần đầu tiên có việc xét xử
vắng mặt bị cáo ngay từ giai đoạn khởi tố. TAND TP. Hà Nội đã đảm bảo quyền
lợi của các bị cáo vắng mặt bằng cách cho phép luật sư và người thân kháng cáo
thay, điều này đã được Ban Nội chính Trung ương đánh giá cao.
Một ví dụ khác là vụ án “chuyến bay giải cứu”, trong đó có 54 bị cáo với
các tội danh như "Môi giới hối lộ", "Nhận hối lộ", "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản",
"Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ", trong đó có bị cáo
Phạm Trung Kiên. Vụ án này đã được đưa ra xét xử chỉ sau 1 tháng 26 ngày thụ lý.
Ngoài ra, TAND hai cấp tại Hà Nội cũng đã tiếp nhận và giải quyết hàng
nghìn vụ án khác thuộc các lĩnh vực như dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh thương mại, và lao động.
Trong thời gian từ ngày 1/10/2022 đến hết ngày 30/9/2023, TAND hai cấp
TP. Hà Nội thụ lý 39.334 vụ việc, giải quyết 35.551 vụ việc, đạt tỷ lệ 90,38%. So
với cùng kỳ năm 2022, số thụ lý tăng 493 vụ việc, số giải quyết tăng 740 vụ việc,
số tồn giảm 247 vụ việc.
+ Trong đó, án hình sự, TAND hai cấp TP. Hà Nội đã thụ lý 9.164
vụ/17.317 bị cáo (tăng 206 vụ so với cùng kỳ năm 2022), giải quyết 9.058
vụ/16.725 bị cáo (tăng 225 vụ so với cùng kỳ năm 2022), đạt tỷ lệ 98,84%. Trong
đó: TAND cấp huyện thụ lý theo TTST 7.306 vụ/13.267 bị cáo, giải quyết 7.270
vụ/13.101 bị cáo. TAND TP. Hà Nội thụ lý theo TTST 766 vụ/2.288 bị cáo, giải
quyết 704 vụ/1.907 bị cáo; thụ lý theo thủ tục phúc thẩm 1.092 vụ/1.762 bị cáo,
giải quyết 1.084 vụ/171 bị cáo.
+ Án hôn nhân và gia đình: Thụ lý 17.503 vụ việc (tăng 105 vụ việc so với
cùng kỳ năm 2022), giải quyết 17.108 vụ việc (tăng 121 vụ việc so với cùng kỳ
năm 2022), đạt tỷ lệ 97,74%. Trong đó: TAND cấp huyện thụ lý theo TTST
16.928 vụ việc, giải quyết 16.607 vụ việc. TAND TP. Hà Nội thụ lý theo TTST
362 vụ việc, giải quyết 298 vụ việc; thụ lý theo thủ tục phúc thẩm 213 vụ việc,
giải quyết 203 vụ việc.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
33
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
+ Án lao động: Thụ lý 209 vụ việc (giảm 178 vụ việc so với cùng kỳ năm
2022), giải quyết 205 vụ việc (giảm 158 vụ việc so với cùng kỳ năm 2022), đạt tỷ
lệ 98,09%. Trong đó: TAND cấp huyện thụ lý theo TTST 162 vụ việc, giải quyết
159 vụ việc. TAND TP. Hà Nội thụ lý theo TTST 14 vụ việc, giải quyết 13 vụ
việc; thụ lý theo thủ tục phúc thẩm 33 vụ việc, giải quyết 33 vụ việc.
Án kinh doanh thương mại: Thụ lý 2.603 việc (giảm 368 vụ việc so với
cùng kỳ năm 2022), giải quyết 1.800 vụ việc (giảm 246 vụ việc so với cùng kỳ
năm 2022), đạt tỷ lệ 69,15%. Trong đó: TAND cấp huyện thụ lý theo TTST 2.058
vụ việc, giải quyết 1.448 vụ việc. TAND TP. Hà Nội thụ lý theo TTST 217 vụ
việc, giải quyết 67 vụ việc; thụ lý theo thủ tục phúc thẩm 328 vụ việc, giải quyết
285 vụ việc.
+ Án hành chính: Thụ lý 1.039 vụ (tăng 25 vụ so với cùng kỳ năm 2022),
giải quyết 517 vụ (tăng 61 vụ so với cùng kỳ năm 2022), đạt tỷ lệ 49,76%. Trong
đó: TAND cấp huyện thụ lý theo TTST 57 vụ, giải quyết 53 vụ. TAND TP. Hà
Nội thụ lý theo TTST 942 vụ, giải quyết 424 vụ; thụ lý theo thủ tục phúc thẩm 40
vụ, giải quyết 40 vụ.
+ Về xử lý vi phạm hành chính: TAND cấp huyện thụ lý 1.589 hồ sơ áp
dụng các biện pháp xử lý hành chính tại TAND (tặng 561 hồ sơ so với cùng kỳ
năm 2022); giải quyết 1.589 hồ sơ (tăng 561 hồ sơ so với cùng kỳ năm 2022); đạt
tỷ lệ 100%.
2.1.3.2. Công tác tiếp nhận, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo
6 tháng đầu năm 2024, các đơn vị thuộc TAND hai cấp TP Hà Nội đã
chuyển 4.784 đơn khởi kiện, đơn yêu cầu sang xử lý theo thủ tục tại Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án. Kết quả, 2.072 đơn được hòa giải, đối thoại thành hoặc
được người khởi kiện, người yêu cầu rút đơn, đạt tỷ lệ 0,98%. TAND cấp huyện
chuyển 4.580 đơn, thực hiện hòa giải, đối thoại thành 2.070 đơn, đạt tỷ lệ
45,20%.
Đặc biệt, trong 6 tháng đã xét xử trực tuyến được 636 vụ. Hai cấp đã tổ
chức được 18 phiên tòa theo rút kinh nghiệm trực tuyến đến hai cấp theo nội
dung Chỉ thị số 01/2024/CT-TA ngày 2-2-2024 của Chánh án TAND Tối cao.
2.1.3.3. Công tác thông tin truyền thông
Bên cạnh việc làm tốt công tác xét xử, TAND TP. Hà Nội còn rất chú
trọng đến việc làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền trong quá trình giải quyết
11208115 - Nguyễn Thu Trang
34
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
các vụ án. Đơn vị đã chủ động bố trí thêm phòng theo dõi trực tuyến; phối hợp
chặt chẽ với các cơ quan thông tấn báo chí như: Báo Công lý, Đài Truyền hình
Việt Nam, Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội, Thông tấn xã Việt Nam...., kịp
thời đưa tin về hoạt động xét xử, đặc biệt là các vụ án tham nhũng kinh tế lớn, vụ
án dư luận quan tâm, qua đó đã nâng cao việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật về phòng, chống tham nhũng và tinh thần đấu tranh phòng chống tội
phạm trong nhân dân.
Trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hành chính luôn chú trọng và tăng
cường công tác hòa giải, đối thoại nên tỷ lệ các vụ án hòa giải, đối thoại thành ra
quyết định công nhận sự thỏa thuận hoặc đương sự rút đơn khởi kiện đạt tỷ lệ cao
góp phần giải quyết dứt điểm, nhanh chóng tranh chấp, ổn định tình hình nhân dân.
Công tác kiểm tra tiếp tục được tăng cường, qua đó lãnh đạo, cán bộ, công
chức các đơn vị đã có những chuyển biến tích cực trong nhận thức, chỉ đạo, điều
hành và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.
2.1.3.4. Công tác kiểm tra nghiệp vụ
Công tác kiểm tra nghiệp vụ của TAND TP Hà Nội đối với TAND cấp
quận được duy trì thường xuyên, thực hiện các kế hoạch công việc và các
chuyên đề cụ thể. Trong giai đoạn này, tòa án đã tổ chức thực hiện kiểm tra hoạt
động nuôi dưỡng, giải quyết 7556 hồ sơ các loại dự án và hành động hình sự;
đã kiểm tra, nhanh kiểm soát các nhiệm vụ, việc đang tạm dừng chỉ, để xác
định những cơ sở tạm thời chỉ, đề ra giải pháp giải quyết những khó khăn, trả
lời, khuyến khích giải quyết các nhiệm vụ, việc dứt điểm. Thông qua công tác
kiểm tra nghiệp vụ, kịp thời phát hiện những sai sót trong quá trình giải quyết,
xét xử các công việc, qua đó nhận xét đánh giá những ưu điểm, hạn chế tồn tại
để chỉ đạo rút kinh nghiệm chung, hệ thống áp dụng pháp luật tốt nhất tại
TAND hai cấp của thành phố.
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại tại
TAND Thành phố Hà Nội
2.2.1. Thực tiễn thực hiện về nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại tại
TAND Thành phố Hà Nội
Trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, TAND TP
Hà Nội đã áp dụng đầy đủ và đúng đắn các nguyên tắc theo BLTTDS 2015, bao
gồm: “Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự”;“Nguyên tắc
11208115 - Nguyễn Thu Trang
35
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
bình đẳng trước pháp luật”;“Nguyên tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ
xác minh thu thập chứng cứ”;“Nguyên tắc hòa giải”;“Nguyên tắc giải quyết vụ
án nhanh chóng kịp thời”;“Nguyên tắc xét xử công khai”.
Trường hợp ví dụ:
1. Bản án 22/2024/KDTM-PT14 ngày 26/01/2024 về tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa giữa hai công ty (tạm gọi là Công ty T và Công ty D). Trong
quá trình thực hiện hợp đồng Công ty D đã vi phạm Điều 3 Hợp đồng mua bán
hàng hóa cụ thể đã giao hàng kém chất lượng cho bên Công ty T. Công ty T yêu
cầu Công ty D bồi thường một loạt chi phí phát sinh liên quan đến hàng hóa kém
chất lượng mà Công ty D cung cấp. Yêu cầu bồi thường bao gồm chi phí xử lý
hàng hóa, tiền thuê kho, chi phí bảo vệ, và lãi suất do chậm trả. Tổng số tiền bồi
thường yêu cầu là 1.578.908.680 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 26/01/2024, Tòa án đã tiến hành đánh giá
toàn diện các bằng chứng từ cả hai phía để đảm bảo tính công bằng trong quá
trình xét xử. Công ty T đưa ra yêu cầu bồi thường nhiều khoản phát sinh do hàng
hóa kém chất lượng, trong khi Công ty D đã trình bày rằng sản phẩm do Công ty
D sản xuất không phải là hàng kém chất lượng như Công ty T đã nêu và Công ty
T không hề cung cấp được bất cứ bằng chứng nào chứng minh hàng hóa kém
chất lượng. Tòa án xem xét cả hợp đồng mua bán và chứng cứ về chất lượng giải
quyết tranh chấp và hạn chế sự can thiệp của Tòa án vào các quyết định mà các
bên đã tự nguyện đạt được.
2. Bản án 132/2021/KDTM-PT15 ngày 29/06/2021 về tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa giữa Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Kỹ thuật Y khoa
VL (nguyên đơn) và Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ TBYT (bị đơn).
Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TBYT đã vi phạm nghĩa vụ
thanh toán. Nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ
nhưng bị đơn không trả. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Công
ty TBYT phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn nợ là 2.015.813.077 đồng
(tương đương 96.404,26 USD). Ngoài ra, bị đơn còn phải thanh toán cho nguyên
đơn số tiền phạt vi phạm do chậm thanh toán là: 401.472.000 đồng. Tổng số tiền
phải thanh toán là: 2.417.285.077 đồng. Tại phiên phúc thẩm, TAND TP Hà Nội
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2024), Bản án số: 22/2024/KDTM – PT ngày 26/01/2024 v/v:
Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa
14
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2021), Bản án số: 132/2021/KDTM – PT ngày 29/06/2021 v/v:
Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa
15
11208115 - Nguyễn Thu Trang
36
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
đã nỗ lực thực hiện nguyên tắc hòa giải, tạo điều kiện cho hai bên thỏa thuận tuy
nhiên không có kết quả. Từ tình huống này, cho thấy tòa án đã tạo ra một không
gian nơi các bên có thể thảo luận và thương lượng, cho thấy sự tôn trọng đối với
quyền tự quyết của các bên trong tranh chấp. Việc cung cấp thông tin rõ ràng về
quyền lợi và nghĩa vụ giúp đảm bảo rằng cả hai bên đều có cơ hội bình đẳng
trong việc trình bày quan điểm và yêu cầu của mình. Dù hòa giải không thành
công, nhưng việc này khuyến khích các bên tìm kiếm giải pháp hòa bình, tránh
phải kéo dài thời gian tố tụng.
2.2.2. Thực tiễn thực hiện về thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại tại
TAND Thành phố Hà Nội
- Thực tiễn về việc áp dụng thẩm quyền theo vụ việc
Căn cứ theo quy định về tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại
giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và cùng hướng tới mục tiêu lợi
nhuận, BLTTDS 2015 xác định rằng các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh
và mục tiêu sinh lợi là chủ thể chính trong giải quyết TCTM. Tuy nhiên, trên
thực tế, khi giải quyết TCTM, nếu có một bên không phải là cá nhân hoặc tổ
chức có đăng ký kinh doanh và không vì mục đích lợi nhuận, nhưng đã lựa chọn
áp dụng Luật Thương mại năm 2005 trong hợp đồng, thì tranh chấp hợp đồng
thương mại vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Trường hợp bản án
dưới đây là ví dụ điển hình:
Bán án số: 152/2023/KDTM-PT16 ngày 20 tháng 7 năm 2023 giữa các
đương sự : Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Hồ Chí Minh và Bị đơn là ông
Nguyễn Cao C và bà Nguyễn Thị H. Ngân Hàng – Chi nhánh Hà Nội cho ông
Nguyễn Cao C, bà Nguyễn Thị H vay tiền theo Hợp đồng tín dụng
78/11/HĐTD-073 và Khế ước nhận nợ số 01/KUNN ngày 12/8/2011, ngày giải
ngân 12/8/2011 với số tiền 1.000.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 12/8/2012
lãi suất 23,5%; Mục đích vay vốn: kinh doanh phục vụ đời sống. Hợp đồng có
chọn Luật Thương mại 2005 là căn cứ pháp lý. Trong quá trình thực hiện hợp
đồng tín dụng, ông Nguyễn Cao C và bà Nguyễn Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả
nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng. Cụ thể: ông Nguyễn Cao C và bà
Nguyễn Thị H trả cho Ngân hàng 227.065.567 đồng lãi trong hạn và 9.744.362
đồng lãi quá hạn. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu ông C và bà
16
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2023), Bản án số: 152/2023/KDTM – PT ngày 17, 20/7/2023 v/v:
Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
11208115 - Nguyễn Thu Trang
37
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
H trả nợ, tự nguyện bàn giao tài sản bảo đảm cho Ngân hàng xử lý theo đúng quy
định nhưng C và bà H không thực hiện theo các yêu cầu của Ngân hàng, có biểu
hiện kéo dài thời gian, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Trong quá trình thụ lý, giải
quyết của TAND TP Hà Nội và TAND quận HK có 2 quan điểm khác nhau: (i)
Vụ việc là tranh chấp dân sự do ông C và bà H không phải là cá nhân có đăng ký
kinh doanh nên tranh chấp được xác định là tranh chấp dân sự và thuộc thẩm
quyền của Tòa án theo quy định tại Điều 26 BLTTDS 2015; (ii) Mặc dù ông C và
bà H không phải cá nhân có đăng ký kinh doanh nhưng Tòa án đã theo hướng
xác định tranh chấp về kinh doanh, thương mại dựa vào yếu tố phát sinh từ hoạt
động kinh doanh, thương mại và mục đích lợi nhuận của các bên, và không chú
trọng vào việc các bên có đăng ký kinh doanh hay không và đối với hợp đồng
vay giữa ông C, bà H và Ngân hàng TMCP Hồ Chí Minh, ông C và bà H đã lựa
chọn luật áp dụng là Luật Thương mại năm 2005, áp dụng khoản 3 Điều 1 Luật
Thương mại năm 2005 thì ông C và bà H vẫn thuộc trường hợp chủ thể giải
quyết tranh chấp hợp đồng thương mại theo khoản 5 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015. Hợp đồng vay giữa ông C, bà H và Ngân hàng TMCP Hồ Chí
Minh cũng không có điều khoản giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài nên không
thể áp dụng biện pháp này để giải quyết tranh chấp. Xét các tiêu chí nêu trên, có
thể kết luận quan điểm thứ hai là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 30 của BLTTDS 2015, thẩm quyền giải
quyết trong ví dụ trên là các tranh chấp khác trong lĩnh vực thương mại, trừ
những trường hợp thuộc thẩm quyền của cơ quan hoặc tổ chức khác theo pháp
luật. Thực tiễn áp dụng pháp luật TAND TP Hà Nội cho thấy, cùng với sự phát
triển của hoạt động thương mại, số lượng vụ tranh chấp thuộc nhóm này cũng
tăng lên đáng kể. Chẳng hạn như tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa
thương nhân và cá nhân không đăng ký kinh doanh, hợp đồng bảo hiểm giữa
công ty bảo hiểm và cá nhân không đăng ký kinh doanh, hay hợp đồng tín dụng
giữa ngân hàng và cá nhân không có đăng ký kinh doanh. Trong các tình huống
này, cá nhân không đăng ký kinh doanh khi mua hàng hóa, bảo hiểm, hoặc vay
ngân hàng cho mục đích sử dụng cá nhân, không nhằm mục tiêu sinh lợi, thì khi
ký kết hợp đồng có thể lựa chọn áp dụng Luật Thương mại năm 2005.
Hiện nay, BLTTDS 2015 và các văn bản hướng dẫn khác vẫn chưa có quy
định cụ thể cũng như giải thích chi tiết về các loại tranh chấp khác trong thương
mại. Điều này khiến cho phạm vi tranh chấp hợp đồng thương mại tuy rộng
nhưng nhiều trường hợp lại không được quy định rõ ràng, dẫn đến những cách
11208115 - Nguyễn Thu Trang
38
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
hiểu sai lệch trong việc xác định thẩm quyền và phương thức giải quyết. Hệ quả
là quá trình xét xử gặp nhiều khó khăn, các bản án và quyết định đôi khi chưa đủ
sức thuyết phục, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan.
-
Thực tiễn về việc áp dụng thẩm quyền theo cấp của Tòa án
Điều 38 BLTTDS 2015 quy định thẩm quyền của Tòa chuyên trách là Tòa
kinh tế thuộc TAND tỉnh là “giải quyết theo TTST những tranh chấp, yêu cầu về
kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh quy định tại Điều
37 của Bộ luật này. Giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc mà bản án,
quyết định kinh doanh, thương mại chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp
huyện bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này.”
Trong các vụ án về TCTM, TAND TP. Hà Nội là TAND cấp tỉnh nên Tòa
kinh tế sẽ có trách nhiệm giải quyết các vụ việc liên quan theo quy định tại điều
38 như nêu trên và thường tiếp nhận các vụ tranh chấp phức tạp, liên quan đến
các doanh nghiệp lớn, các hợp đồng kinh tế giá trị lớn, hoặc các tranh chấp có
yếu tố nước ngoài. Việc phân định rõ thẩm quyền theo cấp đã giúp giảm tải số
lượng vụ án cho các tòa cấp huyện, đồng thời đảm bảo xử lý nhanh chóng và
đúng luật các vụ án ở cấp tỉnh.
Đối với cấp phúc thẩm, Tòa kinh tế thường xử lý những vụ việc mà các
bên đương sự không hài lòng với phán quyết của tòa cấp huyện, hoặc khi có
kháng nghị của VKS. Tòa kinh tế sẽ xem xét toàn diện lại vụ án để đảm bảo tính
khách quan và công bằng, tránh sai sót trong quá trình xét xử ở cấp sơ thẩm.
Ngoài ra, thẩm quyền của TAND TP Hà Nội còn giải quyết “những tranh
chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài
sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện,
trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này17”.
-
Trường hợp ví dụ:
Bản án số: 39/2023/KDTM -ST18 về tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa
Ngân hàng TMCP B - Công ty Cổ phần N2. Ngày 02/12/2010, Ngân hàng TMCP
B–Chi nhánh H1(viết tắt là B) ký Hợp đồng tín dụng số 553.2010 cho Công ty cổ
Khoản 3 điều 35 BLTTDS 2015
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2023), Bản án số: 39/2023/KDTM – PT ngày 30/10/2023 v/v:
Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
17
18
11208115 - Nguyễn Thu Trang
39
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
phần N2vay vốn. Số tiền vay 20.000.000.000 đồng (Hai mươi tỷ đồng), Thời hạn
vay: 36 tháng kể từ ngày giải ngân. Mục đích vay: Thanh toán tiền mua vỏ bình
ga. Lãi suất vay: tại thời điểm giải ngân 17,5% /năm. Ngày 24/6/2014, B đã bán
toàn bộ khoản nợ của Công ty N2 cho V theo hợp đồng mua bán nợ số:
402/2014/MBN.V2-B. Theo đó, B đã chuyển giao quyền yêu cầu Công ty N2
thanh toán toàn bộ khoản nợ cho V. Do N2 không trả tiền nên V kiện N2 ra tòa và
đề nghị TAND TP Hà Nội giải quyết: buộc Công ty N2 phải thanh toán cho V
toàn bộ nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn và các khoản phát sinh theo hợp đồng tín
dụng và khế ước nhận nợ nêu trên.
Trong vụ án này ông Anilkumar DamjiJ là người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan là người nước ngoài. Theo quy định tại khoản 3 điều 35, điều 37 Bộ
luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND TP Hà Nội.
-
Thực tiễn về áp dụng thẩm quyền theo lãnh thổ
Thẩm quyền dân sự của tòa án theo lãnh thổ là quyền của một tòa án cụ
thể trong việc xem xét, thụ lý, giải quyết và quyết định các vụ việc đó theo tranh
chấp được xác định dựa trên cơ sở nơi cư trú, nơi có trụ sở của đương sự, hay nơi
có tài sản tranh chấp. Việc quy định thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ dựa trên
cơ sở đảm bảo việc giải quyết vụ việc của tòa án được thuận lợi, nhanh chóng,
đúng đắn, tạo thuận lợi cho các đương sự tham gia tố tụng tạo điều kiện cho bị
đơn tham gia tố tụng và bảo đảm quyên lựa chọn của nguyên đơn trong một số
trường hợp. Trong nhiều trường hợp, các bên có xác lập quan hệ hợp đồng và sau
đó có tranh chấp, việc xác định Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
giữa các bên có một ý nghĩa quan trọng đối với chủ thể khởi kiện. Bởi lẽ, xác
định Tòa án nào có thẩm quyền giải quyết sẽ chi phối, ảnh hưởng lớn đến việc
tham gia tranh tụng của nguyên đơn, đến việc thu thập chứng cứ, cung cấp chứng
cứ và chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình cũng như tạo ra nhiều lợi thế
khác cho nguyên đơn trong quá trình tranh tụng. Căn cứ theo khoản 1 Điều 39 và
khoản 1 Điều 40 BLTTDS năm 2015 quy định về thẩm quyền của Tòa án theo
lãnh thổ, khi xác định thẩm quyền dân sự theo lãnh thổ, cần phải xác định xem
đối tượng tranh chấp có phải là bất động sản hay không?
+ Đối với tranh chấp có đối tượng là bất động sản
Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 quy định “c) Đối
tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm
quyền giải quyết". Theo đó, có thể hiểu là đối với TCTM nào mà có đối tượng
11208115 - Nguyễn Thu Trang
40
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
tranh chấp là bất động sản động sản thì chỉ có Tòa án nơi có bất động sản mới có
thẩm quyền giải quyết. Việc quy định như vậy tạo ra sự thuận lợi như sau:
Thứ nhất, theo khoản 1 Điều 107 BLDS năm 2015 quy định về bất động
sản và động sản liệt kê bất động sản bao gồm: "1. Bất động sản bao gồm: a) Đất
đai; b) Nhà công trình xây dựng gắn liền với đất đai; c) Tài sản khác gắn liền
với đất đai, nhà công trình xây dựng, d) Tài sản khác theo quy định của pháp
luật.", có thể thấy bản chất của bất động sản là gắn liền với đất. Theo đó khi đối
tượng tranh chấp trong vụ án TCTM là bất động sản thì việc Tòa án nơi có bất
động sản sẽ dễ dàng hơn trong việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ và xác minh sự
việc. Điều này có thể giúp các đương sự dễ dàng chứng minh các tình tiết của vụ
án, từ đó bảo vệ quyền lợi của mình khi bị xâm phạm.
Thứ hai, bất động sản gắn liền với quá trình hình thành, tồn tại, phát triển
và các yếu tố pháp lý liên quan đến bất động sản đó. Đa số các bất động sản có
quá trình hình thành và tồn tại trong một thời gian dài đều đòi hỏi phải có giấy tờ
pháp lý ghi nhận hoặc có sự xác nhận của những người sống lâu lắm tại khu vực
có bất động sản đó. Tòa án nơi có bất động sản sẽ dễ dàng hơn trong việc thu
thập đầy đủ thông tin và tài liệu về bất động sản đó nhất, từ đó giúp cho việc xác
định tính hợp pháp của bất động sản và tính có căn cứ của yêu cầu một cách
chính xác hơn. Qua đó, góp phần giúp cho Tòa án giải quyết vụ án triệt để và xác
định sự thật của vụ án một cách khách quan nhất.
Tuy nhiên, việc xác định đối tượng của tranh chấp là bất động sản còn
nhiều vướng mắc. Thực tiễn cho thấy các đương sự, thậm chí là các tòa án vẫn
còn lúng túng trong việc xác định những trường hợp áp dụng theo quy định này,
đặc biệt là đối với các tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, hợp đồng mua bán nhà ở. Điều này dẫn tới tình trạng các Tòa án đều
xác định không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, khiến cho vụ án không
được xét xử một cách kịp thời. Có thể thấy thông qua ví dụ sau:
Ví dụ: Theo công văn số 45/2019/CV-TA của TAND quận Hai Bà Trưng
xin ý kiến TAND TP Hà Nội, tòa án gặp phải vướng mắc về xác định thẩm quyền
vụ án có liên quan đến bất động sản. Nguyên đơn là chủ căn hộ khởi kiện chủ
đầu tư liên quan đến “vi phạm về kích thước hành lang thực tế sai so với hợp
đồng các dịch vụ tiện ích không đúng như trong hợp đồng không có hạng mục
nước sạch sinh hoạt, không làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho chủ căn hộ..."
TAND quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội đã xác định quan hệ pháp luật là tranh
11208115 - Nguyễn Thu Trang
41
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
chấp về hợp đồng mua bán theo quy định tại khoản 3, Điều 26 BLTTDS năm
2015, đối tượng tranh chấp là quyền, nghĩa vụ các bên khi thực hiện hợp đồng đã
ký chứ không phải căn hộ, do đó chuyển về TAND quận Ba Đình, TP Hà Nội.
Tuy nhiên, sau đó TAND quận Ba Đình lại chuyển vụ án về TAND quận Hai Bà
Trưng vì cho rằng đối tượng của tranh chấp là căn nhà – một bất động sản, nên
phải áp dụng quy định về thẩm quyền theo điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS
năm 2015. Những trường hợp như ví dụ trên không hề hiểm, điều này gây ra
nhiều khó khăn và phiền hà cho các đương sự cũng như các cơ quan tiến hành tố
tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Từ những phân tích trên có thể thấy rằng khi thụ lý đơn khởi kiện có đối
tượng tranh chấp là bất động sản thì Tòa án cần xác định đúng địa điểm của bất
động sản mà các đương sự đang tranh chấp. Tòa án phải xác định xem địa điểm
đó có nằm trên địa giới hành chính của Tòa án mình không nếu không thuộc địa
giới hành chính của Tòa án mình thì phải chuyển đơn khởi kiện và hướng dẫn
cho đương sự.
+ Đối với các trường hợp đối tượng tranh chấp không phải là bất động sản
Trong các trường hợp mà đối tượng tranh chấp không liên quan đến bất
động sản, thẩm quyền theo lãnh thổ của TAND cấp huyện được xác định dựa trên
quy định tại khoản 1 Điều 39 và khoản 1 Điều 40 của BLTTDS 2015. Thực tiễn
được áp dụng tại bản án sau:
Ngày 21/11/2017 TAND quận Cầu Giấy nhận được hồ sơ vụ án tranh
chấp: “Hợp đồng vận chuyển" giữa Công ty CP vận chuyển Biển Đông phía Nam
có trụ sở tại số 256 Hoàng Hoa Thám, phường 12, quận Tân Bình, Thành phố
HCM với bị đơn là Công ty CP Á Châu Group có địa chỉ tại Tòa nhà Việt Á, phố
Duy Tân, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội do TAND TP Hà
Nội chuyển thẩm quyền. Phía nguyên đơn cho rằng, khi giao kết hợp đồng vận
chuyển với bị đơn, hai bên thực hiện tại địa bàn TP Hà Nội, đồng thời quá trình
bị đơn thuê nguyên đơn vận chuyển hàng hóa là từ sân bay Nội Bài về kho của bị
đơn thuộc địa bàn TP Hà Nội cho nên khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán
tiền vận chuyển cho nguyên đơn, nguyên đơn khởi kiện ra TAND TP Hà Nội là
đúng thẩm quyền. Tuy nhiên, Tòa án lại xác định, vụ án tranh chấp thuộc thẩm
quyền theo lãnh thổ. Do đó, TAND TP Hà Nội chuyển vụ án lại cho TAND quận
Cầu Giấy thụ lý vụ án nêu trên với lý do bị đơn đang có trụ sở đăng ký kinh
doanh trên địa bàn quận Cầu Giấy.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
42
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
- Thực tiễn về áp dụng thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Theo quy định của BLTTDS 2015, bên cạnh việc quy định thẩm quyền
của Tòa án theo loại vụ, việc; cấp Tòa án; và theo lãnh thổ, Bộ luật này còn quy
định thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn. Theo đó “nguyên
đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động nếu thỏa mãn điều kiện do pháp luật quy
định19”.
Khi áp dụng quy định này vào thực tiễn, các Tòa án gặp khó khăn trong
việc xác định thứ tự ưu tiên, bao gồm việc ưu tiên nguyên tắc nào trước, nguyên
tắc nào sau hoặc cân nhắc lựa chọn của các bên. Điều này dẫn đến tình trạng một
số vụ án phải chuyển đi chuyển lại do quan điểm khác nhau về thẩm quyền giải
quyết của Tòa án. Tiêu biểu như vụ án dưới đây:
Bản án XX/2023/KDTM-PT ngày 27/12/2023 về tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa giữa Công ty TNHH B (Nguyên đơn) và Công ty cổ phần X
(Bị đơn). Theo quy định mà hai công ty đã ký tại điều 7.3 hợp đồng kinh tế số
01/2015/HĐ-HSC các bên thoả thuận: “Mọi tranh chấp phát sinh trong quá trình
thực hiện Hợp đồng, hai bên không tự giải quyết được bằng thương lượng sẽ
chuyển đến Toà án kinh tế tỉnh Bắc Ninh để giải quyết”. Tại phiên tòa phúc thẩm
ngày 27/12/2023, TAND TP Hà Nội đã xác định thẩm quyển xét xử vụ án như
sau: ở đây các bên lựa chọn Toà án giải quyết là TAND cấp tỉnh là không đúng
quy định tại điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (nay là điều 35 Bộ luật tố tụng
dân sự 2015) bởi đây là Quan hệ mua bán hàng hoá. Thẩm quyền giải quyết
thuộc TAND cấp huyện. Trong vụ án này, các đương sự thỏa thuận Tòa án cấp
tỉnh giải quyết nên không được chấp nhận vì không đúng thẩm quyền theo quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng
dân sự 2015, bị đơn có trụ sở tại quận T, do đó TAND quận Tây Hồ thụ lý để giải
quyết là đúng thẩm quyền.
Từ thực tế, việc chưa xác định được chính xác thẩm quyền của Tòa án dẫn
đến việc giải quyết tranh chấp mất thời gian trong việc chuyển đi chuyển lại án
như vậy.
2.2.3. Thực tiễn thực hiện về thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại tại
TAND Thành phố Hà Nội
19
Điểm g khoản 1 Điều 40 BLTTDS năm 2015
11208115 - Nguyễn Thu Trang
43
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Hiện nay, TAND TP Hà Nội đã tiếp nhận và giải quyết nhiều vụ TCTM,
bao gồm các vấn đề như cung cấp dịch vụ, tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh
chấp giữa các thành viên trong công ty,.. Quá trình giải quyết các TCTM tại
TAND TP Hà Nội được thực hiện theo các bước như sau:
Giai đoạn 1: Khởi kiện và thụ lý vụ án
Trong giai đoạn đầu của vụ án, theo quy định tại Điều 186 và 187 BLTTDS
2015, yêu cầu Tòa án cầm xem xét các điều kiển cần và đủ về khởi kiện vụ án
TCTM. Để thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì cần phải xem xét các điều
kiện chủ thể khởii kiện của vụ án về TCTM. Quy định thời hạn là 03 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện
do yêu cầu từ Chánh án phân công. Công việc tiếp theo của Tòa là phải xem xét,
đánh giá, tiến hành các công việc theo quy định của BLTTDS 2015 như sau:
- Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện: Trong trường hợp đơn khởi kiện
11208115 - Nguyễn Thu Trang
44
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu căn cứ vào quy định tại khoản 4 Điều 189
BLTTDS 2015, Tòa án sẽ gửi thông báo bằng văn bản và chỉ rõ các nội dung còn
thiếu hoặc sai sót trong đơn khỏi kiện đến người khởi kiện, và yêu cầu họ chỉnh
sửa, bổ sung trong thời gian cụ thể nhưng không quá 01 tháng, trừ trường hợp
đặc biệt. “Nếu có lý do đặc biệt, Thẩm phán có thể gia hạn, nhưng không được
vượt quá mười lăm ngày”. Dựa trên địa chỉ của đương sự tại sổ theo dõi, thông
báo về việc sửa đổi hoặc bổ sung đơn khởi kiện sẽ được gửi về thông qua đường
bưu điện hoặc gửi trực tiếp tại Tòa án và việc giao hoặc gửi này phải được theo
dõi thường xuyên để tránh thất lạc. “Thời gian thực hiện việc sửa đổi, bổ sung
đơn khởi kiện không được tính vào thời hiệu khởi kiện, ngày khởi kiện vẫn tính là
ngày nộp đơn khởi kiện hoặc ngày cỏ dấu bưu điện nơi gửi”. “Trường hợp người
khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại khoản 4 Điều
189 của Bộ luật này thì Thẩm phán tiếp tục việc thụ lý vụ án; nếu họ không sửa
đổi, bổ sung theo yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng
cứ kèm theo cho người khởi kiện."
Trong thực tế TAND TP Hà Nội thường thông báo bằng miệng cho các
đương sự và yêu cầu họ sửa đổi bổ sung ngay, điều này dẫn đến tình trạng không
có căn cứ theo dõi quá trình giải quyết đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm
theo đơn của Thẩm phán.
Trong trường hợp đơn khởi kiện thuộc thẩm quyền của một Tòa án khác vì
vi phạm thẩm quyền về vụ việc hoặc về cấp xét xử, căn cứ theo Khoản 3 Điều
191 BLTTDS 2015, đơn kiện của nguyên đơn sẽ được Tòa án chuyển đơn kiện
đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc đó theo cấp xét xử hoặc theo vụ
việc hoặc lãnh thổ trong thời gian là 05 ngày làm việc và Tòa án phải thông báo
cho người khởi kiện về sự luân chuyển này.
Ngoài ra, trong trường hợp cụ thể như khoản 1 Điều 192 và khoản 2 Điều
193 BLTTDS 2015, đơn kiện sẽ được Toad án chuyển trả lại cho người khởi kiện.
Vụ án sẽ được thụ lý bởi Thẩm phán trong trường hợp đơn khởi kiện thỏa
mãn đủ các điều kiện về mặt nội dung và hỉnh thức
Qua kiểm tra đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, xác định
được người khởi kiện đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên, Thẩm phán tiến
hành thông báo nộp tạm ứng án phí sơ thẩm cho người khởi kiện biết (trừ trường
hợp họ được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật tố tụng
dân sự hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí) theo mẫu số 04 ban hành kèm
11208115 - Nguyễn Thu Trang
45
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
theo Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP để họ làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí
trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
Giai đoạn 2: Hòa giải và chuẩn bị xét xử
- Thứ nhất, phân công Thẩm phán xử lý vụ án:
Thẩm phán đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tố tụng, đặc
biệt là trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Sau khi vụ án được thụ lý, Chánh án Tòa
án sẽ phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án. Việc phân công này không chỉ
giúp Thẩm phán tập trung hoàn toàn vào vụ án được giao mà còn tạo cơ sở để
Thẩm phán làm tốt các nhiệm vụ được phân công theo quyền hạn và trách nhiệm
của mình căn cứ theo Điều 48 BLTTDS 2015. Điều này giúp giải quyết các vụ án
TCTM một cách rõ ràng, minh bạch và đúng quy định của pháp luật tố tụng.
- Thứ hai, thông báo về việc thụ lý vụ án:
Thẩm phán cần căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện để xác định các đối
tượng cần thông báo thụ lý vụ án và gửi đến địa chỉ của họ và lưu ý các vướng mắc
có thể phát sinh trong thủ tục thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như cách thức
giải quyết. Nếu bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa liên quan đã
nhận được thông báo thụ lý trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được
thông báo hoặc 30 ngày (trong trường hợp được tòa án chấp nhận việc gia hạn) mà
không thực hiện việc nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu
của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có) thì Thẩm phán được
quyền quyết định áp dụng các biện pháp tố tụng để giải quyết vụ án.
- Thứ ba, lập hồ sơ vụ án:
TAND TP Hà Nội dựa trên yêu cầu khởi kiện của đương sự, Tòa án sẽ tiến
hành lập hồ sơ vụ án thương mại. Những tài liệu và chứng cứ cần thiết liên quan
đến yêu cầu khởi kiện sẽ được Tòa án thu thập và lưu trữ, sắp xếp khoa học để
thuận tiện cho việc xem xét tài liệu và nghiên cứu về vụ án. Đồng thời, Tòa án sẽ
lập một danh mục chi tiết bao gồm tất cả các tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ
để đảm bảo tính đầy đủ và minh bạch trong quá trình giải quyết vụ án.
- Thứ tư, tiến hành đối chất và hòa giải:
TAND TP Hà Nội căn cứ từ Điều 179 đến Điều 195; Nghị quyết số
05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hướng dẫn thi hành các quy định trong
phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS
2015 làm nền tảng để tiến hành thủ tục hòa giải.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
46
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Tại TAND TP Hà Nội cho thấy, thành phần phiên hòa giải phải có mặt
thẩm phán chủ trì phiên hòa giải, “Thư ký Tòa án ghi biên bản hòa giải và các
đương sự và người đại diện hợp pháp của đương sự 20”. Trong một vụ án có
nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt trong phiên hòa giải, nhưng các đương
sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải đó không ảnh hưởng
đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành hòa
giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án thì thỏa thuận đó chỉ có giá trị đối với người có mặt và được
Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ
của đương sự vắng mặt. Trong trường hợp thỏa thuận của họ có ảnh hưởng đến
quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thỏa thuận này chỉ có giá trị và được
thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hòa
giải đồng ý bằng văn bản.
Thứ năm, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án sẽ ra các quyết định sau
khi tiến hành đối chất và hòa giải. Các quyết định này bao gồm:
“Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”; “Quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự”; “Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ
án”; “Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án”; “Quyết định đưa vụ án ra xét xử”.
Các quyết định này nhằm đảm bảo quy trình tố tụng được thực hiện một
cách hợp pháp, toàn diện và để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên trong vụ án.
Giai đoạn 3: Xét xử phiên tòa sơ thẩm vụ án KDTM
Khi các đương sự không thể thỏa thuận hoặc không có ý kiến khác về vụ
tranh chấp, Thẩm phán phụ trách sẽ quyết định đưa vụ án để xét xử một cách
công khai tại Tòa án như quy định tại Điều 220 BLTTDS năm 2015. Sau khi
quyết định được ban hành, trong vòng 03 ngày làm việc, TAND TP Hà Nội phải
gửi quyết định qua đường bưu điện hoặc đưa trực tiếp tới đương sự và VKS cùng
cấp. Đồng thời, hồ sơ sẽ được chuyển cho VKS trong vòng không quá 15 ngày
kể từ khi nhận hồ sơ, VKS sẽ tiến hành xem xét hồ sơ và trả lại Tòa án khi hoàn
thành.
Vụ án được đưa ra xét xử công khai sau 01 tháng kể từ ngày có quyết
định.
20
Điều 209 BLTTDS 2015
11208115 - Nguyễn Thu Trang
47
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
TAND TP Hà Nội sẽ tổ chức phiên tòa theo căn cứ theo thời gian, địa
điểm đã ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, hoặc trong trường hợp phiên
tòa bị hoãn, theo nội dung giấy báo mở phiên tòa. Trước khi phiên tòa diễn ra, sẽ
có mặt bởi Thư lý và kiểm tra sự có mặt của đương sự, bao gồm nguyên đơn, bị
đơn và người có nghĩa vụ liên quan để Hội đồng xét xử xác nhận trước khi phiên
tòa bắt đầu.
Tại phiên tòa xét xử lần thứ nhất, yêu cầu theo quy định tại Điều 227
BLTTDS 2015 là Tòa án phải triệu tập đủ nguyên đơn, bị đơn, người có nghĩa vụ
và quyền lợi liên quan. Trong trường hợp các bên vắng mặt trừ khi có đơn xin xét
xử vắng mặt thì Hội đồng xét xử có thể sẽ quyết định hoãn phiên tòa.
Tòa án có thể ra quyết định hoãn phiên tòa trong những trường hợp cụ thể
theo các điều khoản của Bộ luật này, bao gồm Điều 56, Điều 62, Điều 84, Điều
227, Điều 229, Điều 230, Điều 231 và Điều 241 BLTTDS 2015. Vụ án được
phép hoãn phiên tòa nhưng không quá 30 ngày và trong trường hợp được áp
dụng thủ tục rút gọn thì không quá 15 ngày.
Tòa án phải thông báo lại cho VKS và các đương sự về trường hợp không
thể mở lại phiên tòa theo đúng thông báo.
Tòa án sẽ đưa ra quyết định từ bỏ yêu cầu khởi kiện trong trường hợp Tòa
án đã có triệu tập nhưng nguyên đơn từ chối không tham gia lần thứ 2 và đối với
trường hợp bị đơn không yêu cầu phản tố và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan không có thêm các yêu cầu độc lập khác thì Tòa án vẫn có thể xét xử vắng
mặt. Trường hợp ngoại lệ căn cứ theo điều 228 BLTTDS 2015 thì Tòa án vẫn có
thể tiếp tục xét xử vắng mặt và vẫn thực hiện các thủ tục như thông thường thiêu
Điều 238 BLTTDS 2015.
Các bên có quyền thỏa thuận về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa và Tòa
án có thể chấp nhận sự thỏa thuận này nếu các thỏa thuận không vi phạm các
điều cấm trong luật.
Do đó, các thủ tục tố tụng sẽ kéo dài hơn đối với quyết định công nhận
thỏa thuận giữa các đương sự hoặc quyết định đình chỉ vụ án trước khi có quyết
định đưa vụ án ra xét xử.
Tòa án sẽ phải thực hiện các thủ tục tố tụng dài hơn nếu có quyết định
công nhận thỏa thuận giữa các bên hoặc quyết định đình chỉ vụ án trước khi có
quyết đưa đưa ra xét xử.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
48
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Đặc biệt, trong quyết định công nhận thỏa thuận giữa các bên tại phiên
tòa, cá bên có quyền thực hiện kháng cáo trong khi VKS có quyền kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm. Các bên nếu không có thỏa thuận gì khác trong
phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án sẽ dựa trên các tài liệu, dẫn chứng mà các bên
ung cấp và các tài liệu khác do Tòa án thu thập được trong quá trình xác minh.
Qúa trình xét xử sẽ có các phần liên quan đến phản hồi, tranh biện và hỏi đáp để
đưa ra nhận định khách quan nhất phù hợp với quy định hiện hành. Tòa án sẽ dựa
trên biểu quyết của Hội đồng xét xử trong phần nghị án, bao gồm cả nội dung
bản án theo Điều 266. Hiệu lực của bản án sẽ có ngay khi được tuyên án và cấp
trích lục, được giao và gửi đầy đủ theo quy định tại Điều 269.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
49
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
3.1. Đánh giá tình hình giải quyết tranh chấp thương mại tại TAND Thành
phố Hà Nội
3.1.1. Ưu điểm
Trong công tác giải quyết các vụ án TCTM, TAND TP Hà Nội đã làm tốt
và tuân thủ nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự, đồng thời
thực hiện đầy đủ trách nhiệm phổ biến pháp luật và tạo cơ hội để các bên trong
vụ án có thể tham gia hòa giải và thỏa thuận một cách hợp lý. Tòa án cũng đã nỗ
lực trong việc nâng cao sự đoàn kết nội bộ nhân dân thông qua việc hòa giải và
khuyến khích các đương sự tự thỏa thuận giải quyết tranh chấp, nhằm hạn chế tối
đa sự phức tạp của các vụ án. Các phán quyết của Tòa án được đưa ra đều có tính
hợp lý, công bằng, và giúp giải quyết dứt điểm tranh chấp, bảo vệ quyền lợi
chính đáng của các đương sự.
Trong giai đoạn 5 năm (2020- 2024), Ban cán sự Đảng và lãnh đạo TAND
TP Hà Nội đã triển khai nhiều giải pháp nhằm lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện
các nhiệm vụ trọng tâm của Tòa án qua từng năm. Những giải pháp này không
chỉ giúp nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án mà còn đảm bảo tiến độ và bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự.
Trong những năm gần đây, số vụ án TCTM trên địa bàn TP Hà Nội ngày
càng gia tăng. Tính chất của các vụ án này cũng ngày càng phức tạp hơn, đòi hỏi
công tác giải quyết của Tòa án phải ngày càng cẩn trọng, hiệu quả và kịp thời để
đảm bảo công lý được thực thi.
Bảng 3.1. Số vụ án KDTM được thụ lý tại TAND TP Hà Nội trong
giai đoạn 2020-2024
(Đơn vị: vụ án)
Năm
2020
2021
2022
2023
2024
Tổng thụ lý
501
536
546
545
586
(Nguồn: Báo cáo tổng kết của TAND TP Hà Nội)
11208115 - Nguyễn Thu Trang
50
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Năm 2024, Tòa kinh tế - TAND TP Hà Nội đã thụ lý 586 vụ, việc kinh
doanh thương mại, đã giải quyết được 362 vụ (hòa giải thành 16 vụ, có 08 phiên
tòa rút kinh nghiệm), đạt tỷ lệ 63%; Trong đó, thụ lý 7 vụ án phá sản, giải quyết
được 04 vụ án phá sản (Tỷ lệ giải quyết án TCTM không tính số lượng phá sản
còn tồn là 67%). Trong năm công tác tòa Kinh tế đã giải quyết nhiều vụ án phức
tạp, nhiều đương sự ở nước ngoài, ở các tỉnh thành khác nhau và ở trong vùng có
dịch, các vụ án được báo chí, dư luận rất quan tâm, các tranh chấp mới và phức
tạp (tranh chấp thành viên công ty, tranh chấp sở hữu trí tuệ....). Tuy nhiên với
những khó khăn nêu trên Tòa Kinh tế vẫn làm tố các công tác xét xử, đảm bảo
chất lượng số lượng và đúng quy định của pháp luật. Tiếp nhận và xử lý 221 đơn
khởi kiện, đã thụ lý 56 đơn khởi kiện, trả lại 44 đơn và hướng dẫn người khởi
kiện khi có đủ điều kiện khởi kiện sẽ thụ lý giải quyết sau và do đương sự rút
đơn, chuyển theo thẩm quyền 51 đơn, hòa giải đối thoại thành 09 đơn. Còn lại 61
đơn đang giải quyết. Giải quyết 23/37 đơn khiếu nại, tố cáo theo BLTTDS.
3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân
3.1.2.1. Hạn chế
Bên cạnh các kết quả đạt được nêu trên, TAND TP Hà Nội vẫn còn án để
quá hạn luật định, có 09 vụ án bị huỷ. Vẫn còn một số bản án, quyết định tuyên
không rõ ràng, phải giải thích, đính chính. Đơn vị vẫn có đơn thư khiếu nại về vi
phạm tố tụng của Thẩm phán trong khi tiến hành tố tụng. Qua tìm hiểu thực tế,
việc giải quyết TCTM còn những hạn chế sau:
Thứ nhất, quy định về hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ các đương sự
Hoãn phiên tòa là việc chuyển phiên tòa từ thời điểm đã định sang thời
điểm khác muộn hơn. Do tính chất quan trọng về địa vị tố tụng của đương sự mà
pháp luật tố tụng dân sự phải quy định cụ thể về các trường hợp đương sự vắng
mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, pháp luật chỉ quy định chung chung là triệu tập
đương sự hợp lệ lần thứ nhất, lần thứ hai. Việc triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, lần
thứ hai không nên hiểu đơn thuần theo thứ tự số học, mà luôn phải gắn với hai
điều kiện: (i) Triệu tập hợp lệ; (ii) Đương sự vắng mặt. Do đó, sự vắng mặt lần
thứ nhất của đương sự được hiểu là khi đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất
nhưng đương sự vắng mặt; vắng mặt lần thứ hai được hiểu là khi triệu tập hợp lệ
lần thứ hai nhưng đương sự vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan. Ngoài ra, BLTTDS 2015 cũng chưa quy định rõ là khi triệu tập hợp
lệ đến lần thứ ba, thứ tư… và đương sự có viện dẫn sự kiện bất khả kháng hoặc
11208115 - Nguyễn Thu Trang
51
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
trở ngại khách quan thì Tòa án giải quyết như thế nào? Nếu hoãn phiên tòa thì
được hoãn bao nhiêu lần khi đương sự viện dẫn sự kiện bất khả kháng, không ủy
quyền cho người đại diện tham gia phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt và các đương sự không rút đơn khởi kiện/đơn phản tố/đơn yêu cầu độc lập?
Ngoài ra, cần hiểu là về nguyên tắc Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần hay tính hai
lần cho từng đương sự khác nhau? Bởi nếu tính hai lần cho từng đương sự thì
trường hợp vụ án có nhiều đương sự, Tòa án có thể phải hoãn phiên tòa nhiều lần
do các đương sự vắng mặt có lý do chính đáng, không có người đại diện, dẫn đến
thời gian xét xử kéo dài. Tuy nhiên, nếu quy định chỉ triệu tập hai lần thì không
bình đẳng cho các đương sự về quyền tham gia tố tụng.
Thứ hai, khó khăn về việc xác định Tòa án của thẩm quyền giải quyết
tranh chấp thương mại
Khó khăn khi áp dụng quy định này vào thực tiễn là việc các đương sự
chưa có kiến thức về thứ tự ưu tiên trong thẩm quyền giải quyết, dẫn đến nhiều
vụ án phải luân chuyển do có quan điểm khác nhau về việc vụ việc chưa xác định
thuộc thẩm quyền của Tòa án nào. Trong trường hợp các bên ký kết hợp đồng
kinh tế và thỏa thuận về việc nếu có tranh chấp thì sẽ yêu cầu một Tòa án cụ thể
giải quyết, nhưng khi tranh chấp phát sinh, thỏa thuận về thẩm quyền này có thể
bị vô hiệu. Ví dụ, trong trường hợp hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên có thể
thỏa thuận Tòa án cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết tranh
chấp, tuy nhiên, thực tế, tranh chấp này lại thuộc thẩm quyền giải quyết của
TAND cấp huyện.
Thứ ba, vướng mắc trong việc áp dụng Luật Thương mại 2005
Theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005 về quyền yêu cầu tiền
lãi do chậm thanh toán:“Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền
hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi
phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi
suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng
với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy
định khác”.Tuy nhiên quy định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường thì
không có hướng dẫn cụ thể là áp dụng theo lãi suất nợ quá hạn của ngân hàng
nào? Khi xảy ra tranh chấp về vấn đề này, Tòa án chưa có căn cứ nào để xác định
mức lãi suất cho phù hợp.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
52
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Ví dụ: Trong vụ án kinh doanh, thương mại số 132/2024/TLST-KDTM
ngày 22/1/2024 giữa Công ty TNHH thương mại tổng hợp Ngọc Linh và Công ty
TNHH vận tải Nam Mỹ về nghĩa vụ thanh toán tiền hàng 719.278.840 đồng cùng
với tiền lãi nợ quá hạn. Trong hợp đồng mua bán xăng dầu phục vụ kinh doanh
vận tải số 01/2023/ HĐMB được kí kết giữa hai bên chỉ thỏa thuận các vấn đề cơ
bản như loại xăng, dầu, số tiền thanh toán, phương thức thanh toán, thời hạn
thanh toán.. Còn vấn đề về lãi suất trong trường hợp chậm thanh toán thì không
có thỏa thuận cụ thể. Do đó, khi các bên phát sinh tranh chấp về nghĩa vụ thanh
toán và khởi kiện ra Tòa án, TAND TP Hà Nội đã giải quyết số tiền lãi do chậm
thanh toán được tính theo lãi suất nợ quá hạn của Ngân hàng TMCP đầu tư và
phát triển Việt Nam là 10,5%/năm bởi tại thời điểm giao kết hợp đồng cũng như
hiện tại, Công ty Ngọc Linh đang vay của Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển
Việt Nam chi nhánh Bắc Từ Liêm.
Như vậy, với việc không có hướng dẫn cụ thể về lãi suất nợ quá hạn trung
bình trên thị trường khiến cho việc giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh
doanh, thương mại của Tòa án chưa thực sự chính xác.
Cũng về vẫn đề lãi xuất này, các quy định pháp luật về lãi suất, phạt vi
phạm trong hợp đồng tín dụng còn chưa phù hợp. Điều đó dẫn đến tình trạng
trong thực tiễn xét xử, cùng loại tranh chấp hợp đồng tín dụng, trong đó các bên
thỏa thuận về lãi suất (bao gồm lãi suất trong hạn và lãi suất nợ quá hạn), thỏa
thuận phạt vi phạm nhưng có Tòa án xử chấp nhận tính lãi suất nợ quá hạn và
phạt vi phạm, có Tòa án xử chỉ chấp nhận tính lãi suất nợ quá hạn mà không chấp
nhận phạt vi phạm vì cho rằng tính lãi suất quá hạn đồng thời phạt vi phạm là "lãi
chồng lãi", "phạt chồng phạt". Có thể nêu ra một ví dụ cụ thể sau đây.
Theo nội dung đơn khởi kiện lập ngày 2/11/2023 và bản tự khai ngày
11/1/2024, đại diện Ngân hàng H trình bày như sau: Căn cứ vào hợp đồng tín
dụng ký kết ngày 21/7/2022, Công ty ĐA đã vay của Ngân hàng H số tiền
600.000.000 đồng, với lãi suất 22,7%/năm, thời hạn vay là 36 tháng và lãi suất
được điều chỉnh mỗi ba tháng. Theo thỏa thuận, Công ty ĐA có nghĩa vụ thanh
toán lãi vào ngày 25 hàng tháng, và lãi suất quá hạn sẽ được áp dụng ở mức
150% so với lãi suất trong hạn. Để bảo đảm nghĩa vụ vay, ông Đ. đã ký cam kết
bảo lãnh, theo đó cam kết dùng toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để
đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho Công ty ĐA nếu cần thiết.
Đến ngày 25/2/2023, Công ty ĐA đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, dẫn
đến toàn bộ khoản vay chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 26/2/2023. Do vi
11208115 - Nguyễn Thu Trang
53
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
phạm nghĩa vụ thanh toán này, Ngân hàng H yêu cầu Tòa án buộc Công ty ĐA
thanh toán số tiền đến thời điểm ngày 24/5/2024 là 650.997.003 đồng, bao gồm:
nợ gốc 476.646.000 đồng, nợ lãi 178.255.000 đồng và khoản phạt chậm trả lãi
14.076.703 đồng (tính trên số tiền lãi quá hạn). Trong trường hợp Công ty ĐA
không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng H đề nghị Tòa án buộc ông Đ. thực
hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo cam kết đã ký.
“Đối với vụ án này, hiện có ba quan điểm khác nhau về lãi phạt vi phạm
hợp đồng:
Quan điểm thứ nhất: Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng H đối với
phần lãi phạt chậm trả, vì cho rằng khi bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã phải
chịu mức lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn trên nợ gốc. Do đó không buộc
phải chịu thêm mức phạt trên lãi quá hạn.
Quan điểm thứ hai: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng H đối với các yêu
câu về gốc, lãi trong hạn, quá hạn và lãi phạt chậm trả. Bởi vì, theo quy định của
BLDS (2015), Thông tư số 39/2016 thì hợp đồng giữa các bên đều có quy định
về việc phạt vi phạm. Tại điểm b, khoản 2, Nghị quyết số 01/2019 cũng quy định
trường hợp bên vay không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận (lãi
trong hạn và lãi quá hạn) thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín
dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà
pháp luật quy định (mức phạt không quá 10% theo Điều 13, Thông tư số
39/2019). Do đó, bên vay phải chịu lãi trong hạn, quá hạn và lãi phạt.
Quan điểm thứ ba: đây cũng là quan điểm của em là cần chấp nhận phần
lãi phạt chậm trả tính trên số tiền lãi, trên nợ gốc trong hạn chứ không phải tính
trên nợ lãi quá hạn như cách tính của Ngân hàng H đã yêu cầu. Vì theo điểm b,
khoản 2, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019 thì khi khách hàng không trả đúng hạn
tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng thì phải trả lãi chậm trả
theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận, nhưng không
vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian
chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn. Em cho rằng cần chấp nhận lãi phạt chậm trả
nhưng được tính trên nợ lãi trong hạn chưa trả tương ứng với thời gian chậm trả
tiền lãi trên nợ gốc. Điều này cũng phù hợp với quy định của pháp luật về phạt vi
phạm cũng như sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng nhằm nâng cao trách
nhiệm của bên vay đổi với nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi.”
11208115 - Nguyễn Thu Trang
54
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Thứ tư, về vấn đề trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ
quan, chức có thẩm quyền.
Theo quy định tại Điều 106 của BLTTDS 2015, thì “Cơ quan, tổ chức, cá
nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài
liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận
được yêu cầu; hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo
yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng
văn bản và nêu rõ lý do. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của
Tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có
thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
pháp luật. Việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn
nghĩa vụ cùng cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án”.
Quy định này còn khá chung chung, chưa phù hợp với thực tiễn, dẫn đến
khó khăn khi áp dụng. Trên thực tế, các đương sự tự thu thập chứng cứ thường
gặp nhiều khó khăn, do thiếu sự hợp tác từ các cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân
đang giữ chứng cứ. Nhiều trường hợp, các đơn vị này không tuân thủ thời hạn
hoặc từ chối cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án và VKS, ảnh hưởng đến
tiến độ và chất lượng giải quyết vụ án. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn thiếu
các quy định và chế tài cụ thể để xử lý các vi phạm và bảo đảm thực thi những
quy định này.
Thứ năm, về phạm vi xét xử phúc thẩm
Theo Điều 293 BLTTDS 2015, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ có thẩm quyền
xem xét phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc các
nội dung liên quan trực tiếp đến kháng cáo, kháng nghị. Những phần không có
kháng cáo, kháng nghị hoặc không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị thì Hội
đồng xét xử phúc thẩm không được phép xem xét hoặc quyết định. Trong thực
tiễn, dù Tòa án cấp phúc thẩm phát hiện những vi phạm nghiêm trọng trong bản
án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, họ vẫn không có quyền hủy mà phải
gửi kiến nghị giám đốc thẩm. Điều này kéo dài thời gian giải quyết vụ án, không
kịp thời sửa sai, và ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên đương sự cũng như Nhà
nước. Em cho rằng cần sửa đổi quy định pháp luật, trao quyền cho Tòa án cấp
phúc thẩm để họ có thể xem xét cả những phần không có kháng cáo, kháng nghị
nếu phần đó có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
55
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Thứ sáu, hạn chế trong việc thu thập chứng cứ, đánh giá tính pháp lý của
các hợp đồng, và xác định trách nhiệm của các bên tham gia.
Trách nhiệm chính thuộc về Thẩm phán khi trong quá trình nghiên cứu hồ
sơ, Thẩm phán chưa đánh giá chính xác và đầy đủ về những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự. Đồng thời, với khối lượng án lớn, Thẩm
phán khó có thể xem xét hết mọi tình tiết của vụ án.
Trường hợp ví dụ:
Từ thực tiễn bản án trên về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa
Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Kỹ thuật Y khoa VL (nguyên đơn) và Công
ty TNHH Thương mại và Dịch vụ TBYT (bị đơn), về cấp xét xử, ngày
05/7/2012, TAND huyện TL (nay là quận NTL) xét xử sơ thẩm lần 1. Hội đồng
xét xử đã ra bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2012/KDTM-ST ngày
05/7/2012. Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị đơn là Công ty TNHH Thương
mại và dịch vụ TBYT kháng cáo. Ngày 28/12/2012, TAND TP Hà Nội đã xét xử
theo trình tự phúc thẩm và ra bản án số 32/2012/KDTM-PT. Tại Quyết định giám
đốc thẩm số 05/2016/KDTM-GĐT ngày 21/4/2016 của TAND cấp cao tại Hà
Nội đã quyết định: Hủy toàn bộ bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số
32/2012/KDTM-PT ngày 28/12/2012 của TAND TP Hà Nội và Bản án kinh
doanh thương mại sơ thẩm số 05/2012/KDTM-ST ngày 05/7/2012 của TAND
huyện TL (nay là quận NTL). Giao hồ sơ vụ án cho TAND quận NTL xét xử sơ
thẩm lại theo quy định của pháp luật. Xem xét lỗi trong vụ án này thấy: Vụ án
này Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lần 1 vào tháng 06/2011 đến tháng 4/2014 thì có
việc chia tách địa giới hành chính từ Ủy ban nhân dân huyện TL thành 02 đơn vị
là quận Bắc TL và quận NTL. Lần xét xử sơ thẩm lần 2 (do bản án sơ thẩm lần 1
bị hủy) là tháng 9/2020 là gần 10 năm nên Tòa án sơ thẩm có sơ xuất là không rà
soát kỹ. Thực trạng vụ án trên phản ánh những thách thức trong xem xét các
chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ và việc lưu trữ hồ sơ tại TAND còn nhiều hạn chế.
Bản án số: 18/2024/KDTM-PT21 Ngày: 24/5/2024 về tranh chấp giữa các
thành viên trong công ty, TAND TP Hà Nội thụ lý xét xử sơ thẩm do nguyên đơn
là Ông Zhu Zhi L là người nước ngoài nên thuộc thẩm quyền xét xử của TAND
cấp tỉnh và bị đơn là công ty cổ phần Đ. Ngày 22/4/2023, Công ty cổ phần Đ đã
tổ chức cuộc họp Đại hội đồng cổ đông bất thường để bãi miễn tư cách thành
Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội (2024), Bản án số: 18/2024/KDTM – PT ngày 24/05/2024 v/v: Tranh
chấp giữa các thành viên trong công ty
21
11208115 - Nguyễn Thu Trang
56
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
viên Hội đồng quản trị của ông Zhu Zhi L, ông Cheung Yip S, ông Youn Kwon
S1và bãi miễn tư cách thành viên Ban Kiểm soát của ông Cao Zhi X1, bà Cao Lệ
T3. Ông Z1 Zhi Lin yêu cầu Tòa án giải quyết 03 yêu cầu: Hủy bỏ Nghị quyết
ĐHĐCĐ bất thường của Công ty Đ ngày 22/4/2023; Hủy bỏ Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp của Công ty Đ đã thay đổi lần thứ 19 ngày 12/5/2023 do
Phòng Đăng ký và Kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp; Hủy
bỏ con dấu pháp nhân thứ hai mới được khắc thêm theo Nghị quyết số
2604/2023/NQ-HĐQT ngày 12/5/2023. Tuy nhiên, TAND TP Hà Nội lại đưa ra
bản án sơ thẩm với quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Zhu
Zhi L trong khi cuộc họp ĐHĐCĐ này đã vi phạm nghiêm trọng về thủ tục triệu
tập và trình tự cuộc họp theo Luật Doanh nghiệp và Điều lệ Công ty Đ. Do vậy,
tòa án cấp cao thành phố Hà Nội đã chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên
đơn là ông Zhu Zhi L; sửa một phần Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số
44/2023/KDTM-ST ngày 23 tháng 11 năm 2023 của TAND thành phố Hà Nội.
Thựa trạng này cho thấy sơ suất trong việc áp dụng Luật Doanh nghiệp:
Luật Doanh nghiệp quy định rõ ràng về trình tự và thủ tục triệu tập Đại hội đồng
cổ đông và quyền lợi của các thành viên Hội đồng quản trị. Việc TAND TP Hà
Nội bỏ qua những quy định này có thể dẫn đến kết luận chưa chính xác về tính
hợp pháp của các quyết định của Công ty cổ phần Đ. Điều này không chỉ ảnh
hưởng đến quyền lợi của ông Zhu Zhi L mà còn đến tính minh bạch trong quản lý
doanh nghiệp. Phán quyết sơ thẩm không xem xét kỹ lưỡng các vi phạm rõ ràng
trong quy trình quản trị doanh nghiệp có thể làm giảm niềm tin của nhà đầu tư
vào khả năng bảo vệ quyền lợi hợp pháp tại Việt Nam.
Ngoài ra, về vấn đề xác định sai các văn bản có hiệu lực để áp dụng tại
TAND TP Hà Nội:
Bản án số: 14/2024/ KDTM-PT22 ngày 22/04/2024 tại TAND cấp cao Hà
Nội về tranh chấp tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần AS1(Nguyên
đơn) và Công ty Cổ phần Đ( Bị đơn). Ngân hàng Á1 và Công ty Đ ký Hợp đồng
hạn mức cấp tín dụng số CHA.DN.01180311 ngày 18/3/2011 với nội dung: Ngân
hàng Á1 cấp cho Đ tổng hạn mức tín dụng là 1.200.000.000 đồng. Tài sản đảm
bảo cho khoản vay là quyền sử dụng đất và các tài sản cố định khác trên thửa đất
tại địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội, được Ủy ban nhân dân
huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L362307 ngày 19/3/2004
Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội (2024), Bản án số: 14/2024/KDTM – PT ngày 22/04/2024 v/v: Tranh
chấp hợp đồng tín dụng
22
11208115 - Nguyễn Thu Trang
57
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
cho hộ bà Dương Thị T1 và sau đó được chuyển nhượng từ bà Dương Thị T1
sang bà Nguyễn Thị Ngọc L1 ngày 22/01/2010. Sau khi ký kết hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất một ngày (tức ngày 15/01/2010) bà L1 có lập 01 Giấy
giao kèo giữa bên A và B với nội dung: Bên A (gia đình ông H) cho bà L1 (Bên
B) thuê số quyền sử dụng đất trong thời hạn 03 năm (từ 14/01/2010 đến
14/01/2013). Bà L1 không được bán hoặc tặng cho người thứ ba, không được
cầm cố ở bất kỳ tổ chức nào. Giấy giao kèo có chữ ký tên bà L1 có đóng dấu của
Công ty Đ cùng 03 người làm chứng. Ông, bà không biết thời điểm bà L1 được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất mà ông, bà đã ký
chuyển nhượng cho bà L1 nhưng đầu năm 2014 khi được Ngân hàng thông báo
về việc bà L1 thế chấp tài sản là nhà đất của ông, bà thì ông, bà đã biết bà L1
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại nhà đất ông, bà đang sinh sống.
Ông, bà khẳng định từ trước cho đến nay gia đình ông, bà vẫn là người quản lý
sử dụng toàn bộ diện tích nhà đất này. Nay Ngân hàng yêu cầu được xử lý tài sản
bảo đảm là quyền sử dụng đất trên để thu hồi nợ gia đình ông, bà không đồng ý.
Ông H, bà T1 có yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang tên bà Nguyễn Thị Ngọc L1; Hủy hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L1 với hộ gia đình ông H, bà T1 và H3 hợp
đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba giữa bà L1 với Ngân hàng Ál
được lập tại Phòng C2 Hà Nội. Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số
32/2022/KDTM-ST ngày 15/9/2022, TAND thành phố Hà Nội quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông H và bà T1. Tuy nhiên, ngày
19/9/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Trần
Xuân H và bà Dương Thị T1 có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm, đề nghị Hội
đồng xét xử cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu độc lập của
vợ chồng ông H, bà T1. Theo tòa phúc thẩm, TAND TP Hà Nội mắc phải những
thiếu xót sau:
-
Thửa đất số 55 được Ủy ban nhân dân huyện S, thành phố Hà mang tên
hộ bà Dương Thị T1. Tuy nhiên, tại thời điểm cấp đất nêu trên chủ sở hữu
là bà Dương Thị T1 và những ai thì Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập tài
liệu chứng cứ để làm rõ những ai có quyền định đoạt quyền sử dụng đối
với thửa đất số 55 nêu trên.
-
Căn cứ Bản hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 13/01/2010, Giấy
giao kèo giữa Bên A và Bên B ngày 15/01/2010 và các biên bản lấy lời
khai, biên bản đối chất, bà L1, ông H, bà T1 cho thấy hai bên chỉ cho thuê
11208115 - Nguyễn Thu Trang
58
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhằm mục đích cho bà L1 thế chấp
vay tiền Ngân hàng mà không có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
trên thực tế, không có việc giao tiền và bàn giao nhà đất giữa hai bên. Việc
các bên ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/01/2010
để che dấu hợp đồng thuê giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm
cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/01/2010
nêu trên ký kết tự nguyện, đúng quy định pháp luật, không có căn cứ hủy
bỏ là không đúng Điều 692, Điều 700, Điều 701 và Điều 129 Bộ luật Dân
sự 2005.
-
Việc Ngân hàng xét duyệt cho vay tiền đã không thẩm định tài sản thế
chấp, không xác minh nên không biết vợ chồng ông H, bà T1 vẫn quản lý,
sử dụng nhà đất là không đúng quy định theo khoản 1 Điều 15 Quy chế
1627 ngày 31/12/2001 của Ngân hàng N. Do khi xác lập hợp đồng Ngân
hàng đã không thẩm định tài sản thế chấp nên lỗi làm cho hợp đồng thế
chấp vô hiệu thuộc về Ngân hàng, nên xác định Ngân hàng không được
coi là người thứ ba ngay tình; Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Công văn số
64/PC-TANDTC ngày 03/4/2019 của TAND tối cao để nhận định Ngân
hàng ngay tình khi tham gia giao dịch là không đúng mà trong trường hợp
này Ngân hàng không thẩm định, không xác minh nên không biết vợ
chồng bà T1, ông H và gia đình vẫn quản lý, sử dụng nhà đất nên bên
nhận thế chấp tài sản (Ngân hàng) không phải là người thứ ba ngay tình
theo quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 và mục 1
Phần II của Công văn số 64/TANDTC-PC; hơn nữa các giao dịch này đều
diễn ra từ năm 2010 - 2011 trước ngày Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực
nên cần áp dụng hướng dẫn tại Công văn 02/TANDTC-PC ngày
08/12/2021 của TAND tối cao mới đúng.
Từ các sai sót này, có thể thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã thiếu thận trọng
trong việc đánh giá tính hợp pháp của giao dịch, thu thập chứng cứ không đầy đủ
và không tuân thủ đúng quy định pháp luật về quyền lợi của các bên liên quan
trong giao dịch tài sản. Những sai sót này cần được khắc phục để bảo đảm công
lý và tính công bằng trong quá trình xét xử.
Bên cạnh đó, thực tế xét xử cho thấy TAND TP Hà Nội chưa cân nhắc tính
hợp pháp và ý chí của các bên trong của các quyết định do bị đơn ban hành, điển
hình như bản án dưới đây:
11208115 - Nguyễn Thu Trang
59
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Bản án số: 07/2023/KDTM-PT23 Ngày 21 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp
quyền sở hữu trí tuệ giữa Trung tâm B1( Nguyên đơn) – Công ty cổ phần T( Bị
đơn). Ngày 17/01/2019, Công ty Cổ phần đã tổ chức chương trình biểu diễn nghệ
thuật Đêm Việt Nam 7 tựa đề “Chuyện của Mùa Đ”. Trong chương trình này,
Công ty T đã sử dụng 21 tác phẩm âm nhạc của các chủ sở hữu quyền tác giả đã
ủy quyền cho Trung tâm quản lý, khai thác và bảo vệ quyền tác giả để biểu diễn
nhưng không thực hiện nghĩa vụ xin phép, trả tiền nhuận bút, thù lao cho các chủ
sở hữu quyền tác giả theo quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ. Đây là hành
vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định tại Khoản 8 Điều 28 Luật Sở hữu trí
tuệ. Tổng số tiền nhuận bút sử dụng quyền tác giả đối với 20 tác phẩm âm nhạc
thuộc phạm vi quản lý của Nguyên đơn cho chương trình Đêm Việt Nam 7 tựa đề
“Chuyện của mùa đông” tại Trung tâm hội nghị quốc gia ngày 17/01/2019 là
10.288.490 đồng x 20 = 205.769.804 đồng. Căn cứ để Nguyên đơn tính biểu mức
nhuận bút của Trung tâm là khoản 1, khoản 4 Điều 43 Nghị định số 22/2018/NĐCP theo đó biểu mức nhuận bút sử dụng tác phẩm âm nhạc của Nguyên đơn áp
dụng đối với chương trình ca nhạc/live show không thường xuyên có bán vé tổ
chức trong nhà hát theo công thức: 5% x 70% số lượng ghế x bình quân giá vé.
Trong đó: Số ghế sẽ được tính là 70% sức chứa của nơi biểu diễn (Theo Biểu
mức tiền nhuận bút sử dụng quyền tác giả âm nhạc ban hành kèm theo Quyết
định số 14/QĐ-TTBVQTGANVN ngày 19/6/2018 của Trung tâm B1). Tại Bản
án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 28/2022/KDTM-ST ngày 23 tháng 8 năm
2022, TAND thành phố Hà Nội quyết định: Buộc Công ty Cổ phần T bồi thường
thiệt hại cho các chủ sở hữu quyền tác giả là thành viên do Trung tâm bảo vệ
quyền tác giả âm nhạc Việt Nam đại diện tổng số tiền 210.819.804 đồng. Tuy
nhiên, bị đơn kháng cáo bản án này đến TAND cấp cao Hà Nội. Tòa án phúc
thẩm nhận định như sau: “Tài liệu trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng công
khai tại phiên tòa đã thể hiện, mặc dù Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc
Việt Nam ban hành Quyết định số 14/QĐ-TTBVQTGANVN trên cơ sơ Luật Sở
hữu trí tuệ và Nghị định số 22/2018/NĐ-CP của Chính phủ; tuy nhiên, việc ban
hành Quyết định số 14/QĐ-TTBVQTGANVN mang tính chất một chiều chưa có
sự thỏa thuận “về mức tiền nhuận bút, thù lao” đối với tổ chức khai thác, sử
dụng tác phẩm nghệ thuật; đồng thời, hơn nữa cũng chưa thể hiện ý kiến của Hội
N2 là đơn vị quản lý trực tiếp Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định Quyết định số 14/QĐTòa án nhân dân cấp cao Hà Nội (2024), Bản án số: 07/2024/KDTM – PT ngày 21/03/2024 v/v: Tranh
chấp quyền sở hữu trí tuệ
23
11208115 - Nguyễn Thu Trang
60
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
TTBVQTGANVN ban hành kèm theo Biểu mức tiền nhuận bút sử dụng quyền tác
giả âm nhạc của Trung tâm B1 chỉ là cơ sở để tham khảo và là ý chí của một bên,
chưa đủ cơ sở để thực hiện.”
Trong trường hợp bản án trên, biểu mức nhuận bút này là một văn bản
nội bộ do Trung tâm B1 đơn phương ban hành, mang tính chất một chiều và chưa
có sự đồng thuận hoặc thỏa thuận chính thức với bên khai thác (Công ty T). Điều
này có thể làm cho quyết định của tòa sơ thẩm thiếu căn cứ pháp lý vững chắc.
Thứ bảy, bổ sung thêm đối với quy định về thẩm quyền giải quyết tranh
chấp thương mại của Tòa án theo nơi cư trú, làm việc nếu bị đơn là cá
nhân,hoặc nơi có trụ sở nếu bị đơn là pháp nhân
Quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS năm 2015: “Tòa án nơi
bị đơn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết theo TTST những tranh chấp về
kinh doanh, thương mại” đã bộc lộ một số hạn chế nhất định, cụ thể:
-
Một là, trường hợp bị đơn có nơi cư trú và làm việc không cùng một
nơi thì giải quyết như thế nào? Các quan hệ pháp luật trong đời sống xã
hội diễn ra rất phức tạp, trên thực tế có rất nhiều trường hợp đương sự có
nơi cư trú ở một nơi nhưng nơi làm việc lại được xác định tại một địa
điểm khác. Hiện nay vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào
hướng dẫn cụ thể trường hợp nào thì nguyên đơn khởi kiện đến Tòa án nơi
bị đơn là cá nhân có đăng kí kinh doanh cư trú, trường hợp nào thì khởi
kiện đến nơi làm việc của bị đơn là cá nhân có đăng kí kinh doanh. Điều
này dẫn tới tình trạng là các Tòa án áp dụng không thống nhất pháp luật
hoặc nảy sinh xung đột về vấn đề thẩm quyên khi mà đương sự có nơi cư
trú và làm việc tại hai địa chỉ khác nhau
-
Thứ hai, bổ sung hướng dẫn cụ thể về nguyên tắc xác định nơi cư trú của
bị đơn. Theo quy định, nơi cư trú có thể là nơi thường trú hoặc tạm trú;
nếu không xác định được hai nơi này thì sẽ lấy nơi mà người đó thường
xuyên sinh sống. Vì vậy, nếu không rõ nơi cư trú của bị đơn, Tòa án sẽ
căn cứ vào nơi người đó sinh sống thường xuyên nhất. Tuy nhiên, nếu bị
đơn có cả nơi thường trú và nơi tạm trú, hiện pháp luật vẫn chưa có quy
định chi tiết để ưu tiên xác định thẩm quyền cho Tòa án nào. Trong thực
tiễn, thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ cần được xác định chính xác, cụ thể,
chỉ thuộc về một Tòa án duy nhất để tránh tình trạng có hai tòa án cùng có
thể giải quyết một vụ việc. Thẩm quyền này đòi hỏi phải được giao cho
11208115 - Nguyễn Thu Trang
61
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
một tòa "đích danh" để xử lý tranh chấp. Do đó, dựa trên định nghĩa về
nơi cư trú trong Luật cư trú năm 2020, pháp luật tố tụng dân sự cần bổ
sung hướng dẫn rõ ràng về việc xác định thẩm quyền Tòa án trong các
trường hợp bị đơn có nhiều nơi cư trú.
-
Thứ tám, Về xác định quan hệ pháp luật
Hiện nay, thực tế tại TAND TP Hà Nội có tình trạng xác định chưa đúng
về quan hệ pháp luật dẫn đến việc áp dụng sai luật để giải quyết vụ án. Ví dụ,
trong vụ án giữa Công ty cổ phần thép Hawo Hà Nội (Công ty H) (nguyên đơn)
và Công ty cổ phần xây dựng Texco (Công ty T) (bị đơn), có sự nhầm lẫn trong
việc xác định quan hệ pháp luật và áp dụng pháp luật. Cụ thể, vào ngày
24/10/2014, Công ty H ký Hợp đồng kinh tế cho công trình Nhà xưởng sản xuất
tại TP. Hải Phòng, với tổng giá trị hợp đồng là 2.526.100.000 đồng. Sau khi thực
hiện hợp đồng, Công ty H đã hoàn thành công việc theo đúng tiến độ và nhận
được xác nhận từ Công ty T về khối lượng thực tế hoàn thành và hồ sơ quyết
toán vào ngày 25/12/2014. Tuy nhiên, Công ty T đã không thực hiện nghĩa vụ
thanh toán theo đúng cam kết. Mặc dù có sự cam kết thanh toán vào ngày
16/6/2016 và sau đó là kế hoạch trả nợ hàng tháng, nhưng Công ty T chỉ trả được
một phần rất nhỏ và vẫn còn nợ số tiền lớn, cụ thể là 1.160.892.000 đồng nợ gốc
và 327.935.098 đồng tiền lãi. Tuy nhiên, việc xác định quan hệ pháp luật trong
trường hợp này là tranh chấp mua bán hàng hóa và luật được áp dụng là Luật
Thương mại 2005. Trên thực tế, đây là một vụ tranh chấp hợp đồng thi công xây
dựng công trình, và phải áp dụng các quy định của Luật Xây dựng hoặc các quy
định pháp lý liên quan đến hợp đồng thi công, thay vì Luật Thương mại. Việc xác
định sai sẽ ảnh hưởng đến tính chính xác và công bằng trong việc giải quyết
tranh chấp.
-
Theo quan điểm của em: Theo Điều 1 của Hợp đồng kinh tế số 35/HĐKT
ngày 24/10/2014 ghi rõ nội dung công việc:“Bên B nhận sản xuất, vận
chuyển, lắp dựng kết cấu thép, lợp bao che chông trình: Nhà xưởng sản
xuất K15X525 + K21X97,5 tại xã Nam Đồng, thành phố Hải Phòng cho
bên A theo bản vẽ thiết kế do bên A cung cấp đã được chủ đầu tư phê duyệt
(Bản vẽ thiết kế và Phụ lục hợp đồng là một phần không thể thiếu trong hợp
đồng này)". Do đó, công việc thực hiện theo hợp đồng liên quan đến việc
xây dựng và lắp đặt nhà xưởng, và sẽ được điều chỉnh bởi Luật Xây dựng,
vì đây là luật chuyên ngành phù hợp với loại công việc này. Căn cứ theo
điều 3 Luật xây dựng 2014 quy định: “Công trình xây dựng là sản phẩm
11208115 - Nguyễn Thu Trang
62
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị
lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần
dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt
nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công
trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát
triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác.”
Do đó, theo căn cứ trên, xác định tranh chấp của các đương sự trong
trường hợp này là tranh chấp hợp đồng xây dựng lắp đặt nhà xưởng.
3.1.2.2. Nguyên nhân
- Về nguyên nhân khách quan:
+ Hệ thống pháp luật hiện nay còn thiếu sự đồng bộ và thống nhất, tính
khả thi thấp, gây khó khăn trong việc áp dụng vào thực tiễn. Các văn bản hướng
dẫn thi hành pháp luật chưa đầy đủ về số lượng, nhiều văn bản chồng chéo, mâu
thuẫn giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng. Một số văn bản còn không rõ
ràng, dẫn đến cách hiểu và cách thức áp dụng khác nhau giữa các địa phương,
thậm chí giữa các Thẩm phán trong cùng một Tòa án.
+ Việc hướng dẫn áp dụng pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền chưa
đáp ứng kịp thời nhu cầu giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác xét xử. Việc
triển khai các quy định của BLTTDS 2015 còn gặp nhiều trở ngại, vướng mắc.
Đồng thời, số lượng vụ án TCTM phải giải quyết theo thủ tục phúc thẩm ngày
càng tăng, tính chất cũng phức tạp hơn. Cán bộ ngành Tòa án còn thiếu, cơ sở vật
chất và trang thiết bị làm việc chưa đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu của công
tác xét xử.
+ Sự gia tăng vụ án với tính chất ngày càng phức tạp, cùng với việc các
quy định pháp luật còn thiếu sót và chậm được sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn
thi hành, khiến quá trình xét xử bị chậm trễ. Hơn nữa, việc các cơ quan, ngành
liên quan không cung cấp chứng cứ kịp thời hoặc không trả lời yêu cầu xác minh
của Tòa án theo quy định cũng làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Các vụ án
có yếu tố nước ngoài cũng làm tăng thời gian tống đạt, triệu tập và thu thập
chứng cứ, gây chậm trễ trong quá trình xét xử.
- Về nguyên nhân chủ quan:
+ Trước hết phải nói đến trách nhiệm đối với lãnh đạo đơn vị trong công
tác, quản lý, điều hành còn hạn chế, cả nể, thiếu quyết đoán trong công việc,
11208115 - Nguyễn Thu Trang
63
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
chưa mạnh dạn kiểm tra đôn đốc, nhắc nhở và hướng dẫn kịp thời; chưa quan
tâm đúng mức trong việc giáo dục chính trị tư tưởng và động viên cán bộ, Thẩm
phán thực hiện nhiệm vụ.
+ Thẩm phán còn chưa xem xét chứng cứ và tài liệu đầy đủ, dẫn đến đưa
ra phán quyết chưa chính xác.
+ Một số văn bản luật chưa thực sự phù hợp với thực tế, cộng với thiếu
văn bản hướng dẫn áp dụng nên có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau dẫn đến
đường lối xét xử các vụ án tương tự nhau, nhưng kết quả khác nhau. Nhiều vụ án
hiện vẫn phải tạm đình chỉ việc giải quyết để đợi hướng dẫn áp dụng thống nhất
pháp luật của TAND tối cao.
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương
mại tại Tòa án
Thứ nhất, bổ sung quy định về việc hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ các
đương sự
Để giải quyết các vướng mắc trên, khoản 2 Điều 227 BLTTDS năm 2015
nên quy định là: “Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai trở đi...” để xác định các
trường hợp triệu tập hợp lệ lần thứ ba, thứ tư… đều áp dụng tương tự. Ngoài ra,
nên hướng dẫn về số lần vắng mặt cho từng đương sự trong vụ án để có thể đảm
bảo nguyên tắc xét xử công bằng.
Thứ hai, sửa đổi quy định về Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
thương mại
Hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự theo hướng phân định thẩm quyền
giải quyết giữa các cấp Tòa án cần có sự rõ ràng thẩm quyền của Tòa án cấp
huyện, Tòa án cấp tỉnh, thứ tự ưu tiên thẩm quyền để tránh tranh chấp về thẩm
quyền phát sinh, gây mất thời gian cho đương sự trong quá trình tham gia tố tụng
tại TAND.
Thứ ba, bổ sung quy định về mức lãi xuất trả chậm trong hợp đồng
Về vấn đề lãi trả chậm, trên thực tế, kể từ khi BLDS (2015) có hiệu lực thi
hành mà phát sinh các vụ án KDTM, Tòa án áp dụng quy định tại Điều 468,
Khoản 2, BLDS (2015) để tuyên về lãi suất chậm thanh toán trong giai đoạn thi
hành án. Có Tòa án thụ lý, giải quyết hai vụ kiện khác nhau nhưng cùng một loại
tranh chấp là tranh chấp hợp đồng mua bán, tranh chấp hợp đồng thi công hay
tranh chấp hợp đồng dịch vụ... nhưng Tòa án lại tuyên những bản án khác nhau:
11208115 - Nguyễn Thu Trang
64
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Có vụ Tòa án xác định lãi suất chậm thanh toán theo quy định tại Điêu 306 Luật
Thương mại (2005); có vụ Tòa án lại áp dụng quy định tại Điều 468, Khoản 2,
BLDS (2015).
Em cho rằng đây là tranh chấp về KDTM, đối với lãi suất chậm thanh toán
trong giai đoạn thi hành án, nên áp dụng quy định tại Điều 306 Luật Thương mại
(2005) như trước đây thì mới phù hợp. VKSNDTC cần có sự phối hợp với
TANDTC để ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ đối với trường hợp này để
có sự áp dụng thống nhất giữa Tòa án và VKS
Theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại (2005), “bên bị vi phạm
hợp đồng có quyền yêu cầu bên vi phạm trả tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán,
căn cứ vào lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh
toán, tương ứng với thời gian chậm trả, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc pháp
luật quy định khác”. Tuy nhiên, việc xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên
thị trường tại thời điểm thanh toán hiện nay gặp không ít khó khăn và lúng túng.
Trên thực tế, có nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau về khái niệm
này, dẫn đến việc áp dụng quy định gặp phải nhiều trở ngại. Một số vấn đề cần
làm rõ là cách tính toán lãi suất này, nguồn tham chiếu để xác định mức lãi suất
và liệu có cần cơ quan có thẩm quyền công nhận mức lãi suất hay không. Vì vậy,
việc làm rõ khái niệm "lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường" và quy
trình xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường là cần thiết, để việc
áp dụng Điều 306 Luật Thương mại (2005) được chính xác và công bằng.
Có ý kiến cho rằng lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường là lãi suất
trung bình của lãi suất nợ quá hạn của các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài
hạn trên thị trường của một ngân hàng... Tại Hà Nội, việc xác định lãi suất nợ
quá hạn trung bình của ba ngân hàng tại địa phương gôm Ngân hàng Agribank,
VietinBank, Vietcombank để giải quyết vụ án nhưng còn vướng mắc ở chỗ: lãi
suất áp dụng là lãi suất nợ quá hạn trung bình trên cơ sở lãi suất nợ quá hạn của
các khoản vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn thì vẫn chưa có hướng dẫn, quy
định thống nhất (do các mức lãi suất cho vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn này
là khác nhau. Mặt khác Hà Nội cũng như các địa phương khác còn có rất nhiều
các tổ chức tín dụng khác cùng hoạt động với ba ngân hàng Agribank,
VietinBank, Vietcombank nên việc xác định xác định lãi suất nợ quá hạn trung
bình của ba ngân hàng đó có đảm bảo khách quan hay không? Bên cạnh đó, trong
trường hợp loại trừ áp dụng trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ
11208115 - Nguyễn Thu Trang
65
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
quá hạn trung bình trên thị trường trong trường hợp "có thỏa thuận khác hoặc
pháp luật có quy định khác" theo quy định của luật cũng chưa có hướng dẫn rõ
ràng và cụ thể. Theo đó trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất chậm trả (là
150% lãi suất cho vay của một ngân hàng cụ thể) và nếu mức lãi suất thỏa thuận
này vượt quá lãi suất nợ quá hạn trung bình của ba ngân hàng như trên thì có
được áp dụng mức lãi suất thỏa thuận này hay không....
Như vậy Ngân hàng nhà nước cần có hướng dẫn thống nhất giao cho Ngân
hàng các địa phương là cơ quan có thẩm quyền cung cấp mức lãi suất nợ quá hạn
trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tại địa phương mình, để đảm
bảo có căn cứ áp dụng khách quan khi giải quyết tranh chấp của đương sự.
Thứ tư, bổ sung quy định về chế tài xử lý cá nhân, cơ quan, tổ chức không
cung cấp tài liệu, chứng cứ khi đương sự, Tòa án có yêu cầu.
Để xử lý các trường hợp và cá nhân, cơ quan, tổ chức chưa cung cấp tài
liệu, dẫn chứng đầy đủ và kịp thời và dẫn viện nhiều lý do để không tuân thủ các
quy định về nghĩa vụ phải cung cấp đầy đủ tài liệu cho Tòa án, cần thiết phải bổ
sung tại BLTTDS để quy định các chế tài xử phạt cụ thể đối với các trường hợp này.
Thứ năm, bổ sung quy định về căn cứ cho việc giữ nguyên bản án sơ thẩm.
BLTTDS (2015) không quy định căn cứ để giữ nguyên bản án sơ thẩm và
không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị của HĐXX phúc thẩm là một thiếu xót
cần được sửa đổi, bổ sung. Do pháp luật TTDS không quy định căn cứ để sử
dụng quyền hạn của HĐXX nên việc HĐXX ra quyết định hoàn toàn căn cứ vào
ý chí chủ quan của mình để giải quyết tranh chấp KDTM mà không dựa trên căn
cứ pháp lý. Theo quy định tại Điều 2095, khoản 2, 3, Điều 296, khoản 1, Điều
299 và Điều 308 BLTTDS (2015), ngoài quyền giữ nguyên bản án sơ thẩm và
không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị thì HĐXX phúc thẩm còn có quyền sửa
bản án sơ thẩm, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ
thẩm giải quyết lại vụ án hoặc đình chỉ giải quyết vụ án, đình chỉ xét xử phúc
thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Vì vậy, cần phải loại trừ các căn cứ để
HĐXX phúc thẩm ra quyết định sửa bản án sơ thẩm được quy định tại Điều 309
và Điều 300 của BLTTDS 2015, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho
Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án được quy định tại Điều 310 BLTTDS
(2015); hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án được quy định tại Điều
299 và Điều 311 BLTTDS (2015); đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản
án sơ thẩm được quy định tại Điều 289, khoản 2 và khoản 3 Điều 296 BLTTDS
11208115 - Nguyễn Thu Trang
66
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
(2015). Do đó BLTTDS (2015) cần bổ sung căn cứ không chấp nhận kháng cáo,
kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm như sau: "Hội đồng xét xử phúc thẩm
giữ nguyên bản án sơ thẩm và không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị nếu
kháng cáo, kháng nghị hợp lệ nhưng không có căn cứ và không thuộc trường hợp
quy định tại Điều 289, khoản 2 và khoản 3 Điều 296, Điều 299, Điều 300, Điều
309 và Điều 311 BLTTDS 2015.”
Thứ sáu, sửa đổi quy định của BLTTDS năm 2015 về thẩm quyền của Tòa án
theo nơi cư trú, làm việc nếu bị đơn là cả nhân, trụ sở nếu bị đơn là pháp nhân.
Như đã phân tích ở trên, việc quy định Tòa án nơi bị đơn cư trú có thẩm
quyền giải quyết các TCTM trong khi chưa có văn bản hướng dẫn thi hành sẽ rất
dễ dẫn đến tình trạng xung đột thẩm quyền giữa các Tòa án với nhau. Để khắc
phục hạn chế này, cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn cách xác định thẩm
quyền theo nguyên tắc sau: Tòa án nơi bị đơn thường trú (nơi sinh sống thường
xuyên, ổn định và đã đăng ký thường trú); Tòa án nơi bị đơn tạm trú (nơi sinh
sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú), Tòa án nơi bị đơn
đang sinh sống. Việc quy định theo thứ tự trên không chỉ giúp thống nhất thẩm
quyền theo lãnh thổ, tránh được sự chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm giữa các
Tòa án mà còn giúp những Tòa án này thực hiện tốt nhất việc giải quyết các tranh
chấp kinh doanh, thương mại trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình. Đối
với sự thiểu rõ ràng trong quy định về thẩm quyền của Tòa án theo nơi bị đơn cư
trú, tác giả cho rằng khi xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp,
nên ưu tiên Tòa án nơi bị đơn cư trú hơn Tòa án nơi bị đơn làm việc, cụ thể nếu
bị đơn cư trú một nơi nhưng làm việc một nơi thì tòa án có thẩm quyền là tòa án
nơi bị đơn cư trú. Trong trường hợp không thể xác định được nơi cư trú của bị
đơn thì tòa án nơi bị đơn làm việc có thẩm quyền giải quyết.
3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giải
quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án
Thứ nhất, nâng cao năng lực của đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thị trường hiện nay, chất lượng xét xử của
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đóng vai trò vô cùng quan trọng, phản ánh sức
mạnh của nền tư pháp. Để nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân, cần thực hiện một số giải pháp nhằm tăng cường công tác đào tạo và
tập huấn chuyên môn nghiệp vụ. Cụ thể, cần tiếp tục tổ chức các lớp bồi dưỡng
các chuyên đề pháp luật về thẩm quyền của TAND trong giải quyết TCTM, phân
11208115 - Nguyễn Thu Trang
67
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
loại đối tượng để đào tạo kiến thức pháp lý phục vụ giải quyết tranh chấp hiệu
quả, tổ chức các Hội nghị rút kinh nghiệm trong công tác xét xử để chỉ ra các khó
khăn, vướng mắc và thiếu sót khi áp dụng quy định về thẩm quyền của Tòa án
trong giải quyết TCTM. Qua đó, giúp Thẩm phán tránh sai sót khi xử lý những
vụ án tương tự.
Ngoài ra, để bảo đảm chất lượng thực hiện thẩm quyền của Tòa án trong
xét xử TCTM, cần chú trọng chất lượng kiến thức thương mại của người tiến
hành tố tụng. Đặc biệt, cần nâng cao chất lượng Hội đồng xét xử, nhất là cơ chế
Hội thẩm nhân dân, trong khi vai trò của Hội thẩm nhân dân hiện nay còn khá
mờ nhạt trong xét xử TCTM. Pháp luật cần quy định rõ các tiêu chí cho việc lựa
chọn Hội thẩm nhân dân trong giải quyết TCTM. Ví dụ, hội thẩm nhân dân phải
là thương nhân, có kiến thức pháp luật ở mức độ nhất định, có uy tín và kinh
nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh, ưu tiên lựa chọn những người có bằng cử
nhân luật tham gia Hội đồng xét xử để nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án.
Thứ hai, phát huy tối đa công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đối với
các quy định về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết TCTM.
Bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao trình độ chuyên môn của
đội ngũ cán bộ Tòa án thì giải pháp tuyên truyền, phổ biến cũng như giáo dục
pháp luật là không thể thiếu nếu muốn pháp luật đi vào cuộc sống. Việc tuyên
truyền, phổ biến pháp luật đối với người dân đặc biệt là người dân ở vùng nông
thôn, miền núi nhưng có tiềm năng phát triển kinh doanh thương mại là điều vô
cùng cần thiết. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền với các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo
trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Cần chủ động đổi mới công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng mở rộng quy mô, phối kết hợp với nhiều
cấp, nhiều ngành, sử dụng nhiều hình thức phổ biến sinh động, phong phú, thiết
thực, liên tục và bên bì như thông qua hình thức tuyên truyền miệng, tuyên
truyền qua các hội thi, cuộc thi, tổ chức các buổi talkshow chuyên đề pháp luật,
thông qua các nền tảng mạng xã hội,... Thông qua việc tuyên truyền, phổ biến và
giải thích pháp luật, các đương sự có thể được trang bị những hành trang kiến
thức pháp lý cần thiết, tránh xác định khởi kiện không đúng thẩm quyền của Tòa
án trong giải quyết TCTM như một số dẫn chứng thực tiễn mà tác giả đã luận
giải trước đó.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
68
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
Thứ ba, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong và ngoài
ngành về tổ chức thực hiện pháp luật.
Để giải quyết tranh chấp không thể thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan
nhà nước với nhau. Không chỉ hỗ trợ về mặt nghiệp vụ, các cơ quan nhà nước
với chức năng riêng của mình cần kiềm chế, tôn trọng lẫn nhau tạo môi trường
trong sạch, nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp.
Các cơ quan cấp trên cần có quy chế tăng cường phối hợp, tập huấn,
hướng dẫn nghiệp vụ kịp thời, đặc biệt khi có các văn bản quy phạm pháp luật
mới có hiệu lực. Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học gắn với công tác tổ
chức xét xử và hướng dẫn thực thi pháp luật trên thực tiễn. Đồng thời xây dựng
cơ chế thu hút nguồn đầu tư cũng như nhân lực có chất lượng đối với mỗi Tòa án
trong hệ thống TAND.
Thứ tư, chú trọng hợp tác quốc tế trong việc tổ chức thực hiện giải quyết
tranh chấp.
Hiện nay, các TCTM không chỉ trong nước mà còn vượt ra và liên quan
đến yếu tố nước ngoài do cơ chế mở cửa thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
Vì vậy công tác hợp tác quốc tế để trao đổi học hỏi kinh nghiệm trong cách thức
tổ chức thực hiện hoạt động giải quyết, xét xử cũng như các hoạt động bổ trợ
khác trong quá trình giải quyết tranh chấp là điều cần thiết. Đồng thời, việc hợp
tác sẽ giúp tiếp thu được sự tiến bộ từ quốc gia nước ngoài để xây dựng pháp luật
điều chỉnh về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết TCTM được hoàn
thiện và tăng khả năng áp dụng trên thực tiễn hơn nữa.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
69
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
KẾT LUẬN
Trong phạm vi chuyên đề, em đã tập trung nghiên cứu phân tích những
vân đề lý luận, thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng quy định về thẩm quyền
của Tòa án cấp tỉnh trong việc giải quyết các TCTM và vận dụng vào những vụ
án cụ thể, mà tác giả được trực tiếp nghiên cứu từ thực tiễn tại TAND TP Hà Nội,
từ đó đã chỉ ra được những vướng mắc, hạn chế, bất cập còn tồn tại trong việc áp
dụng pháp luật TTDS về thẩm quyền để giải quyết các tranh chấp, thương mại.
Trong lĩnh vực thương mại, các quy định về thẩm quyền giải quyết TCTM
của Tòa án không chỉ là cơ sở pháp lý để Tòa án thụ lý, giải quyết các TCTM
phát sinh trong xã hội mà còn là căn cứ để các bên tranh chấp dựa vào đó xác
định chính xác Tòa án có thẩm quyền giải quyết, tránh lãng phí thời gian, tiền
bạc của đương sự, đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Tuy nhiên,
qua thực tế áp dụng thì những quy định này vẫn bộc lộ những vướng mắc, bất
cập. Những vướng mắc, bất cập này dẫn đến việc hiểu và áp dụng không đứng
các quy định của pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích của nguyên
đơn trong quá trình giải quyết TCTM tại Tòa án. Do đó, vấn đề cấp thiết đặt ra là
cần phải có những văn bản hướng dẫn chuyên sâu về vấn đề thẩm quyền để các
Tòa án có thể áp dụng pháp luật thống nhất trên thực tế. Qthời gian thực tập tại
TAND TP Hà Nội, được vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực tiễn cuộc sống
thông qua việc tiếp cận với các hồ sơ TCTM, được quan sát Thư ký, Thẩm phán
làm việc với đương sự trong giai đoạn tố tụng và hơn thế nữa là được tham dự
các phiên xét xử vụ án thương mại trên thực tế đã giúp em nhận ra nhiều khuyết
điểm đang tồn đọng trong việc áp dụng những quy định của pháp luật tố tụng dân
sự vào quá trình giải quyết vụ án.
Do đó, việc hoàn thiện các quy định về thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh
trong giải quyết TCTM trở thành nhu cầu cấp thiết nhằm tạo ra một khung pháp
lý phù hợp, thống nhất và đồng bộ, có thể áp dụng trong thực tế một cách thuận
lợi và đạt hiệu quả cao. Mong rằng trong tương lai gần, những đóng góp nhỏ của
chuyên đề có thể góp phần vào công tác hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự nói
chung và chế định thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh trong việc giải quyết các
TCTM nói riêng.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
70
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT
1. Hiến pháp Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013
2. Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2015 của Quốc
hội
3. Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015
của Quốc hội
4. Luật Doanh nghiệp 2020
5. Luật Thương mại 2005
6. Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022
7. Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014 của Quốc
hội
8. Luật số 62/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật xây dựng
9. Nghị quyết số 03/2012/NQ - HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng
thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ
nhất: “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ
sung theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự
10. Nghị quyết số 103/2015/QH13 của Quốc hội về việc thi hành
BLTTDS
11. Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân
dân tối cao hướng dẫn thi hành quy định của BLTTDS 2015
12. Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC của VKS
tối cao và Toà án nhân dân tối cao quy định việc phối hợp giữa VKS và toà án
nhân dân trong việc thi hành một số quy định của BLTTDS
II. BÀI VIẾT KHOA HỌC
1. Lê Xuân Vĩ, Người hướng dẫn: TS. Dương Quỳnh Hoa (2019), Luận
văn thạc sĩ luật học/ Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại từ thực tiễn xét
xử sơ thẩm của toà án nhân dân cấp huyện tại Quảng Nam.
2. Nguyễn Thị Thu Huyền, Người hướng dẫn: PGS.TS. Vũ Thị Lan Anh
11208115 - Nguyễn Thu Trang
71
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
(2017), Luận văn thạc sĩ luật học/ Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
theo thủ tục sơ thẩm từ thực tiễn tại toà án nhân dân thành phố Hà Nội.
III. TÀI LIỆU INTERNET
1. Tạp chí Toà án nhân dân điện tử, Về thủ tục tiến hành phiên hòa giải kết
hợp với phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ,
https://tapchitoaan.vn/ve-thu-tuc-tien-hanh-phien-hoa-giai-ket-hop-voi-phienhop-kiem-tra-viec-giao-nop-tiep-can-cong-khai-chung-cu
2. Tạp chí Toà án nhân dân điện tử, Quy định về thời hiệu trong giải quyết
vụ việc dân sự: Thực tiễn và bình luận, https://tapchitoaan.vn/quy-dinh-ve-thoihieu-trong-giai-quyet-vu-viec-dan-su-thuc-tien-va-binh-luan
3. Bộ Công thương, Tạp chí Công thương điện tử, Hoàn thiện quy định
pháp luật về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của tòa
án đáp ứng yêu cầu hiện nay, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/hoan-thienquy-dinh-phap-luat-ve-tham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-kinh-doanh-thuongmai-cua-toa-an-dap-ung-yeu-cau-hien-nay-105032.htm
4. Bộ Công thương, Tạp chí Công thương điện tử, Thẩm quyền giải quyết
tranh chấp thương mại của tòa án trong điều kiện mới hội nhập quốc tế,
https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/tham-quyen-giai-quyet-tranh-chap-thuongmai-cua-toa-an-trong-dieu-kien-moi-hoi-nhap-quoc-te-64547.htm
5. Vũ Thị Vân Anh (2020), Thẩm quyền của toà án trong giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
6. Bùi Thị Phương Đông (2022), Thẩm quyền dân sự của Toà án trong
việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật Việt Nam,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
IV. TÀI LIỆU KHÁC
1. Toà án nhân dân thành phố Hà Nội (2021), Báo cáo tổng kết công tác
toà án năm 2021.
2. Toà án nhân dân thành phố Hà Nội (2022), Báo cáo tổng kết công tác
toà án năm 2022.
3. Toà án nhân dân thành phố Hà Nội (2023), Báo cáo tổng kết công tác
toà án năm 2023.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
72
Chuyên đề tốt nghiệp ngành Luật
4. Toà án nhân dân thành phố Hà Nội (2024), Báo cáo tổng kết công tác
toà án năm 2024.
5. Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật thương mại tập II, Nxb
Công an Nhân dân.
6. Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 59.
11208115 - Nguyễn Thu Trang
73
Download