Uploaded by phamnhatmynh

Politika zamestnanosti pre etnické menšiny v Dien Bien

advertisement
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nước ta có 53 dân tộc thiểu số với 3,04 triệu hộ, 13,38 triệu người (chiếm 14,6%
dân số cả nước), cư trú thành cộng đồng ở 51 tỉnh, thành phố, 548 huyện, 5266 đơn vị
hành chính cấp xã, trong đó có 382 xã biên giới (tiếp giáp với Trung Quốc, Lào và Cam
Pu Chia). Địa bàn cư trú chủ yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây
Duyên hải miền Trung, chiếm 3/4 diện tích cả nước.
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh,
Đảng và Nhà nước ta đã xác định vùng dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên,
Tây Nam Bộ và Tây Duyên hải Miền trung là những khu vực trọng yếu, giữ vị trí chiến
lược quan trọng của đất nước.
Đồng bào các dân tộc thiểu số được tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ
bản ở mức rất thấp so với bình quân chung cả nước: còn hơn 21% người dân tộc thiểu
số trên 15 tuổi chưa đọc thông viết thạo tiếng Việt; khoảng 30% học sinh dân tộc thiểu
chưa được đi học đúng độ tuổi; tỷ lệ khám bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế của người dân
tộc thiểu số mới đạt 44,8%; gần 1/3 số hộ dân tộc thiểu chưa được tiếp cận nguồn nước
hợp vệ sinh; hơn 15,3% số hộ gia đình người dân tộc thiểu số còn sinh sống trong nhà
tạm bợ, dột nát, đặc biệt có 14 dân tộc thiểu số có tỷ lệ nhà ở tạm bợ, dột nát gần 50%;
2/3 số hộ dân tộc thiểu số chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh;
Vùng dân tộc thiểu số đã và đang là “lõi nghèo của cả nước”: thu nhập bình quân
đầu người của dân tộc thiểu số chỉ bằng khoảng 30% so với bình quân chung cả nước.
Dân số dân tộc thiểu số chiếm 14,6% dân số cả nước nhưng tỷ lệ hộ nghèo chiếm
52,66% hộ nghèo của cả nước. Một số nhóm dân tộc thiểu có tỷ lệ hộ nghèo đang ở
mức rất cao lên đến 70 - 80% như: Ơ Đu, Co, Khơ Mú, Xinh Mun, La Ha, Kháng,
Mông và Xơ Đăng....
Vùng sinh sống của dân tộc thiểu số chủ yếu là núi cao, biên giới, địa hình chia
cắt, khí hậu khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng kém nhất cả nước, xuất phát điểm rất thấp; biến
1
đổi khí hậu, sự cố môi trường (Sạt lở đất, xâm nhập mặn ở đồng bằng Sông Cửu long;
lũ ống, lũ quét ở các tỉnh Tây Bắc; hạn hán ở các tỉnh Tây Nguyên, Duyên hải miền
Trung... ) diễn ra nghiêm trọng và khó lường… Chi phí sản xuất, lưu thông hàng hóa
lớn nên rất khó khăn để thu hút các nguồn lực xã hội đầu tư phát triển kinh tế - xã hội
vùng dân tộc thiểu số, miền núi và vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, ảnh hưởng rất
lớn đến sự phát triển bền vững của vùng dân tộc thiểu số.
Thực hiện Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng “Tiếp tục
hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết,
giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển”, việc xây dựng
và ban hành đề án tổng thể đầu tư phát triển KT-XH vùng dân tộc thiểu số và miền núi
và vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là một nhiệm vụ cấp thiết, mang tính chiến
lược của quốc gia.
Trên cơ sở chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, trong
những năm vừa qua, tỉnh Điện Biên đã nỗ lực tạo mọi điều kiện để giúp cho đồng bào
dân tộc trên địa bàn tỉnh có công ăn việc làm, ổn định thu nhập, thoát nghèo bền vững,
vươn lên trong cuộc sống,... Từ đó đã góp phần không nhỏ trong sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đời sống tinh thần được nâng cao. Tuy nhiên, sự phát triển ấy
còn gặp nhiều rào cản và dưới tiềm năng lợi thế: Là tỉnh có kinh tế chậm phát triển; các
nguồn lực hỗ trợ chưa đáp ứng được nhu cầu; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thấp kém,
chưa đồng bộ... Do vậy, việc nghiên cứu chính sánh giải quyết việc làm cho đồng bào
dân tộc của tỉnh Điện Biên hiện nay, đang trở lên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, em đã chọn đề tài “Chính sách giải quyết
việc làm cho đồng bào dân tộc ở tỉnh Điện Biên từ góc nhìn cặp phạm trù Bản chất
– Hiện tượng, thực trạng và giải pháp” làm tiểu luận giữa phần môn triết học.
2. Tình hình nghiên cứu
Chính sách giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc ở tỉnh Điện Biên đã được đề
cập trong công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước....Kết quả nghiên cứu
2
của các công trình ấy rất có giá trị về lý luận cũng như thực tiễn, là cơ sở lý luận và thực
tiễn cho em kế thừa trong quá trình làm tiểu luận này.
Tại tiểu luận này, em sẽ làm rõ và phát triển thêm về thực trạng việc triển khai thực
hiện chính sách giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc ở tỉnh Điện Biên trong thời gian
qua, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp để thực hiện hiệu quả chính sách này trong
thời gian tới, góp phần thực hiện thành công mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
tỉnh Điện Biên lầ thứ XIII nhiệm kỳ 2015-2020: "Phấn đấu xây dựng Điện Biên thành
tỉnh phát triển trung bình trong vùng trung du và miền núi phía Bắc" [Văn kiện Đại hội
đại biểu Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XIII, Nxb Điện Biên Phủ, 2015, tr.121].
3. Đối tượng nghiên cứu
- Tiểu luận tập trung nghiên cứu thực trạng chính sách giải quyết việc làm cho đồng
bào dân tộc ở tỉnh Điện Biên trong thời gian qua từ giác độ của triết học Mác – Lênin.
- Phạm vi nghiên cứu: Dưới góc độ cơ sở lý luận của Triết học Mác – Lênin về
mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng, tiểu luận chỉ tập trung làm rõ thực
trạng chính sách giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc ở tỉnh Điện Biên hiện nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
4.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận của Triết học Mác – Lênin về mối quan hệ
biện chứng giữa bản chất và hiện tượng để từ đó đánh giá khái quát thực trạng chính
sách giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc ở tỉnh Điện Biên từ năm 2015 đến nay,
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết việc làm cho đồng bào
dân tộc ở tỉnh Điện Biên thời gian tới.
4.2. Nhiệm vụ của đề tài.
- Nêu bật cơ sở lý luận mà đề tài đề cập.
- Phân tích khái quát thực trạng chính sách giải quyết việc làm cho đồng bào dân
tộc ở tỉnh Điện Biên từ năm 2015 đến nay.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết việc làm cho
đồng bào dân tộc ở tỉnh Điện Biên thời gian tới.
3
5. Phương pháp nghiên cứu.
Tiểu luận được nghiên cứu trên lập trường duy vật biện chứng và phương pháp
biện chứng duy vật để xem xét những vấn đề đặt ra.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.
- Phương pháp trừu tượng hoá, hệ thống hoá, khái quát hoá.
- Phương pháp khảo sát tại địa bàn.
6. Kết cấu của tiểu luận: Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo, tiểu luận được kết cấu thành 3 chương với 7 tiết.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CÚU
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1. Bản chất là gì
Bản chất là tổng thể tất cả các thuộc tính và mối liên hệ tất nhiên được xét trong
sự phụ thuộc lẫn nhau tự nhiên của chúng, các quy luật vận hành và phát triển của đối
tượng. Phạm trù bản chất phản ánh cái bên trong, cái tất nhiên của đối tượng [Giáo trình
Triết học, bxb Đại học Sư phạm, 2015, tr.136].
1.1.2. Hiện tượng là gì
Hiện tượng là phạm trù chỉ sự bộc lộ cái bên trong của đối tượng ra mựt ngoài,
thông qua vô vàn các thuộc tính và mối liên hệ ngẫu nhiên được vạch ra do kết quả
tương tác của nó với các đói tượng khác. Hiện tượng là những biểu hiện bề ngoài của
các mặt và mối liên hệ [Giáo trình Triết học, bxb Đại học Sư phạm, 2015, tr.136].
1.1.3. Việc làm là gì
Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định
nghĩa nhằm làm sáng tỏ khái niệm việc làm. Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh
hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… người ta quan niệm
về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát
nhất về việc làm.
Để hiểu rõ khái niệm và bản chất của việc làm, ta phải liên hệ đến phạm trù lao
động vì giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó là hoạt
động cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người. Bản thân cá nhân mỗi con người
trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định. Mỗi vị trí mà người lao
động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu
tố khác trong quá trình sản xuất được gọi là chỗ làm hay việc làm.
5
Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội,
phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao động được coi là có
việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Nhờ có
việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho
xã hội, cho bản thân.
Như vậy, một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: Đó là
những công việc mà người lao động nhận được tiền công, đó là những công việc mà
người lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải được pháp
luật thừa nhận.
Trên thực tế, việc làm được thừa nhận dưới 3 hình thức:
- Làm công việc để nhận được tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó.
- Làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc
quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó
- Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới
hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó. Hình thức này bao gồm sản xuất nông
nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong
gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý.
Ở Việt Nam, khái niệm việc làm đã được quy định tại Điều 13 của Bộ luật lao
động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được
thừa nhận là việc làm”.
Khái niệm trên nói chung khá bao quát, nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế
cơ bản. Thứ nhất, hoạt động nội trợ không được coi là việc làm, trong khi đó hoạt động
nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ.
Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan
niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong
tục tập quán. Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi là việc làm,
nhưng ở quốc gia khác, ví dụ đánh bạc ở Việt Nam bị cấm, nhưng ở Thái Lan và Mỹ lại
6
được coi là một nghề. Thậm chí nghề này rất phát triển, vì nó thu hút khá đông tầng lớp
thượng lưu.
Tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc làm ra
thành nhiều loại.
Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc, có việc làm chính và việc làm phụ.
Việc làm chính là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu
nhập cao hơn so với công việc khác. Việc làm phụ là công việc mà người thực hiện
giành nhiều thời gian nhất sau công việc chính.
Ngoài ra, người ta còn chia việc làm thành việc làm toàn thời gian, bán thời gian,
việc làm thêm.
- Việc làm toàn thời gian: Chỉ một công việc làm 8 tiếng mỗi ngày, hoặc theo giờ
hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày trong tuần.
- Việc làm bán thời gian: Mô tả công việc làm không đủ thời gian giờ hành chính
quy định của Nhà nước 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày mỗi tuần. Thời gian làm việc có thể
dao động từ 0,5 đến 5 tiếng mỗi ngày và không liên tục.
- Việc làm thêm: Mô tả một công việc không chính thức, không thường xuyên
bên cạnh một công việc chính thức và ổn định.
Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, Tổ chức lao động quốc tế (ILO)
còn khuyến cáo và đề cập tới việc làm nhân văn hay việc làm bền vững.
1.1.4. Chính sách việc làm
Chính sách việc làm là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các mục tiêu, các giải
pháp và công cụ nhằm sử dụng lực lượng lao động và tạo việc làm cho lực lượng lao
động đó. Nói cách khác, chính sách việc làm là sự thể chế hóa pháp luật của Nhà nước
trên lĩnh vực lao động và việc làm, là hệ thống các quan điểm, phương hướng mục tiêu
và giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động.
1.2. QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN MỐI QUAN HỆ GIỮA BẢN CHẤT VÀ
HIỆN TƯỢNG, Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1.2.1. Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng
7
Bản chất của đối tượng mang tính khách quan, tồn tại không phụ thuộc vào ý
thức con người. Trong khi tồn tại thực, nó gắn bó hữu cơ với hiện tượng, chỉ lộ rõ mình
trong và thông qua hiện tượng. Hiện tượng cũng gắn biền với bản chất, không thể tồn tại
thiếu nó.
Là hình thức biểu hiện của bản chất nên hiện tượng khác với nó: Hiện tượng luôn
phong phú hơn bản chất, thường đa dạng và hay biến đổi. Ngược lại, bản chất lại là cái
bền vững, tự bảo toàn trong phần lớn các biến đổi đó.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bản chất hoàn toàn không đổi. Sự thay đổi
của nó chậm hơn ở hiện tượng. Nó biến đổi do trong quá trình phát triển của đối tượng,
một số mặt và mối liên hệ tất nhiên bứt đầu tăng cường, giữ vai trò lớn hơn, những số
khác lại bị đẩy xuống hàng dưới hoặc biến mất hẳn.
1.2.2. Ý nghĩa phương pháp luận
Vì bản chất thể hiện thông qua hiện tượng và hiện tượng biểu thị nó dưới dạng
cải biến và thường là xuyên tạc cho nên:
Trong nhận thức không chỉ giới hạn ở việc ghi nhận cái nằm trên bề mặt đối
tượng, mà cần phải thâm nhập vào bên trong đối tượng và phải nhìn ra bản chất thực
khuất sau hiện tượng.
Hoạt động thực tiễn cũng không thể xuất phát từ những hiện tượng riêng, mà
trước hết cần phải làm theo tri thức về bản chất, các quy luật vận hành và phát triển của
đối tượng.
1.3. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ VẤN ĐỀ GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã khẳng định: “Tiếp tục
hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết,
giải quyết quan hệ hài hòa giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển...” [Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.164].
Qua đó cho thấy, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân tộc, đặc biệt là các
dân tộc thiểu số. Giai đoạn 2015 - 2018, nhiều chính sách về phát triển kinh tế vùng các
8
dân tộc thiểu số được ban hành và thực hiện nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của
vùng đồng bào các dân tộc, gắn với kế hoạch phát triển chung của cả nước, đưa vùng
đồng bào các dân tộc thiểu số cùng cả nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng, trong những năm qua, cấp ủy, chính
quyền các cấp trong tỉnh luôn quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt công tác dân
tộc. Các chính sách về dân tộc, các chương trình, dự án về y tế, giáo dục, an sinh xã hội,
phát triển đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội... được thực hiện đầy đủ, kịp thời tại vùng
đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó đặc biệt chú trọng thực hiện các chính sách liên
quan đến giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh như: Đào tạo nghề
cho lao động nông thôn đến năm 2020 theo Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009
của Thủ tướng chính phủ (trong đó yêu cầu tỷ lệ lao động có việc làm sau khi đào tạo
phải đạt tối thiểu 80% trở lên); Đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao
động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020 theo Quyết định số
71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ; chính sách tạo việc làm
công thông qua các công trình đầu tư cơ sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh; Chính sách hỗ trợ
tiền vé xe cho lao động của tỉnh Điện Biên đi sơ tuyển, đi làm việc có tổ chức tại các
doanh nghiệp, khu công nghiệp ngoài tỉnh theo Quyết định số 15/2017/QĐ-UBND ngày
21/7/2017 của UBND tỉnh Điện Biên...
Các chính sách trên đã góp phần giải quyết việc làm cho nguồn lao động dồi dào
của tỉnh; nâng cao tay nghề, ý thức tổ chức kỷ luật của nguồn nhân lực. Cùng với các
chính sách hỗ trợ khác đã góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh từ 43,77%
năm 2015 lên trên 50% năm 2018.
9
Chương 2
CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN TỪ NĂM 2015 ĐẾN NAY,
THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN
2.1. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI CỦA
TỈNH ĐIỆN BIÊN
Điện Biên là một tỉnh biên giới miền núi thuộc vùng Tây Bắc của Tổ quốc, có tọa
độ địa lý 20o54’ – 22o33’ vĩ độ Bắc và 102o10’ – 103o36’ kinh độ Đông. Nằm cách Thủ
đô Hà Nội 504 km về phía Tây, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Bắc
giáp tỉnh Lai Châu, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Tây và Tây
Nam giáp CHDCND Lào. Là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với 2 quốc
gia Lào và Trung hơn 455 km, trong đó: Đường biên giới tiếp giáp với Lào là 414,712
km; với Trung Quốc là 40,86 km; có đường giao thông đi các tỉnh Bắc Lào và tỉnh Vân
Nam của Trung Quốc, có đường hàng không từ Điện Biên Phủ đi Hà Nội với tần suất
bay bình quân ngày 02 chuyến. Tỉnh có 10 đơn vị hành chính cấp huyện với 130 xã,
phường, thị trấn (trong số đó có 29 xã biên giới); dân số gần 55 vạn người, gồm 21 dân
tộc anh em. Trên tuyến biên giới Việt – Lào, ngoài 2 cửa khẩu đã được mở là Huổi
Puốc và Tây Trang, còn 3 cặp cửa khẩu phụ khác sắp tới sẽ được mở. Trên tuyến biên
giới Việt - Trung có cặp cửa khẩu A Pa Chải - Long Phú. Đặc biệt, cửa khẩu Tây Trang
từ lâu đã là cửa khẩu quan trọng của vùng Tây Bắc và cả nước, được Chính phủ hai
nước Việt Nam - Lào thỏa thuận nâng cấp thành cửa khẩu quốc tế và Khu kinh tế cửa
khẩu đang được xây dựng. Đây là điều kiện và cơ hội rất lớn để Điện Biên đẩy mạnh
thương mại quốc tế, tiến tới xây dựng khu vực này thành địa bàn trung chuyển chính
trên tuyến đường xuyên Á phía Bắc, nối liền vùng Tây Bắc Việt Nam với khu vực Bắc
Lào - Tây Nam Trung Quốc và Đông Bắc Mianma.
Do ảnh hưởng của các hoạt động kiến tạo nên địa hình của Điện Biên rất phức
tạp, chủ yếu là đồi núi dốc, hiểm trở và chia cắt mạnh. Được cấu tạo bởi những dãy núi
10
chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với độ cao biến đổi từ 200m đến hơn
1.800m. Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng dần từ Tây sang Đông. Ở
phía Bắc có các điểm cao 1.085m, 1.162 m và 1.856 m (thuộc huyện Mường Nhé), cao
nhất là đỉnh Pu Đen Đinh cao 1.886m. Ở phía Tây có các điểm cao 1.127m, 1.649m,
1.860m và dãy điểm cao Mường Phăng kéo xuống Tuần Giáo. Xen lẫn các dãy núi cao
là các thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc. Trong đó, đáng kể có thung lũng Mường
Thanh rộng hơn 150km2, là cánh đồng lớn và nổi tiếng nhất của tỉnh và toàn vùng Tây
Bắc. Núi bị bào mòn mạnh tạo nên những cao nguyên khá rộng như cao nguyên A Pa
Chải (huyện Mường Nhé), cao nguyên Tả Phình (huyện Tủa Chùa). Ngoài ra còn có các
dạng địa hình thung lũng, sông suối, thềm bãi bồi, nón phóng vật, sườn tích, hang động
castơ,... phân bố rộng khắp trên địa bàn, nhưng diện tích nhỏ.
Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, mùa Đông tương đối lạnh và ít
mưa; mùa hạ nóng, mưa nhiều với các đặc tính diễn biến thất thường, phân hoá đa dạng,
chịu ảnh hưởng của gió tây khô và nóng. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21o – 23oC,
nhiệt độ trung bình thấp nhất thường vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau (từ 14o – 18oC),
các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất từ tháng 4 - 9 (25oC) - chỉ xảy ra các khu vực
có độ cao thấp hơn 500m. Lượng mưa hàng năm trung bình từ 1.300 - 2.000mm,
thường tập trung theo mùa, mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Độ ẩm
trung bình hàng năm từ 76 - 84%. Số giờ nắng bình quân từ 158 – 187 giờ trong năm;
các tháng có giờ nắng thấp là tháng 6, 7; các tháng có giờ nắng cao thường là các tháng
3, 4, 8, 9.
Điện Biên là nơi hội tụ sinh sống của 21 dân tộc anh em (Thái; Mông; Kinh;
Dao; Khơ Mú; Hà Nhì; Lào; Hoa (Hán); Kháng; Mường; Cống; Xi Mun; Si La; Nùng;
Phù Lá; Thổ; Tày; Sán Chay và dân tộc khác). Mỗi dân tộc có những nét riêng về ngôn
ngữ, phong tục tập quán, văn hóa… tạo thành bức tranh đa sắc màu cho nền văn hóa
Điện Biên.
Theo kết quả điều tra sơ bộ của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm
2015, dân số trung bình tỉnh Điện Biên 547.785 người, trong đó: nam 273.931; nữ có
11
273.854 người; dân số sống tại thành thị đạt 82.691 người; Dân số sống tại nông thôn
đạt 465.094 người.
Kết cấu dân số ở Điện Biên có mấy nét đáng chú ý. Trước hết là "dân số trẻ" tỷ lệ
trẻ em dưới 15 tuổi chiếm 33.65%, người già trên 60 tuổi (với nam) và trên 55 tuổi (với
nữ) là 10,59%; Mật độ dân số của Điện Biên hiện là 57,4 người/km2.
Theo số liệu thống kê, hiện trạng sử dụng đất tính đến 31/12/2014, Điện Biên có
tổng diện tích đất là 954.125,06ha. Trong đó:
- Đất sản xuất nông chiếm chủ yếu với 75,89% tổng diện tích.
- Đất phi nông nghiệp (sử dụng để ở, phục vụ mục đích công cộng, trụ sở cơ
quan, công trình sự nghiệp…) chiếm 2,54%.
- Đất chưa sử dụng vẫn chiếm diện tích tương đối lớn với 21,57%, chủ yếu là đất
đồi núi, núi đá không có rừng cây.
Là tỉnh miền núi nên Điện Biên có tiềm năng lớn về rừng. Toàn tỉnh có
350.854,79ha đất lâm nghiệp có rừng (chiếm 48,46% diện tích đất nông nghiệp của
tỉnh). Trong đó: Rừng sản xuất chiếm 30,95%; rừng phòng hộ 55,31% và rừng đặc dụng
chiếm 13,74%.
Tài nguyên khoáng sản ở Điện Biên chưa được thăm dò đánh giá sâu về trữ
lượng và chất lượng. Tuy nhiên, qua tra cứu các tài liệu lịch sử liên quan cho thấy, Điện
Biên có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng về chủng loại, gồm các loại chính như:
nước khoáng, than mỡ, đá vôi, đá đen, đá granit, quặng sắt và kim loại màu..., nằm rải
rác trong tỉnh.
Điện Biên là tỉnh giàu tiềm năng du lịch, đặc biệt là lĩnh vực văn hoá - lịch sử. Nổi
bật nhất là hệ thống di tích lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ gồm: Sở chỉ huy chiến dịch
Điện Biên Phủ - Mường Phăng; các cứ điểm Him Lam, Bản kéo, Độc lập; Các đồi A1,
C1, D1, E1 và khu trung tâm tập đoàn cứ điểm của Pháp (Khu hầm Đờ cát).
Theo khảo sát sơ bộ, tại Điện Biên có nhiều điểm có khả năng xây dựng nhà máy
thuỷ điện, trong đó đáng chú ý là các điểm: Thuỷ điện Mùn Chung trên suối Nậm Pay,
thuỷ điện Mường Pồn trên suối Nậm Ty, thuỷ điện Nậm Mức trên sông Nậm Mức, thuỷ
12
điện Nậm He trên suối Nậm He, thuỷ điện Nậm Pồ trên suối Nậm Pồ, hệ thống thuỷ
điện trên sông Nậm Rốm, Nậm Khẩu Hú... Tuy nhiên, việc khai thác các tiềm năng này
còn ở mức khiêm tốn. Hiện nay trên địa bàn tỉnh mới có một số nhà máy thuỷ điện như
Nà Lơi 9.300KW, Thác Bay 2.400KW, Thác trắng 6.200KW, Nậm Mức 44Mw đang
được xây dựng và khai thác khá hiệu quả.
Những đặc điểm khái quát trên đây cũng đã tác động không nhỏ tới chính sách
giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc của tỉnh Điện Biên thời gian qua và đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới.
2.2. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM CHO ĐỒNG BÀO DÂN
TỘC Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN TỪ NĂM 2015 ĐẾN NAY
2.2.1. Vài nét khái quát về đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên
Là tỉnh miền núi, biên giới, tỉnh Điện Biên có 10 đơn vị hành chính cấp huyện
(trong đó có 4 huyện biên giới, 5 huyện thuộc đề án 30a của Chính phủ); 130 xã,
phường, thị trấn (trong đó có 29 xã biên giới, 110 xã đặc biệt khó khăn); 1.788 thôn,
bản, tổ dân phố; có 21 dân tộc sinh sống với khoảng 55 vạn dân, trong đó có trên 80%
dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo cao so với cả nước năm 2015 là 28,01 %. Ở những khu
vực vùng sâu, vùng xa, biên giới, trình độ dân trí đồng bào còn rất nhiều hạn chế, giao
thông đi lại khó khăn, nhất là vào mùa mưa. Kinh tế - xã hội chậm phát triển, hệ thống
hạ tầng còn thiếu và chưa đồng bộ; đời sống của một bộ phận nhân dân các dân tộc còn
gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều, tập quán canh tác lạc hậu.
Cộng đồng các dân tộc ở Điện Biên: dân tộc Tày, dân tộc Mông, Dân tộc Khơ
Mú, Dân tộc Dao, Dân tộc Thái, Dân tộc Mường…
Điện Biên là nơi hội tụ sinh sống của 21 dân tộc anh em. Mỗi dân tộc có những
nét riêng về ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn hóa… tạo thành bức tranh đa sắc màu
cho nền văn hóa Điện Biên như:
Dân tộc Thái: Là dân tộc có số dân đông nhất, chiếm 38,4% dân số toàn tỉnh.
Hiện nay dân tộc Thái sinh sống ở hầu hết các huyện, thị trong tỉnh. Người Thái còn có
các tên gọi khác là Táy, Hàng Tổng, Pa Thay, Thổ Đà Bắc. Tiếng Thái thuộc hệ ngôn
13
ngữ Tày – Thái. Người Thái được biết đến với những kinh nghiệm trong kỹ thuật tưới
nước, đắp phai, đào mương… Lúa nước là nguồn lương thực chính. Sản phẩm nổi tiếng
là vải thổ cẩm với hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, đệm bông lau bền, đẹp.
Dân tộc Mông: Là dân tộc có dân số lớn thứ 2 trong 21 dân tộc, chiếm 29,6% dân
số toàn tỉnh. Đồng bào dân tộc Mông ở Điện Biên cư trú ở hầu hết các huyện, tập trung
nhiều ở Tủa Chùa, Điện Biên Đông. Người Mông được chia thành 5 nhóm chính: Mông
Đơ, Mông Lềnh, Mông Si, Mông Đu, Mông Sua. Nguồn sống chính của người Mông là
làm nương rẫy, trồng ngô, trồng lúa. Người Mông thường cư trú ở các vùng núi cao,
được biết đến là những người thợ thủ công tài hoa trong nghề rèn đúc.
Người kinh: Là dân tộc có số dân đông thứ 3 trong số 21 dân tộc, chiếm gần 20%
dân số toàn tỉnh song người Kinh ở Điện Biên vẫn chỉ được coi là một dân tộc ít người,
cư trú ở tất cả các huyện, thị. Tiếng Kinh thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường. Nghề
làm vườn, chăn nuôi gia súc, gia cầm, đánh bắt cá đều rất phát triển.
Dân tộc Dao: Cư trú chủ yếu ở các huyện Mường Nhé, Tủa Chùa, với các nhóm:
Dao quần trắng, Dao quần chẹt, Dao tiền, Dao thanh y, Dao đỏ, Mán, Đông, Trại, Xá…
Cũng như phần lớn các dân tộc thiểu số khác, người Dao sống chủ yếu bằng nghề trồng
lúa nương và lúa nước. Các nghề thủ công như: dệt vải, rèn, mộc, làm giấy cũng phát
triển phần nào phục vụ nhu cầu cuộc sống của họ.
Dân tộc Khơ Mú: Cư trú đông nhất ở Điện Biên, Tuần Giáo, Điện Biên Đông,
Mường Chà, sống chủ yếu bằng nghề nương rẫy, thường dùng dao, rìu, gậy chọc lỗ tra
hạt. Người Khơ Mú còn có nghề thủ công từ rất lâu đời và tương đối phát triển.
Dân tộc Hà Nhì: Trước đây, dân tộc Hà Nhì còn có tên gọi là U ní, Xá u ní, sống
tản mạn trên rẻo cao chủ yếu ở huyện Mường Nhé. Họ sống chủ yếu bằng nghề làm
nương, rẫy, có nơi trồng lúa nước, chăn nuôi khá phát triển.
Dân tộc Giáy: Chiếm tỷ lệ nhỏ trong dân số toàn tỉnh. Người Giáy còn có tên gọi
khác là Nhắng, Dẳng, Xạ… Tiếng Giáy thuộc ngôn ngữ Tày – Thái.
Dân tộc La Hủ: Là dân tộc chỉ có ở hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu, tập trung
chủ yếu ở Mường Tè (Lai Châu) và xen kẽ một ít ở Mường Nhé (Điện Biên). Ngôn ngữ
14
La Hủ thuộc nhóm Tạng – Miến, khá gần gũi với ngôn ngữ Hà Nhì. Người La Hủ
nhanh nhẹn, tháo vát; nam giới rất giỏi đan lát các sản phẩm từ mây, tre.
Dân tộc Lào: Cư trú đông nhất ở huyện Điện Biên, Điện Biên Đông. Người Lào
sống định cư tại các bản làng đông đúc, tín ngưỡng tôn giáo chịu ảnh hưởng của đạo
Phật. Nghề chủ yếu là làm ruộng nước, các nghề phụ như dệt, rèn, gốm, làm đồ bạc
cũng khá phát triển.
Dân tộc Lự: Cư trú tập trung ở tỉnh Lai Châu, ở Điện Biên hiện nay chỉ còn một
số sinh sống xen lẫn với các dân tộc khác. Người Lự có truyền thống làm ruộng từ lâu
đời, nhà nào cũng có vườn cạnh nhà.
Dân tộc Hoa: Hay còn gọi là Hán, Xạ Phạng, sinh sống ở Điện Biên, sống tập
trung thành bản làng hoặc đường phố theo dòng họ tại các thị xã, thị trấn, đông nhất là ở
huyện Mường Chà, Tủa Chùa. Người Hoa sinh sống bằng nhiều nghề nghiệp khác
nhau: nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nhân viên chức, buôn bán nhỏ…
Dân tộc Kháng: Cư trú tập trung ở các huyện: Tuần Giáo, Mường Chà, Mường
Nhé. Tiếng Kháng thuộc ngôn ngữ Môn – Khơ Me. Người Kháng làm rẫy theo lối chọc
lỗ, tra hạt. Lúa nếp là lương thực chính. Ngoài ra, người Kháng còn nổi tiếng với những
sản phẩm thủ công đan lát và sản phẩm thuyền độc mộc kiểu đuôi én được các dân tộc
khác ưa thích.
Và các dân tốc khác với mỗi dân tộc có nét văn hóa độc đáo, thế mạnh và cách
thức canh tác, lao động sản xuất phù hợp với tập quán và nơi sinh sống của họ.
2.2.2. Thực trạng chính sách việc làm cho đồng bào dân tộc ở tỉnh Điện Biên
từ 2015 đến nay
2.2.2.1. Thành tựu của chính sách việc làm cho đồng bào dân tộc ở tỉnh Điện
Biên từ 2015 đến 30/6/2019
Giai đoạn 2015 - 6 tháng đầu năm 2019, tỉnh Điện Biên đã triển khai thực hiện
các chính sách về việc làm cho đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh, đồng thời ban hành
chính sách đặc thù riêng của tỉnh để hỗ trợ người lao động có cơ hội tìm kiếm việc làm,
đặc biệt là người dân tộc thiểu số. cụ thể:
15
Tạo việc làm thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội: Hằng năm,
tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung đầu tư nguồn lực để phát triển kinh tế - xã
hội: Triển khai đồng bộ, hiệu quả, có sự lồng ghép các Chương trình, đề án, dự án hỗ trợ
trên địa bàn, trong đó đặc biệt chú trọng đến 02 chương trình Mục tiêu quốc gia giảm
nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới.
Chính sách đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm được triển khai tích cực:
Giải quyết việc làm mới cho khoảng 34.300 lao động (trong đó tạo việc làm từ xuất
khẩu lao động trên 180 người), bình quân giải quyết việc làm mới cho 8.570 lao
động/năm (trong đó có trên 80% là lao động dân tộc thiểu số). Thực hiện hiệu quả Đề
án đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ: Tổ chức đào tạo, cấp chứng chỉ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 03
tháng cho trên 21.800 lao động nông thôn, bình quân đào tạo trên 5.400 lao động/năm
(trong đó có trên 95% là lao động dân tộc thiểu số).
Tỉnh chủ động khuyến khích, kêu gọi các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện tuyển
dụng lao động làm việc trong nước về tuyển dụng lao động trên địa bàn tỉnh. Hằng
năm, tổ chức tốt Ngày hội việc làm, các phiên giao dịch việc làm tại tỉnh và lưu động tại
các huyện, thị. Tuyển chọn, cung cấp trên 3.000 lao động đi làm việc theo hợp đồng cho
các công ty, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Ban hành và tổ chức thực hiện tốt chính
sách hỗ trợ tiền vé xe cho lao động của tỉnh đi sơ tuyển, đi làm việc có tổ chức tại các
doanh nghiệp, khu công nghiệp ngoài tỉnh để khuyến khích lao động có nhu cầu tìm
việc làm trong nước và đủ điều kiện đăng ký tham gia sơ tuyển, đi làm việc theo hợp
đồng. Đã thực hiện hỗ trợ kinh phí cho 51 lao động tham gia sơ tuyển tại công ty và đưa
đón trên 100 lao động đi làm việc ngoài tỉnh về nghỉ tết Nguyên đán hằng năm.
Song song với việc đào tạo nghề gắn với hỗ trợ tạo việc làm, hoạt động cho vay
vốn ưu đãi từ nguồn Quỹ quốc gia về việc làm và nguồn vốn nhận ủy thác của địa
phương. Bình quân thực hiện cho vay trên 200 dự án/năm của các tổ chức, cá nhân trên
địa bàn tỉnh để đầu tư phát triển kinh tế, góp phần tạo việc làm từ Quỹ cho trên 300 lao
động/năm.
16
Các chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh, cùng
với các chính sách hỗ trợ khác đã góp phần nâng tổng số lao động qua đào tạo của tỉnh
từ 132.666 lao động, tỷ lệ 43,77% năm 2015 lên 171.581 lao động, tỷ lệ 52,16% cuối
năm 2018, bình quân tăng 2,8%/năm.
Các thị trường việc làm được triển khai, giới thiệu đến người lao động phong phú,
đa dạng; phù hợp với phong tục, tập quán, trình độ, năng lực, sở trường của đồng bào dân
tộc, góp phần to lớn vào giải quyết việc làm cho lực lượng lao động dôi dư của tỉnh.
2.2.2.2. Nguyên nhân của thành tựu
- Đảng và Nhà nước tiếp tục bố trí các chương trình, chính sách, dự án hỗ trợ cho
tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số giải quyết việc làm, có nguồn thu nhập ổn
định, dần thoát nghèo bền vững.
- Huyện luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của trung ương và
hướng dẫn của các bộ ngành. Sự đoàn kết nhất trí, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ của cả
hệ thống chính trị và dân các dân tộc trong tỉnh.
- Việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, chính sách hỗ trợ giải
quyết việc làm cho đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh cơ bản được triển khai đồng bộ,
hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung và mục
tiêu giảm nghèo nói riêng.
- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững và ổn định.
2.2.3. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế về thực hiện chính sách việc làm
cho đồng bào dân tộc ở tỉnh Điện Biên
2.2.3.1. Hạn chế
Chất lượng nguồn nhân lực củ tỉnh còn thấp: Đa số lao động trên địa bàn tỉnh
không có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, một số lao động thiếu ý thức tổ
chức kỷ luật, chưa bắt kịp nhịp độ làm việc công nghiệp, khoa học, cơ bản chưa đáp
ứng được nhu cầu của thị trường lao động công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
17
Hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật về việc
làm của một số sở ngành, cấp huyện thuộc tỉnh chưa cao, một số lao động đi làm việc
vẫn vi phạm pháp luật (trộm cắp, cứ trú bất hợp pháp tại nước ngoài,...)
Số lao động được tạo việc làm thông qua Quỹ quốc gia về việc làm chưa đạt mục
tiêu kế hoạch hằng năm giao, hiệu quả sau đầu tư hỗ trợ đạt thấp.
Thu nhập của lao động sau khi học lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn
thấp, chủ yếu là nghề nông nghiệp nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế chung của tỉnh.
2.2.3.2. Nguyên nhân của hạn chế
Điện Biên là tỉnh có điểm xuất phát về kinh tế thấp; kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng
yêu cầu phát triển, xa các trung tâm kinh tế lớn; thời diễn biến phức tạp.
Trình độ nhận thức của một bộ phân đồng bào dân tộc còn hạn chế, tâm lý ngại
làm việc xa nhà, xa gia đình, không muốn thoát nghèo.
Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật về việc làm của
một số sở ngành, cấp huyện thuộc tỉnh chưa thường xuyên, sâu rộng, chưa có sự lồng
ghép với các chương trình khác.
Nguồn kinh phí hỗ trợ vay vồn từ Quỹ quốc gia về việc làm hằng năm bố trí cho
tỉnh tháp, cơ bản không đáp ứng được nhu cầu. Đối tượng vay vốn chủ yếu đầu tư trong
lĩnh vực nông nghiệp nên tạo việc làm mới cho lao động còn thấp.
18
Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN
NHẰM NÂNG CAO CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM
CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN
TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020
3.1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG CHUNG
Tại Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 18/11/2011 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh
Điện Biên (về chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2011-2015, định
hướng đến năm 2020) đã nêu rõ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo: "... phát triển cơ sở hạ
tầng kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực" và "... tiếp tục đầu tư cho các huyện nghèo, xã
nghèo, xã biên giới, xã, thôn bản đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc ít người..."
với mục tiêu "Mỗi năm tạo thêm khoảng 8.000 - 8.500 việc làm mới, đào tạo nghề tư
7.000 - 8.000 lao động, nâng tỷ lệ lao động được đào tạo lên 44,8% năm 2015 và 65%
năm 2020".
Để tiếp tục triển khai thực hiện quan điểm chỉ đạo trên cho phù hợp với tình hình
mới, tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 - 2020,
Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh đã đề ra mục tiêu: "Mỗi năm đào tạo nghề 7.800 - 8.200
lao động; tạo việc làm mới cho trên 8.500 lao động/năm [Văn kiện Đại hội đại biểu
Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XIII, Nxb Điện Biên Phủ, 2015, tr.122].
Và để cụ thể hóa mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ
XIII, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên đã ban hành Quyết định số 1440/QĐ-UBND
ngày 15/11/2016 phê duyệt Chương trình giảm nghèo bền vững tỉnh Điện biên, giai
đoạn 2016-2020 (cho phù hợp với Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bèn vưngc
giai đoạn 2016-2020), trong đó giữ nguyên mục tiêu đào tạo nghề và giải quyết việc làm
mới như Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đã đề ra và bổ sung thêm mục tiêu:
"nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 58,6%" đến năm 2020.
19
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO CHÍNH SÁCH
VIỆC LÀM CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN TỪ NAY ĐẾN
2020 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
Giải quyết vấn đề lao động – việc làm đối với đồng bào dân tộc tỉnh Điện Biên
phải đi đôi với cơ cấu lại nguồn lực lao động toàn tỉnh, phục vụ tốt yêu cầu từng bước
tái cấu trúc lại nền kinh tế theo mô hình năng suất cao, tăng trưởng nhanh và bền vững.
Đồng thời, phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp cơ bản và hữu hiệu sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện chính sách pháp luật về việc làm cho đồng bào dân tộc
tỉnh Điện Biên phù hợp với đặc điểm thực tiễn của tỉnh, tạo khung pháp lý phù hợp, bảo
đảm đối xử bình đẳng giữa người sử dụng lao động và người lao động. Đồng thời cần
gắn kết chính sách việc làm với chính quá trình và kế hoạch tổng thể về tái cấu trúc kinh
tế theo hướng hiện đại và phát triển bền vững. chủ động phát triển có tổ chức các thị
trường lao động có nhiều tiềm năng, ổn định và hiệu quả kinh tế cao, nhất là thị trường
lao động chất lượng cao về kinh tế nông nghiệp, công nghệ thông tin và xuất khẩu lao
động. Cụ thể là: thực hiện đúng các quy định của Luật lao động, tiền lương tối thiểu,
bảo hiểm lao động, xuất khẩu lao động, pháp lệnh đình công; khắc phục tình trạng bất
hợp lý với người lao động làm thuê trong các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài,
kể cả một số doanh nghiệp trong nước như hiện nay, người lao động phải được quyền
hưởng lương đúng với số lượng và chất lượng lao động họ đã bỏ ra, phải được bảo đảm
về chỗ ở và những điều kiện môi trường lao động, an sinh khác theo đúng luật pháp.
Hai là, chính sách việc làm phải phát huy được các nguồn lực của xã hội vào việc
tạo việc làm và đảm bảo việc làm. Tăng cường huy động các nguồn vốn của doanh
nghiệp và các tổ chức cho đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề người lao động. Thực
hiện các cơ chế, chính sách ưu đãi (gồm những giải pháp ưu đãi về thuế thu nhập doanh
nghiệp, hỗ trợ về đất đai và ưu đãi tín dụng, hỗ trợ về đào tạo nhân lực chất lượng cao
thuộc ngành nghề mũi nhọn) để khuyến khích mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư cho
đào tạo với các hình thức khác nhau như đặt hàng với các cơ sở đào tạo, tự tổ chức đào
tạo nhân lực trong doanh nghiệp và thành lập các cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp để
20
đào tạo nhân lực cho bản thân doanh nghiệp và cho xã hội. Huy động các nguồn vốn
của dân để đầu tư xây dựng cơ sở đào tạo, tổ chức các loại quỹ khuyến học, khuyến tài...
Ba là, sớm bổ sung các chính sách việc làm mới, trong đó đặc biệt chú ý phát
triển nguồn nhân lực trình độ cao trong các ngành, lĩnh vực quan trọng, có ý nghĩa quyết
định đến hiệu quả tăng trưởng kinh tế cao, như kinh tế nông nghiệp sử dụng công nghệ
cao, công nghệ thông tin và xuất khẩu lao động có kỹ thuật, cũng như khai thác tốt đội
ngũ lao động từ nước ngoài trở về nước sau khi kết thúc hợp đồng lao động ở nước
ngoài. Mặt khác, cần tạo môi trường áp lực cao để người lao động khắc phục ảnh hưởng
của lao động trong nền sản xuất nhỏ, tiểu nông, manh mún, được học tập và rèn luyện,
được quản lý theo mục tiêu bảo đảm chất lượng đào tạo và gắn với nhu cầu của xã hội.
Bốn là, phát triển mạnh khu vực dân doanh, trước hết là phát triển các doanh
nghiệp vừa và nhỏ để nhanh chóng tạo ra việc làm và khả năng thu hút lao động vào sản
suất. Đặc biệt coi trọng phát triển kinh tế dịch vụ, công nghiệp chế biến nông sản, khôi
phục và phát triển các làng nghề thủ công mỹ nghệ sản xuất sản phẩm cho tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu để tận dụng lao động dư thừa và lao động có ngành nghề
truyền thống của tỉnh. Trên cơ sở đó, tạo điều kiện thúc đẩy thị trường lao động trong
nông nghiệp và thị trường xuất khẩu lao động ngày càng phát triển cao hơn nữa.
Năm là, chính quyền cùng các doanh nghiệp quan tâm đào tạo công nhân có trình
độ cao, trình độ lành nghề, trình độ văn hóa đối với lao động trẻ, nhất là ở khu vực nông
thôn để cung ứng cho các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu du lịch,
dịch vụ và xuất khẩu lao động đang có nhu cầu thu hút mạnh. Tập trung xử lý lao động
dôi dư trong các doanh nghiệp nhà nước theo hướng chuyển đổi ngành nghề cho họ.
Khắc phục tình trạng "đóng băng” trong đổi mới cơ cấu lao động làm ảnh hưởng tới sự
phát triển đa dạng và chiều sâu của nền kinh tế trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Chuyển mạnh các đơn vị sự
nghiệp cung cấp các dịch vụ công sang đơn vị tự chủ, tự chịu trách nhiệm và thực hiện
chế độ hợp đồng lao động để lao động khu vực này có điều kiện tham gia vào thị trường
lao động trong nước và ngoài nước, nâng cao hiệu quả của lao động.
21
Sáu là, mở rộng và phát triển thị trường lao động ngoài nước. Đây là một trong
những thế mạnh của lao động nước ta về số lượng đông và trẻ. Vì vậy phải tập trung
đào tạo ngoại ngữ, pháp luật cho lao động xuất khẩu, nhất là thanh niên nông thôn để
tạo điều kiện cho họ tiếp cận được với thị trường lao động của nhiều nước trên thế giới,
đặc biệt là với những nước có trình độ phát triển cao và đang có nhu cầu thu hút lao
động cho các ngành nghề sản xuất.
Bẩy là, mở rộng và nâng cấp hệ thống dạy nghề cho người lao động ở 3 cấp trình
độ (sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề). Cần mở rộng đào tạo và đào tạo lại
số lao động nước ta để có cơ cấu hợp lý ở 3 trình độ như trên. Có như vậy mới đáp ứng
được nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động trong những năm tới. Trong đào tạo và
đào tạo lại cần chuyển sang đào tạo theo định hướng nhu cầu lao động của thị trường
(đào tạo gắn với sử dụng, gắn với nhu cầu của sản xuất) tạo khả năng cung cấp lao động
có chất lượng cao về tay nghề và sức khỏe tốt, có kỹ thuật, tác phong công nghiệp, có
văn hóa ... cho thị trường trong nước và thị trường ngoài nước.
Tám là, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi phát
triển sản xuất, tạo việc làm, chính sách hỗ trợ học nghề, hỗ trợ người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, ưu tiên cho người nghèo, người dân tộc thiểu
số thuộc các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn. Tiếp tục thực hiện
chiến lược, các chương trình, đề án về việc làm và dạy nghề, khẩn trương nghiên cứu
xây dựng chương trình việc làm cho người thất nghiệp, thiếu việc làm.
Để việc triển khai dạy nghề, học nghề có hiệu quả kinh tế thực sự, tránh hình
thức và lãng phí xã hội trong quá trình triển khai các đề án đào tạo nghề, cần bảo
đảm đầu tư đủ mức, đúng đối tượng theo yêu cầu dạy và học nghề, trong đó chú
trọng đến công tác đào tạo nghề phi nông nghiệp. Mặt khác, cần tăng cường công
tác tuyên truyền, linh hoạt và thiết thực về nội dung và phương thức đào tạo nghề,
gắn với thực tế đối tượng học nghề, cũng như gắn với chương trình việc làm cụ thể
của mỗi địa phương, để các đối tượng lao động không bị lúng túng trong việc xác
định nghề học, sắp xếp thời gian học. Hơn nữa, cần chú ý dạy nghề theo hướng tạo
22
việc làm tại chỗ, trong đó có đáp ứng nhu cầu phát triển nông nghiệp công nghệ
cao, hoặc thúc đẩy quá trình tái cấu trúc toàn diện kinh tế và xã hội miền núi, để
người lao động sống ở nông thôn sau khi tốt nghiệp các khóa đào tạo nghề có thể
tăng khả năng và chủ động tìm kiếm, tạo lập công việc, thu nhập ngay tại quê nhà,
không phải đi xa, giảm bớt áp lực quá tải, phi kinh tế lên các đô thị.
23
KẾT LUẬN
Trên cơ sở lý luận của Triết học Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa
bản chất và hiện tượng, Đề tài Chính sách giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc ở
tỉnh Điện Biên từ góc nhìn cặp phạm trù Bản chất – Hiện tượng, thực trạng và giải pháp
đã đánh giá khái quát thực trạng chính sách giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc ở
tỉnh Điện Biên từ năm 2015 đến nay với những kết quả đạt được và những khó khăn,
tồn tại, hạn chế. Đề tài cũng đã tìm ra nguyên nhân đạt được thành tựu cũng như lý do
dẫn đến những tồn tại, hạn chế. Từ đó trên cơ sở quan điểm định hướng chung và mục
tiêu, chỉ tiêu thực hiện của Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn 2016 - 2020, đề xuất một số
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc ở tỉnh
Điện Biên thời gian tới, góp phần thực hiện thành công mục tiêu của Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ tỉnh Điện Biên lầ thứ XIII nhiệm kỳ 2015-2020: "Phấn đấu xây dựng Điện
Biên thành tỉnh phát triển trung bình trong vùng trung du và miền núi phía Bắc" [Văn
kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XIII, Nxb Điện Biên Phủ, 2015,
tr.121]./.
24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Điện Biên, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng
bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XIII, Nxb Điện Biên Phủ, Điện Biên, năm 2015.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo ( 2015), Giáo trình Triết học (Dùng cho đào tạo
trình độ thạc sĩ, tiến sĩ các ngành khoa học xã hội và nhân văn không
chuyên nhành triết học), Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VII, NXB Sự thật, Hà Nội.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và
hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm – ban
chấp hành trung ương khoá XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận –
thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
12. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2016.
13. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, H.2002.t8.
25
14. Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 18/11/2011 của Ban chấp hành Đảng bộ
tỉnh Điện Biên về chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn
2011-2015, định hướng đến năm 2020.
15. Quyết định số 1440/QĐ-UBND ngày 15/11/2016 phê duyệt Chương trình
giảm nghèo bền vững tỉnh Điện biên, giai đoạn 2016-2020.
16. Quyết định số 15/2017/QĐ-UBND ngày 21/7/2017 của UBND tỉnh Điện
Biên ban hành quy định thực hiện chính sách hỗ trợ tiền vé xe cho lao động
của tỉnh Điện Biên đi sơ tuyển, đi làm việc có tổ chức tại các doanh nghiệp,
khu công nghiệp ngoài tỉnh
17. Quyết định số 853/QĐ-UBND ngày 01/7/2016 của UBND tỉnh Điện Biên
về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Đề án "Đào tạo nghề cho lao
động nông thôn tỉnh Điện Biên đến năm 2020" ban hành kèm theo Quyết
định số 1409/QĐ-UBND ngày 25/11/2010 của UBND tỉnh Điện Biên.
18. Quyết định số 1386/QĐ-UBND ngày 25/12/2015 của UBND tỉnh Điện Biên
về việc giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và vốn đầu tư phát
triển nguồn cân đối ngân sách địa phương năm 2016 tỉnh Điện Biên.
19. Quyết định số 1527/QĐ-UBND ngày 10/12/2016 của UBND tỉnh Điện
Biên về việc giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo
quốc phòng an ninh năm 2017 tỉnh Điện Biên.
20. Quyết định số 1220/QĐ-UBND ngày 09/12/2017 của UBND tỉnh Điện
Biên về việc giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo
quốc phòng an ninh năm 2018 tỉnh Điện Biên.
21. Quyết định số 1168/QĐ-UBND ngày 12/10/2018 của UBND tỉnh Điện
Biên về việc giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo
quốc phòng an ninh năm 2019 tỉnh Điện Biên.
22. Tổng quan về Điện Biên, http://www.dienbien.gov.vn.
________________________________________________
26
Download