11 tro choi bo tro tieng anh

advertisement
11 TRÒ CHƠI Bổ TRợ HọC TIếNG ANH
Những trò chơi này nhằm giúp cho những tiết dạy Ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh thêm
phần sinh động nhằm tạo sự lôi cuốn cho mỗi người học lẫn giáo viên.
GIÁO VIÊN – NGƯỜI QUẢN TRÒ
I. QUẢN TRÒ LÀ AI?
Quản trò là người điều hành, tổ chức trò chơi nhỏ. Quản trò là một vấn đề của khoa học
và nghệ thuật. Khoa học ở chỗ người quản trò phải có đủ khả năng để nắm bắt đối tượng
để tác động một cách tích cực đến người chơi tạo ra một giá trị định hướng về giáo dục trí
tuệ, thể chất và tính cách của con người. Quản trò phải thấu hiểu giá trị mà trò chơi mang
lại và nghiên cứu một cách sâu sắc những giá trị đó đối với đời sống sinh hoạt của mọi
người. Nghệ thuật ở chỗ biết khai thác các giá trị đó theo một tuần tự nhất định, phải tự
rèn luyện hoàn thiện mình ở lĩnh vực chức năng, ở phong cách, ở cách sống để có thể gần
gũi, tác động đến đối tượng từ những trò chơi đa dạng. Chính vì thế khi trò chơi diễn ra
thành công hay thất bại phần lớn lệ thuộc vào tài năng, bản lĩnh khéo léo của người làm
quản trò.
II. NHỮNG ĐIỀU CẦN THIẾT CỦA NGƯỜI QUẢN TRÒ
1. NHỮNG ĐIỀU CẦN CÓ
- Tính sư phạm: trò chơi là hình thức giáo dục cho nên người quản trò phải biết qua trò
chơi mà trang bị cho đối tượng mình điều gì, ngoài ra còn có tính công minh, thuyết phục
mọi người qua từng cử chỉ, hành vi của mình cũng như cách mời gọi sự tham gia nhiệt
tình.
- Tính phán đoán và quan sát nhanh: để ứng xử kịp thời các tình huống để trò chơi diễn ra
thành công.
- Biết nhiều trò chơi, biết sáng tạo, sáng tác trò chơi.
- Hoạt động rèn luyện thường xuyên.
- Một số đặc điểm khác như: giọng nói to, rõ, biết nói ngắn gọn, nói đùa, tự chủ, kiên
nhẫn, hoạt bát…
- Luôn nhớ: Mang theo một cuốn từ điển để kiểm tra từ vựng Tiếng Anh, tránh nhầm
lẫn.
2. NHỮNG ĐIỀU CẦN TRÁNH
- Tổ chức trò chơi từ dễ đến khó, không nên thực hiện ngược điều đó.
- Phạt là cách nhắc nhở nhau đồng thời động viên người chơi cố gắng hơn nên hình phạt
nhẹ nhàng, tế nhị…tránh trở thành nhục hình.
- Lúc chơi, mọi người đều bình đẳng. Không thiên vị theo giới tính hoặc cố tình bắt phạt
một ai.
- Tránh tổ chức những trò chơi khi mình không đủ hoặc không vững kiến thức về nội
dung trò chơi đó.
3. QUY TRÌNH MỘT TRÒ CHƠI SINH HOẠT TẬP THỂ
Bước 1: Ổn định
Tạo sự tập trung, chú ý.
Bước 2: Giới thiệu trò chơi
Có thể lồng vào các câu chuyện hoặc ý nghĩa của trò chơi.
Bước 3: Hướng dẫn cách chơi – Luật chơi
Linh động hướng dẫn làm sao cho dễ hiểu.
Bước 4: Chơi thử
Rất quan trọng nhưng không quá lạm dụng hoặc sơ sài.
Bước 5: Chơi thật sự
Linh hoạt, khéo léo, không quá nguyên tắc cứng nhắc làm mất không khí sinh
hoạt. Không bắt ép, động viên sự tham gia của mọi người.
Bước 6: Kết thúc đúng lúc
Tạo sự luyến tiếc cho lần chơi sau, đừng gây sự nhàm chán, ngán chơi.
Bước 7: Thực hiện hình phạt
Nhẹ nhàng, thoải mái, dễ thực hiện, tránh sự thô bạo hay kéo dài thời gian phạt.
Bước 8: Tổ chức rút kinh nghiệm
Đánh giá ưu khuyết điểm của trò chơi, về luật lệ hay cách chơi để rút ra kinh nghiệm cho
bản thân và mọi người.
III. KHI NÀO NGƯỜI GIÁO VIÊN TRỞ THÀNH NGƯỜI QUẢN TRÒ?
Là một giáo viên hẳn bạn rất khó chịu khi mỗi lần nhìn xuống lớp thấy sinh viên của
mình uể oải không tập trung vào bài giảng của mình. Có thể từ nguyên nhân khách quan
như khí hậu, thời tiết theo mùa cũng có thể do chủ quan như do bài giảng không sinh
động, giáo viên giảng không hay, học sinh chán học thích nói chuyện… hay đơn giản chỉ
là cơn đói đang đến.
Vì vậy một số trò chơi Tiếng Anh sẽ bổ trợ cho công việc giảng dạy ngoại ngữ của bạn
đồng thời sẽ dễ dàng gây hứng thú học tập trở lại hơn ở sinh viên mà không cần phải sử
dụng đến những bài “Thánh ca muôn thuở” hoặc những hình phạt đe doạ. Người giáo
viên sẽ khéo léo thực hiện chúng vào đầu buổi học hoặc vào thời gian cuối buổi học để
tạo sự hứng khởi cho việc học tập.
Việc đạt hiệu quả giáo dục “Học mà chơi – Chơi mà học” bảo đảm an toàn, đoàn kết, vui
vẻ thật sự cho người tham gia nhiều khi còn khó hơn kể một câu chuyện hấp dẫn hoặc lên
lớp giảng bài. Vì thế người giáo viên muốn đạt được hiệu quả cao nhất phải có tấm lòng
nhiệt tình, có sự hiểu biết về tâm sinh lý từng lứa tuổi, phải không ngừng học tập, rèn
luyện và trau dồi kinh nghiệm sử dụng trò chơi làm công cụ giáo dục trong sự nghiệp
“Trăm năm trồng người” cho đất nước.
TRÒ CHƠI 1: “UP – DOWN – RIGHT – LEFT”
* Mục đích giải trí: rèn luyện sự nhanh nhạy, phản xạ tốt
* Mục đích giáo dục: luyện khả năng nghe về trạng từ chỉ nơi chốn
* Số lượng người tham gia: Cả lớp
* Địa điểm: Trong lớp, hội trường
* Thời gian: 3 – 5 phút
* Cách chơi: Tương tự trò “DÀI – NGẮN – CAO – THẤP”
Giáo viên phổ biến trò chơi gồm 4 động tác: Chỉ tay lên trời (UP), chỉ tay xuống đất
(DOWN), chỉ tay sang phải (RIGHT), sang trái (LEFT) và yêu cầu sinh viên làm theo lời
hướng dẫn mà không làm theo hướng tay chỉ của giáo viên. Lần đầu giáo viên vừa làm
đúng như vậy vừa hô để tạo cho sinh viên làm quen với định hướng và từ vựng.
Sau đó giáo viên bắt đầu hô một đường nhưng chỉ một nẻo. Ví dụ như hô “Right” nhưng
tay lại chỉ lên trời. Sinh viên vừa hô “Right” theo vừa nhìn giáo viên nhưng không làm
theo hướng lên trời mà phải chỉ tay qua bên phải. Nếu sinh viên nào không hô hoặc tay
chỉ khác hướng phải thì bị bắt phạt.
Lưu ý:
- Hô bất kỳ chứ không theo thứ tự “Up – Down – Right – Left” tránh cho sinh viên làm
theo một cách thụ động, nhàm chán.
- Bắt phạt những sinh viên không nhìn vào quản trò, nhìn đi chỗ khác, nhắm tịt mắt, đưa
sai hướng, đưa rụt tay nhiều lần, không hô theo.
- Hình thức phạt: Mỗi người bị phạt phải nhái giọng một con vật bất kỳ, không lặp lại.
TRÒ CHƠI 2: “ODD OR EVEN”
* Mục đích giải trí: rèn luyện sự nhanh nhạy, phản xạ tốt
* Mục đích giáo dục: luyện khả năng nghe về chữ số chẵn lẽ
* Số lượng người tham gia: Cả lớp
* Địa điểm: Trong lớp, hội trường
* Thời gian: 3 – 5 phút
* Cách chơi:
Giáo viên sẽ hô chữ số bằng Tiếng Anh từ một đến mười và yêu cầu sinh viên đưa 2 tay
lên cao. Nếu số chẵn thì vỗ 2 tay còn số lẽ thì giữ nguyên. Lần đầu giáo viên vừa hô vừa
vỗ tay đúng để tạo cho sinh viên làm quen với cách vỗ tay đúng và nghe được chữ số.
Sau đó giáo viên bắt đầu hô chầm chậm rồi nhanh dần. Những số chẵn: Two, Four, Six,
Eight sẽ vỗ tay còn không thì không vỗ. Nếu sinh viên nào làm sai sẽ bị bắt phạt. Linh
động chuyển chữ số lẽ thì vỗ tay, chữ số chẵn thì không vỗ giúp cho sinh viên tránh sự
nhàm chán.
Lưu ý:
- Bắt phạt những sinh viên làm chậm, vỗ nhỏ, đưa rụt tay nhiều lần.
- Hình thức phạt: Mỗi người bị phạt phải cười một giọng cười, không cười lặp lại.
TRÒ CHƠI 3: “PRESENT – PAST – PAST PARTICIPLE”
* Mục đích giải trí: rèn luyện sự nhanh nhạy, phản xạ tốt
* Mục đích giáo dục: luyện khả năng nhớ các động từ Tiếng Anh
* Số lượng người tham gia: 15 người ( hoặc hơn nhưng chia hết cho 3)
* Địa điểm: Trong lớp, hội trường
* Thời gian: 10 – 15 phút
* Cách chơi:
Giáo viên xếp các bạn thành hàng ngang rồi hướng dẫn cách chơi. Bạn đầu tiên sẽ đọc
lên một động từ Tiếng Anh ở thì hiện tại với điều kiện là động từ đó phải có quá khứ
phân từ. Bạn thứ 2 cạnh bên sẽ đọc động từ đó ở thì quá khứ, bạn thứ 3 sẽ đọc động từ đó
ở thì quá khứ phân từ. Tiếp tục với các bạn tiếp theo. Nếu sinh viên nào đọc sai hoặc đọc
động từ mà không có quá khứ phân từ sẽ bị bắt phạt.
Lưu ý:
- Những bạn bị phạt sẽ đứng xuống sau, bạn bên cạnh tiếp theo sẽ tiếp tục đọc một động
từ mới.
- Bắt phạt những sinh viên đọc chậm, nhỏ, đọc lặp lại những động từ đã được các bạn
trước đọc.
- Hình thức phạt: Mỗi người bị phạt phải đọc động từ mà mình bị mắc lỗi 20 lần to, rõ
ràng.
TRÒ CHƠI 4: "REPEAT AFTER ME”
* Mục đích giải trí: rèn luyện sự ghi nhớ, phản xạ tốt, rèn tính tự tin.
* Mục đích giáo dục: luyện khả năng nhớ các số Tiếng Anh
* Số lượng người tham gia: 02 người/ đợt.
* Địa điểm: Trong lớp, hội trường
* Thời gian: 7 – 10 phút
* Cách chơi:
Chia lớp ra thành 8 đội, mỗi đội cử ra một người có khả năng Anh văn cũng như khả
năng nhớ tốt. 8 bạn đại diện 8 đội sẽ bốc thăm chia cặp thi đấu trực tiếp. Mỗi đợt thi đấu
2 người loại 1 để cuối cùng chọn ra bạn đại diện xuất sắc nhất.
Giáo viên xếp 2 bạn thành hàng ngang rồi hướng dẫn cách chơi. Hai bạn sẽ bị bịt mắt
quay về phía khán giả. Giáo viên sẽ sử dụng bảng đen để biểu hiện số.
Bước 1: Ghi 1 chữ số bất kỳ lên bảng, đọc cho cả lớp nghe rồi yêu cầu bạn đội A lặp lại
trước, bạn đội B lặp lại sau. Nếu cả 2 đều lặp lại được thì tiếp tục bước sau.
VD: ghi số “1” rồi đọc “One” và yêu cầu 2 bạn A đến B tuần tự đọc lại.
Bước 2: Ghi 2 chữ số lên bảng bao gồm chữ số đã đọc đầu tiên và số tiếp theo bất kỳ, đọc
cho cả lớp nghe rồi yêu cầu bạn đội B lặp lại trước, bạn đội A lặp lại sau. Nếu cả 2 đều
lặp lại được thì tiếp tục bước sau.
VD: Tiếp tục ghi số “17” rồi đọc “One – Seven” và yêu cầu 2 bạn B đến A tuần tự đọc
lại.
Bước 3: Ghi 3 chữ số lên bảng bao gồm 2 chữ số đã đọc trước đó và số tiếp theo bất kỳ,
đọc cho cả lớp nghe rồi yêu cầu bạn đội A lặp lại trước, bạn đội B lặp lại sau. Nếu cả 2
đều lặp lại được thì tiếp tục bước sau. Nếu một trong hai bạn không lặp lại được thì người
thắng sẽ được vào vòng trong. Trường hợp cả 2 người đều không lặp lại được thì giáo
viên đọc lại một lần nữa cho cả hai nhớ và đọc lại.
VD: Tiếp tục ghi số “173” rồi đọc “One – Seven – Three” và yêu cầu 2 bạn A đến B tuần
tự đọc lại.
Tiếp tục ghi 4 số và tiếp tục nhiều hơn cho đến khi nào chọn được người thắng cuộc.
…
Lưu ý:
- Động viên những bạn thua cuộc bằng một tràng pháo tay của cả lớp.
- Đề nghị các bạn ngồi dưới giữ yên lặng để các thí sinh tập trung, những ai nhắc nhở
hoặc làm mất tập trung của các thí sinh sẽ xử thua đội của thành viên đó.
- Luân phiên yêu cầu bạn đội A hoặc đội B đọc trước để tránh một đội luôn phải đọc
trước còn đội kia thì được đọc sau.
- Nhắc nhở các thí sinh tự tin, không nghe kết quả đọc của đối phương mà tin vào kết quả
nhớ của bản thân.
- Các thí sinh phải đọc to, rõ ràng, mạch lạc, ấp úng quá 10 giây sẽ bị xử thua.
- Thưởng cho người thắng cuộc một phần thưởng có giá trị và những tràng pháo tay giòn
tan.
TRÒ CHƠI 5: “START WITH THE TAGS”
* Mục đích giải trí: rèn luyện sự phản xạ nhanh nhạy
* Mục đích giáo dục: luyện kỹ năng viết từ vựng Tiếng Anh
* Số lượng người tham gia: 02 người/ đợt.
* Địa điểm: Trong lớp, hội trường
* Thời gian: 7 – 10 phút
* Cách chơi:
Chia lớp ra thành 8 đội, mỗi đội cử ra một người có nhanh nhạy cũng như khả năng viết
tốt. 8 bạn đại diện 8 đội sẽ bốc thăm chia cặp thi đấu trực tiếp. Mỗi đợt thi đấu 2 người
loại 1 để cuối cùng chọn ra bạn đại diện xuất sắc nhất.
Giáo viên xếp 2 bạn quay mặt lên bảng. Mỗi người mỗi viên phấn để viết chữ lên bảng.
Giáo viên đọc động từ đầu tiên, bạn A viết động từ đó lên bảng, bạn B đứng đằng sau bạn
A. Chờ khi bạn A viết xong, bạn B phải tiếp tục ghi động từ tiếp theo được bắt đầu bằng
từ cuối của động từ trước đó. Cứ thế tiếp tục cho đến khi nào một trong hai thí sinh không
thể tiếp tục ghi động từ nào nữa thì thua cuộc.
Ví dụ: Giáo viên đọc to :”Go”
A sẽ ghi “go” lên bảng. B sẽ tiếp tục ghi “open” chẳng hạn. A tiếp tục ghi “need”. B phải
tiếp tục ghi động từ tiếp theo được bắt đầu bằng chữ “d”.
Cuộc chơi sẽ kết thúc khi một trong hai thí sinh không thể tìm ra động từ tiếp theo.
Cứ tiếp tục chơi loại trực tiếp cho đến khi chọn ra được người chơi giỏi nhất.
Lưu ý:
- Động từ phải luôn ở thể nguyên mẫu, không sử dụng quá khứ hay quá khứ phân từ.
- Đề nghị các bạn ngồi dưới giữ yên lặng để các thí sinh tập trung, những ai nhắc nhở
hoặc làm mất tập trung của các thí sinh sẽ xử thua đội của thành viên đó.
- Các bạn tham gia ghi động từ không có ý nghĩa, lặp lại động từ đã ghi, ghi chậm hoặc
ghi sai động từ… sẽ bị xử thua.
- Nhắc nhở các thí sinh tự tin, viết không được tẩy xoá nhiều lần.
TRÒ CHƠI 6: “THE GOD SAID…”
* Mục đích giải trí: rèn luyện sự phản xạ nhanh nhạy
* Mục đích giáo dục: luyện kỹ năng nghe Tiếng Anh
* Số lượng người tham gia: Cả lớp
* Địa điểm: Trong lớp, hội trường
* Thời gian: 7 – 10 phút
* Cách chơi:
Giáo viên giải thích về từ ngữ “The God said…” nghĩa là “Thượng đế bảo rằng…” điều
đó có nghĩa là buộc mọi người phải làm theo Người, ai không làm theo sẽ bị quyền lực
tối cao của Thượng Đế trừng phạt.
Giáo viên hướng dẫn mọi hoạt động của sinh viên qua việc yêu cầu sinh viên làm theo lời
hướng dẫn bằng Tiếng Anh kèm với hành động của mình. Tuy nhiên những yêu cầu được
bắt đầu bằng chữ “The God said…” thì sinh viên mới thực hiện còn không có chữ đó thì
không làm theo lời yêu cầu. Nếu ai không làm theo yêu cầu khi có lệnh của “The God
said…” hoặc không có lệnh đó mà vẫn cứ làm thì bị phạt.
Ví dụ: Giáo viên hô “The God said…Raise your hands!” thì mọi người cùng đưa tay lên.
Giáo viên vừa tiếp tục hô “The God said…Clap your hands!” vừa vỗ tay thì mọi người
cùng hô tay theo. Giáo viên đánh lừa bằng cách hô “Clap again!” và cũng vỗ tay theo.
Nếu ai vỗ tay theo cùng là bị bắt phạt bởi yêu cầu này không có câu “The God said…”.
Cứ như vậy tiếp tục cho đến khi bắt được đủ số lượng người bị phạt.
Lưu ý:
- Mới bắt đầu chơi nên cho chơi thử, đọc hành động chậm rồi đến nhanh dần. Vừa đọc
vừa làm theo để mọi người có thể dễ hiểu ý nghĩa Tiếng Anh của câu lệnh đó là gì.
- Hô to, rõ, chọn các hành động phải có cách đọc dứt khoát như “Stand up”, “Sit down”,
“Touch your head”, “Close your eyes”…
- Bắt phạt những sinh viên làm theo yêu cầu chậm, không dứt khoát.
- Nên sử dụng những mẹo lừa như “Kiss your friends”, “Game is over”, “Open your
mouths” mà không sử dụng kèm câu “The God said…” để dụ khị bắt phạt những người
chơi manh động.
- Hình thức phạt: Những người phạt phải hát một bài đồng ca Tiếng Anh. Ai không hát sẽ
có hình thức phạt tiếp như: Hôn tường, nhảy cóc theo bài “Con cóc”, nặn tượng…
TRÒ CHƠI 7: “IF I…”
* Mục đích giải trí: rèn luyện khả năng phán đoán, sáng tạo, tạo không khí vui tươi, thân
mật.
* Mục đích giáo dục: luyện kỹ năng viết từ vựng Tiếng Anh
* Số lượng người tham gia: Cả lớp.
* Địa điểm: Trong lớp, hội trường
* Thời gian: 10 – 15 phút
* Cách chơi:
Chia lớp ra thành 2 đội bằng nhau, thành viên mỗi đội sẽ lấy ra một tờ giấy nhỏ để viết
lên ước mơ của mình. Nếu số lượng nam nữ khá tương đối thì chia ra một phe nam và
một phe nữ. Thường thì các bạn nữ lãng mạn hơn nên sẽ cho ghi phần “If I…” còn phần
còn lại sẽ được các bạn trai lạnh lùng kết thúc.
Đội A sẽ là đội của những người viết toàn những câu Tiếng Anh được bắt đầu bằng chữ
“If I…” có ý nghĩa đồng thời đội B sẽ là đội của những người viết toàn những câu Tiếng
Anh được bắt đầu bằng chữ “I will…”. Ở dưới mỗi câu phải ghi tên để bình chọn ra cặp
nào viết hay, có nghĩa nhất hoặc vui, hóm hỉnh nhất cũng như là câu dở nhất.
Sau khi viết xong, các tờ giấy sẽ được bỏ vào 2 chiếc mũ, một chiếc đựng phần “If I…”
và một đựng phần “I will…”.
Giáo viên sẽ lần lượt bốc 2 tờ ở 2 phần rồi đọc to cho mọi người nghe. Nếu hay thì để lại
cho thi vòng trong còn không có ý nghĩa thì loại.
Cuối cùng cả lớp sẽ chọn ra câu “If I…, I will…” nào hay nhất để trao giải. Nếu có nhiều
câu hay thì sẽ quyết định bằng cách giơ tay đánh giá của các bạn chơi.
Ví dụ:
Giáo viên chọn 2 tờ ở 2 phần mũ rồi
Đọc tờ 1 “If I am a bird”
Đọc tờ 2 “I will be a monkey!”
Câu này dù có ý nghĩa “Nếu tôi là chim thì tôi sẽ là một con khỉ” có thể bị loại nhưng có
thể cho vào vòng chung kết thì nó cũng có một chút trái khoáy, hóm hỉnh thú vị.
Lưu ý:
- Động từ ở vế đầu luôn được chia ở thì hiện tại đơn còn vế sau thì được chia ở thì tương
lai thường.
- Khuyến khích những câu có ý nghĩa ngộ nghĩnh, sự sáng tạo độc đáo.
- Nếu số lượng nam nữ không cân bằng thì cứ bốc 2 bên lần lượt cho đến khi hết cặp,
phần còn lại trong mũ sẽ huỷ.
- Các mẫu giấy phải có ghi tên ở dưới mỗi câu viết để chọn ra người đạt giải mà trao quà.
Trường hợp không có tên sẽ loại ngay từ đầu.
- Người quyết định cuối cùng vẫn là giáo viên tránh tình trạng mâu thuẫn trong cách
chấm của sinh viên.
TRÒ CHƠI 8: “ONE TWO DAD…!”
* Mục đích giải trí: rèn luyện khả năng nhanh nhẹn.
* Mục đích giáo dục: luyện kỹ năng nghe về chữ số Tiếng Anh
* Số lượng người tham gia: Cả lớp.
* Địa điểm: Trong lớp, hội trường
* Thời gian: 3 – 5 phút
* Cách chơi:
Giáo viên giải thích về cách chơi đếm số từ một đến mười bằng tiếng Anh. Tuy nhiên số
ba (3) thay vì được đọc là “Three” sẽ được thay thế bằng “Dad”, số năm (5) thay vì được
đọc là “Five” sẽ được thay thế bằng “Sleep” còn số chín (9) thay vì được đọc là “Nine” sẽ
được thay thế bằng “Day”.
Giáo viên hướng dẫn mọi người đọc qua một lần cho nhuần nhuyễn “One – Two – Dad –
Four – Sleep – Six – Seven – Eight – Day – Ten” rồi bắt đầu tiến hành chơi. Cách đếm sẽ
từ trái qua phải và đi theo hình chữ U nằm ngang cho đến cuối lớp. Để tăng sự hấp dẫn,
giáo viên nên chỉ vào một bạn bất kỳ và đọc một số bất kỳ để bạn bên cạnh đọc con số
tiếp theo. Bạn nào đọc nhầm lẫn hoặc chậm chạp sẽ bị phạt.
Cứ như vậy tiếp tục cho đến khi bắt được đủ số lượng người bị phạt.
Lưu ý:
- Học thuộc lòng số tiếp theo như:
. 19 = nineteen = dayteen
. 23 = twenty – three = twenty – dad
. 25 = twenty – five = twenty – sleep
. 29 = twenty – nine = twenty – day
. 33 = thirty – three = thirty – dad
. 35 = thirty – five = thirty – sleep
. 39 = thirty – nine = thirty – day
- Lượt đầu đọc chậm sau đó rồi tăng dần lên để tạo không khí sôi động. Đọc đến khoảng
40 nên trở lại từ đầu ở một vị trí bất kỳ để tránh cho sinh viên chuẩn bị tinh thần học
thuộc số.
- Những người chơi đọc nhầm, đọc sai, đọc khi chưa đến lượt đều bị phạt.
TRÒ CHƠI 9: “WHO YOU ARE?”
* Mục đích giải trí: rèn luyện khả năng phán đoán, hỏi đáp nhanh nhạy.
* Mục đích giáo dục: luyện kỹ năng nói và viết từ vựng Tiếng Anh
* Số lượng người tham gia: Cả lớp.
* Địa điểm: Trong lớp, hội trường
* Thời gian: 10 – 15 phút
* Cách chơi:
Giáo viên chọn 1 bạn nam hoặc nữ làm thám tử đi ra ngoài lớp rồi tiếp tục chọn một
người ngồi trong lớp giữ một vật gì đó làm báu vật (một túi kẹo nhỏ chẳng hạn). Sau đó
trở vào, thám tử sẽ ghi lên bảng từng câu hỏi rồi đọc to câu hỏi đó cho mọi người nghe
trong tư thế vẫn hướng lên bảng, không quay mặt xuống khán giả. Khi khán giả được hỏi,
nếu thám tử hỏi đúng thì khán giả vỗ tay còn nếu hỏi sai thì cùng lắc đầu và ồ lên thật to
để thám tử phán đoán.
Sau từng 5 câu hỏi bằng Tiếng Anh một của mình, thám tử sẽ quay lại và đi xuống khán
giả suy đoán ra người giữ báu vật đó.
Nếu tìm ra được người giữ báu vật thì sẽ lấy luôn báu vật và người bị mất báu vật sẽ ra
làm thám tử ngược lại không tìm ra thì về chỗ còn người được giữ báu vật thì giữ luôn
thể.
Tiếp tục giáo viên chọn cặp thám tử và người giữ báu vật mới cho đến khi hết báu vật.
Ví dụ:
Thám tử ghi từng câu lên bảng rồi đọc lớn cho cả lớp nghe:
Câu 1: She is a girl. ( Lắc đầu)
Ghi tiếp câu 2: He wears glasses. (Vỗ tay)
Ghi tiếp câu 3: He sits in my left hand. (Lắc đầu)
Ghi tiếp câu 4: He wears a T-shirt (Vỗ tay)
Ghi tiếp câu 5: His T – shirt is bright (Lắc đầu)
Sau khi hỏi 5 câu, người thám tử suy đoán ra rằng người giữ báu vật là một người con
trai, đeo kính cận, ngồi bên phía phải nơi đứng của mình và mang một chiếc áo sơ mi tối
màu. Cuối cùng đoán đó là bạn X nào đó trong lớp phù hợp với các tiêu chuẩn trên.
Lưu ý:
- Câu hỏi luôn ở thể khẳng định với một nội dung, không sử dụng câu đa nghĩa, câu phủ
định hay nghi vấn, có sự chọn lựa “…or…”.
- Khuyến khích những câu hỏi độc đáo, có tính loại trừ để suy đoán cao.
- Nếu thông tin bị lộ trước hay trong quá trình chơi thì sẽ chọn lại thám tử hoặc người giữ
báu vật.
TRÒ CHƠI 10: “READY TO COMPLETE ”
* Mục đích giải trí: rèn luyện sự phản xạ nhanh nhạy, dứt khoát
* Mục đích giáo dục: luyện kỹ năng viết từ vựng Tiếng Anh, suy đoán.
* Số lượng người tham gia: 02 người/ đợt.
* Địa điểm: Trong lớp, hội trường
* Thời gian: 7 – 10 phút
* Cách chơi:
Chia lớp ra thành 8 đội, mỗi đội cử ra một người có nhanh nhạy cũng như khả năng viết
tốt. 8 bạn đại diện 8 đội sẽ bốc thăm chia cặp thi đấu trực tiếp. Mỗi đợt thi đấu 2 người
loại 1 để cuối cùng chọn ra bạn đại diện xuất sắc nhất.
Giáo viên xếp 2 bạn quay mặt lên bảng. Mỗi người mỗi viên phấn để viết chữ lên bảng.
Giáo viên viết chữ đầu tiên lên bảng. Công việc của bạn đại diện đội A là viết thêm một
chữ tiếp theo liền sau, tiếp tục bạn đội B viết đằng sau chữ của đội A. Tiếp tục thay phiên
nhau cho đến khi nào một trong hai bạn kết thúc được chữ đó có nghĩa Tiếng Anh.
Nếu bạn A kết thúc chữ đó có nghĩa mà bạn B chấp nhận thì bạn A thắng cuộc ngược lại
khi bạn A không kết thúc được có thể yêu cầu bạn B kết thúc. Nếu bạn B kết thúc được là
thắng còn không thì bạn A thắng.
Ví dụ: Giáo viên ghi chữ đầu tiên : ”C”
A sẽ ghi tiếp “O” đằng sau chữ “C” thành “CO” (lúc này A định đưa B vào việc viết hoàn
thành chữ “COMPLETE” chẳng hạn.
B sẽ ghi tiếp “M” đằng sau chữ “CO” thành “COM” (lúc này B định đưa A vào việc viết
hoàn thành chữ “COMPUTER” chẳng hạn.
A sẽ ghi tiếp “F” đằng sau chữ “COM” thành “COMF” (lúc này A định đưa B vào việc
viết hoàn thành chữ “COMFORTABLY” chẳng hạn).
Tuy nhiên B đã đoán ra được chữ này vì vậy B sẽ ghi tiếp “O” đằng sau chữ “COMF”
thành “COMFO” (lúc này B cũng định đưa A vào việc viết hoàn thành chữ
“COMFORTABLE” để triệt A.
Tiếp tục A: viết thành “COMFOR”
B: viết thành “COMFORT”
A: viết thành “COMFORTA”
B: viết thành “COMFORTAB”
A: viết thành “COMFORTABL”
Lúc này B ghi thành “COMFORTABLY” và B sẽ là người thắng cuộc bởi đằng sau đó A
không thể thêm
được chữ gì nữa.
Như vậy bạn B đã thắng 1-0.
Tiếp tục chơi 3 ván như vậy, ai thắng trước 2 ván là thắng cuộc.
Sau khi loại trực tiếp sẽ chọn được 2 người chơi vào vòng chung kết. Ở vòng này sẽ thi
đấu 5 ván, ai thắng 3 ván trước là người dành vòng nguyệt quế.
Lưu ý:
- Các người chơi sẽ sử dụng mọi từ Tiếng Anh có nghĩa, không dùng từ viết tắt, từ tục,
thể tiếp diễn, thể quá khứ có “_ED”, từ cổ…
- Đề nghị các bạn ngồi dưới giữ yên lặng để các thí sinh tập trung, những ai nhắc nhở
hoặc làm mất tập trung của các thí sinh sẽ xử thua đội của thành viên đó.
- Mỗi thí sinh chỉ được suy nghĩ không quá 10 giây cho 1 chữ, quá thời gian đó sẽ bị xử
thua.
- Nhắc nhở các thí sinh tự tin, viết không được tẩy xoá bất cứ lần nào vì “Bút sa gà
chết”.
- Giáo viên là người ra chữ cái đầu tiên và đưa ra quyết định cuối cùng để phân xử.
TRÒ CHƠI 11: “WHATS THE JOB?”
* Mục đích giải trí: rèn luyện khả năng phán đoán
* Mục đích giáo dục: luyện kỹ năng chuyển tải ngôn ngữ bằng hành động
* Số lượng người tham gia: Cả lớp.
* Địa điểm: Trong lớp, hội trường
* Thời gian: 7 – 10 phút
* Cách chơi:
Giáo viên chia lớp ra thành 2 đội, mỗi đội cử năm bạn ra làm đại diện. Sau đó yêu cầu cả
2 đội lên đứng trên bục giảng. Trong tay của giáo viên có sẵn một hộp nhỏ đựng những
mảnh giấy nhỏ trong đó có ghi những nghề nghiệp được giải thích bằng Tiếng Anh. Đại
diện đầu tiên của đội A lên bốc một tờ, đọc qua mà rồi diễn tả cho đội của mình biết về
nghề nghiệp của mình bằng hành động mà không được diễn tả bằng lời nói. Cả đội phải
trả lời cho bạn đại diện biết đó là nghề gì trong 30 giây. Sau đó bạn đó sẽ trả lời với giáo
viên. Giáo viên sẽ là người đưa ra đáp án cuối cùng để cho biết đúng hay sai.
Tiếp tục với người đầu tiên của đội B. Sau đó là người thứ 2 của đội A cho đến người thứ
5 của đội B.
Mỗi câu trả lời đúng sẽ được 1 điểm. Sau khi chơi xong, tổng kết điểm xem đội nào có số
điểm nhiều hơn là thắng cuộc.
Ví dụ:
Đội A lên bốc trúng câu “A person who always solves the traffic jams”. Đại diện A sẽ
phải diễn tả hành động như là hua hua tay hướng dẫn người đi đường, ra lệnh xe phải
dừng lại…để trong thời gian 30 giây hoặc sớm hơn, đồng đội ngồi dưới sẽ bàn bạc và cho
ra kết quả: “Policeman/ Policewoman” để đại diện A biết. Công việc cuối cùng là người
đó thông báo với giáo viên kết quả như sau: “A person who always solves the traffic jams
is a policeman/ policewoman”.
Giáo viên sẽ là người đọc kết quả đúng hay sai và tiến hành cho điểm.
Lưu ý:
- Câu giải thích hơi lắt léo một chút để gây khó khăn cho việc suy đoán của người ngồi
dưới.
- Người đại diện sẽ là người thống nhất các ý kiến của đồng đội mình, tránh trường hợp
người đại diện nói sai kết quả của đám đông hoặc không diễn tả hành động của mình với
đám đông nhưng vẫn tự bản thân suy ra câu trả lời đúng.
- Khuyến khích sự bàn bạc thống nhất nhưng trong thời gian nhanh nhất.
- Nếu thông tin bị lộ trước hay trong quá trình chơi thì sẽ chọn lại nghề nghiệp khác.
- Tuyệt đối người đại diện không được thể hiện bằng lời nói, âm thanh. Trong khi đội này
đang diễn tả hành động thì đội kia không được có hành động cản trở, gây nhiễu, nhắc nhở
giùm. Nếu có thì phạt đội kia bằng cách nhắc nhở 3 lần là trừ một điểm thưởng.
- Người giáo viên là người ra quyết định cuối cùng, nên linh hoạt trong cách giải quyết
đối với những đáp án tương tự hoặc gần giống nhau.
- Khi đội A đoán trật vẫn khen ngợi “Xin một tràng pháo tay thật to cho đáp án trúng một
trăm phần…tỉ của đội A”, “Xin cho đội A một điểm (Cả đội A vỗ tay chí choé) …rồi sau
đó trừ lui hai điểm”, “Số điểm của đội A bây giờ được nâng lên thành 1 điểm (Cả đội A
vỗ tay hoan hỉ) …rồi tiếp tục hạ dần xuống còn không điểm” tạo sự bất ngờ vui tươi cho
trò chơi.
Download
Random flashcards
Arab people

15 Cards

Radioactivity

30 Cards

Nomads

17 Cards

Create flashcards